ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MA THỊ ĐIỆP NHỮNG QUAN NIỆM VÀ THỰC HÀNH TRONG
NGHI LỄ GIẢI HẠN CỦA NGƢỜI TÀY
Nghiên cứu trường hợp xã Nghĩa Đô, Huyện Bảo Yên, Tỉnh Lào Cai
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
MA THỊ ĐIỆP NHỮNG QUAN NIỆM VÀ THỰC HÀNH TRONG
NGHI LỄ GIẢI HẠN CỦA NGƢỜI TÀY
LỜI CẢM ƠN
Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu của bản
thân tôi ở Bộ môn Nhân học, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Hà Nội. Khi hoàn thành Luận văn, tôi muốn đƣợc gửi lời
cảm ơn chân thành nhất tới những ngƣời đã giúp đỡ tôi trong suốt thời gian
đầy thách thức nhƣng rất quan trọng với cuộc đời và sự nghiệp của tôi. Trƣớc
tiên, tôi xin đƣợc gửi tới PGS.TS Nguyễn Văn Sửu lời cám ơn chân thành và
sâu sắc nhất, cám ơn thầy đã hƣớng dẫn tôi tận tình trong quá trình hình thành
ý tƣởng, xây dựng đề cƣơng nghiên cứu, triển khai thu thập tài liệu và viết kết
quả nghiên cứu thành bản luận văn này.
Tôi cũng muốn đƣợc bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong Bộ môn
Nhân học, Trƣờng Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia
Hà Nội đã dạy tôi những tri thức khoa học và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành
Luận văn.
1.3. Các nghiên cứu về tín ngưỡng và nghi lễ của người Tày 14
1.4. An ninh con người 18
1.4.1. Khái niệm 18
1.4.2. Các nghiên cứu về an ninh con ngƣời 20
Tiểu kết chƣơng 1 22
Chƣơng 2. ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 24
2.1. Vùng đất và con người Nghĩa Đô 25
2.1.1. Vùng đất Nghĩa Đô 25
2.1.2. Các dân tộc cƣ trú ở Nghĩa Đô 29
2.2. Các dự án phát triển và sinh kế của người dân ở Nghĩa Đô từ những
năm 1990 đến nay 31
2.2.1. Sinh kế của ngƣời dân Nghĩa Đô từ những năm 1990 đến nay 31
2.2.2. Các dự án phát triển ở Nghĩa Đô từ những năm 1990 đến nay 34
2.3. Một vài nét chính về truyền thống văn hóa Tày ở Nghĩa Đô 38
2.3.1. Ngƣời Tày ở Việt Nam 38
2.3.2. Ngƣời Tày ở tỉnh Lào Cai và ở huyện Bảo Yên 43
2.3.3. Ngƣời Tày ở xã Nghĩa Đô 44 Tiểu kết chƣơng 2 46
Chƣơng 3. NGHI LỄ THEN GIẢI HẠN CỦA NGƢỜI TÀY Ở NGHĨA
ĐÔ: NHỮNG QUAN NIỆM VÀ THỰC HÀNH 47
3.1. Những quan niệm của người Tày Nghĩa Đô liên quan tới nghi lễ
Then giải hạn 47
3.1.1. Quan niệm về vũ trụ 47
3.1.2. Quan niệm về ma (phi), vía (khoăn), số phận (thổ), tƣớng mạo
(mình) 47
3.1.3. Nguyên nhân thực hành nghi lễ Then giải hạn 51
3.2. Thực hành trong nghi lễ Then giải hạn của người Tày ở Nghĩa Đô 55
3.2.1. Ngƣời thực hành nghi lễ giải hạn: Then 55
(Hỗ trợ phát triển chính thức)
PGS
Phó giáo sƣ
TS
Tiến sĩ
UBND
UNDP
UNICEF
Ủy ban nhân dân
United Nations Development Programme
(Chƣơng trình phát triển Liên Hợp Quốc)
United Nations International Childrens Emergency Fund
(Quỹ Nhi đồng Liên Hợp Quốc) DANH MỤC BẢNG BIỂU
diện đời sống vật chất và đời sống tinh thần. Thêm vào đó, con ngƣời ở các xã
hội khác nhau đã có thể lý giải đƣợc nhiều hiện tƣợng tự nhiên và xã hội vốn
trƣớc đây đƣợc coi là thần bí. Tuy nhiên, bên cạnh đó cũng có một thực tế
đƣợc công nhận đó là ở nhiều nơi con ngƣời vẫn không từ bỏ mà còn thậm chí
còn thực hành nhiều hơn các hành vi tôn giáo và tín ngƣỡng.
Ở Việt Nam, trong bối cảnh đổi mới với những tiến bộ đáng kể về mức
sống, khoa học và công nghệ, những thực hành tôn giáo và tín ngƣỡng ở
nhiều cộng đồng đô thị, nông thôn đồng bằng và miền núi vùng cao không bị
mất đi hay giảm sút, mà ngƣợc lại, lại càng hƣng thịnh và nở rộ mạnh mẽ hơn
trƣớc. Sự phục hồi này đƣợc một số nhà nghiên cứu giải thích là do sự trở lại
với truyền thống trong quá trình đổi mới kinh tế - xã hội ở Việt Nam sau một
thời gian các thực hành tôn giáo, tín ngƣỡng bị ngăn cấm trong thời kỳ nền
kinh tế tập trung bao cấp.
Ngƣời Tày là một dân tộc có số lƣợng dân cƣ đông nhất trong cộng đồng
53 dân tộc thiểu số ở Việt Nam. Giống với các dân tộc khác ở Việt Nam,
ngƣời Tày có những nét văn hóa truyền thống khá „riêng biệt‟ ở cả góc độ vật
chất và tinh thần. Từ những năm 1960 và 1970, ngƣời Tày đã đƣợc một số
nhà khoa học Việt Nam quan tâm nghiên cứu. Khảo sát tài liệu nghiên cứu
của tôi ở một số thƣ viện tại Hà Nội cho thấy có hơn 200 đầu sách, bài báo và
báo cáo khoa học liên quan đến dân tộc Tày ở Việt Nam. Trong số đó có
khoảng ¼ số công trình là các tác phẩm văn học, sƣu tầm và biên dịch từ các
câu chuyện cổ, truyện dân gian, các bài hát, bài lƣợn của ngƣời Tày do các tác
giả là ngƣời Tày thực hiện. Có khoảng hơn 160 tác phẩm là các công trình
nghiên cứu khoa học đề cập tới đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội của ngƣời
2
Tày. Trong số đó có 16 công trình viết về văn hóa vật chất, 105 công trình
viết về văn hóa tinh thần và 23 công trình viết về văn hóa xã hội, số còn lại là
các nghiên cứu về lịch sử và một số công trình mang tính tổng hợp chung
[10,49].
những nội dung tiếp theo triển khai ở nghiên cứu này, tôi dùng thuật ngữ “nghi lễ Then giải hạn”.
3
nghiên cứu nêu trên, tôi chọn một địa bàn cụ thể, đó là xã Nghĩa Đô ở huyện
Bảo Yên, tỉnh Lào Cai để tìm hiểu về thực tiễn quan niệm và thực hành nghi
lễ Then giải hạn của ngƣời Tày trong những năm vừa qua.
3. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Một số câu hỏi nghiên cứu quan trọng đặt ra ở đây là xuất phát từ những
nhận thức và quan niệm nào mà nghi lễ Then giải hạn đƣợc thực hành ở cộng
đồng ngƣời Tày. Tại sao ngƣời Tày ở Nghĩa Đô thực hành nghi lễ Then giải
hạn? Trong những trƣờng hợp nào thì ngƣời dân thực hành nghi lễ này? Ai là
ngƣời hành lễ? Những ai tham gia vào nghi lễ này? Để thực hành nghi lễ thì
phải chuẩn bị những gì? Các bƣớc tiến hành nghi lễ Then giải hạn? Nghi lễ
này có biến đổi ra sao trƣớc những biến đổi về kinh tế-xã hội ở cấp độ vi mô
và vĩ mô trong hơn mƣời năm qua? Những quan niệm và thực hành nghi lễ
Then giải hạn nhƣ thế thể hiện những nét văn hóa gì của ngƣời Tày?
4. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Nhƣ vậy, luận văn này giới hạn ở việc tìm hiểu và lý giải những quan
niệm và những thực hành nghi lễ Then giải hạn của ngƣời Tày ở một địa bàn
nghiên cứu cụ thể trong bối cảnh thời gian sau đổi mới ở Việt Nam.
5. NGUỒN TÀI LIỆU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trên cơ sở các mục tiêu nghiên cứu đã nêu, tôi triển khai nghiên cứu
này nhằm thu thập hai loại tài liệu nghiên cứu. Loại thứ nhất là kết quả nghiên
cứu (sách, báo, luận án, v.v.) đã đƣợc các nhà khoa học công bố về ngƣời
Tày, văn hóa Tày và đời sống tín ngƣỡng cũng nhƣ đời sống tâm linh của
ngƣời Tày ở Việt Nam. Loại tài liệu thứ hai quan trọng hơn đó là các tài liệu
dân tộc học do tôi thu thập đƣợc trong quá trình điền dã ở địa bàn nghiên cứu.
Quá trình điền dã của tôi ở địa bàn nghiên cứu đƣợc chia thành nhiều đợt
trong các năm 2010, 2011 và 2012, mỗi đợt kéo dài từ một đến hai tuần,
đƣợc tiến hành trong khuôn khổ nghiên cứu điền dã của Dự án nghiên cứu về
5
Chƣơng 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN NGƢỠNG VÀ NGHI LỄ CỦA
NGƢỜI TÀY
1.1 Một số vấn đề về các khái niệm cơ bản
Văn hóa tộc ngƣời
2
là một trong những khái niệm quan trọng của dân tộc
học và nhân học, bao quát các yếu tố về tiếng nói, chữ viết, sinh hoạt văn hóa
vật chất và văn hóa tinh thần, các sắc thái tâm lý và tình cảm, phong tục tập
quán của một tộc ngƣời. Vì thế, những đặc trƣng văn hóa tộc ngƣời thƣờng là
một trong những tiêu chí đƣợc sử dụng để phân biệt một tộc ngƣời với những
tộc ngƣời khác, đồng thời là sợi dây cố kết các thành viên trong một tộc ngƣời, qua
đó là cơ sở làm nảy sinh và duy trì ý thức tộc ngƣời [65, tr. 228-229].
Việt Nam là một quốc gia đa tộc ngƣời, với tổng số 54 tộc ngƣời, trong đó
có tới 53 tộc ngƣời đƣợc coi là các tộc ngƣời „thiểu số‟ (về mặt nhân khẩu) và
chỉ có một tộc ngƣời (Kinh) là „đa số‟ (về mặt nhân khẩu). Trong bối cảnh đó,
dân tộc Việt Nam và bản sắc văn hóa của Việt Nam đƣợc tạo dựng trên nền
tảng văn hóa của 54 tộc ngƣời sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam. Điều này tạo
nên tính thống nhất của dân tộc Việt Nam và văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên,
tính thống nhất về dân tộc và văn hóa này không chỉ là phép cộng đơn giản
giữa những tộc ngƣời có bản sắc văn hóa khác nhau hay không hoàn toàn
lƣợng siêu nhiên, những thứ chi phối, khống chế con ngƣời. Tôn giáo và tín
ngƣỡng là chất kết dính, tập hợp con ngƣời thành một tộc ngƣời (hoặc cộng
đồng) nhất định và phân định tộc ngƣời này với tộc ngƣời khác. Tất cả là
những niềm tin, thực hành và tình cảm liên quan đến tôn giáo và tín ngƣỡng
đều đƣợc sản sinh và tồn tại trong một môi trƣờng tự nhiên, xã hội và văn hóa
mà con ngƣời đang sống.
Nhƣ vậy, dù cả tôn giáo và tín ngƣỡng đều có ý nghĩa phản ánh những
niềm tin vào một hay nhiều thế lực siêu nhiên, hoặc hình thức cụ thể của tôn
giáo và tín ngƣỡng, song giữa hai khái niệm này có sự khác biệt, đƣợc thể
hiện rõ nhất về mặt hình thức biểu hiện, tổ chức, nhƣ tác giả Ngô Đức Thịnh
đã khái quát dƣới đây. 3
Quan điểm này đƣợc thể hiện rõ trong công trình nghiên cứu Về tôn giáo (1994) của các nhà khoa
học ở Viện Tôn giáo.
7
Bảng 1.1. Sự phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng
Tín ngƣỡng
Tôn giáo
Chƣa có hệ thống giáo lý, chỉ có các
huyền thoại, thần tích, truyền thuyết
Hệ thống giáo lý, kinh điển thể hiện
quan điểm vũ trụ và nhân sinh, truyền
thụ qua học tập ở các tu viện, thánh
đƣờng 8
Trong nghiên cứu này, tôi thiên về cách hiểu và sự phân biệt của tác giả
Ngô Đức Thịnh. Nhƣ vậy, tôn giáo và tín ngƣỡng là khác nhau ở nhiều mặt.
Tín ngƣỡng đƣợc hiểu nhƣ là một hình thức thể hiện niềm tin vào cái thiêng
của con ngƣời của một tộc ngƣời hay một cộng đồng. Cụ thể hơn, tín ngƣỡng,
nhƣ tác giả Mai Thanh Hải định nghĩa, là:
“l
̣
òng tin, sự ngƣỡng mộ, ngƣỡng vọng vào một lực lƣợng siêu nhiên
thần bí; lực lƣợng siêu nhiên đó có thể mang hình thức biểu tƣợng
“trời” “phật” “thần thánh” hay một sức mạnh hƣ ảo, huyền bí, vô hình
nào đó tác động đến đời sống tâm linh của ngƣời ta, đƣợc ngƣời ta tin
tƣởng có thật và tôn thờ” [68, tr. 14].
Trong nhiều tín ngƣỡng, nghi lễ là một thành tố quan trọng. Nghi lễ
4
là
những ứng xử giữa con ngƣời với con ngƣời, giữa con ngƣời với thiên nhiên,
đƣợc lặp đi lặp lại thành thói quen và đƣợc thể hiện thành những quy ƣớc
cuộc sống hàng ngày, trong mối quan hệ giữa xã hội với thiên nhiên, đƣợc xã
hội, cộng đồng ngƣời thừa nhận.
Trong thực tế, không phải mọi nghi lễ đều mang tính tôn giáo và tín
ngƣỡng (chẳng hạn nhƣ chào cờ buổi sáng thứ Hai ở các trƣờng học). Các
nghi lễ mang tính tôn giáo và tín ngƣỡng thƣờng liên quan đến việc liên hệ
với các thế lực siêu nhiên. Mặc dù rất đa dạng và phát triển theo nhiều cách
khác nhau, nghi lễ dù dƣới dạng thô mộc thời nguyên thủy hay phức tạp trong
nhà nhân học sử dụng thuật ngữ „nghi lễ‟ để bao hàm bất kỳ hành động nào có
mức độ chính thức cao và có mục tiêu không vụ lợi [26; tr. 23].
Từ điển Nhân học thì khẳng định:
“Nghi lễ là những hành động nghi thức diễn ra trong bối cảnh thờ cúng tôn
giáo - ví dụ một đại lễ Thiên chúa giáo hay một buổi hiến tế tổ tiên. Thông
thƣờng, các nhà nhân học sử dụng „nghi lễ‟ để nói về bất kỳ một hành động
nào có nhiều nghi thức và với mục đích bình quân chủ nghĩa. Theo nghĩa rộng
nhất, nghi lễ liên quan không chỉ đến một loại sự kiện cụ thể đặc biệt nào mà
cả với khía cạnh thể hiện của toàn bộ hoạt động của con ngƣời. Trong chừng
mực nó chuyển tải các thông điệp địa vị văn hóa và xã hội của các cá nhân,
bất kỳ hành động nào của con ngƣời cũng có khía cạnh nghi lễ” [26; tr. 24].
10
Trong trƣờng hợp nghiên cứu này, kết hợp các định nghĩa nêu trên về nghi
lễ, chúng tôi quan niệm về nghi lễ ở góc độ hẹp, đó là những nghi thức đƣợc
lặp đi lặp lại, mang tính bắt buộc phải tiến hành trong một buổi lễ gắn liền với
các hoạt động mang tính tôn giáo và tín ngƣỡng của một tộc ngƣời hay một
cộng đồng ngƣời.
Ở Việt Nam, sau một giai đoạn lịch sử trầm lắng, các hoạt động tín
ngƣỡng nói chung và các nghi lễ nói riêng đã bắt đầu hồi sinh kể từ khi Việt
Nam tiến hành Đổi mới từ những năm 1980 (thậm một số nghi lễ đã bắt đầu
đƣợc phục hồi ở nhiều địa phƣơng từ cuối những năm 1970). Thực tế này đã
đƣợc một số nhà khoa học giải thích là sự trở lại với truyền thống hay sự trỗi
dậy của truyền thống trong quá trình đổi mới về kinh tế và xã hội ở Việt Nam,
sau khi có một thời gian vài thập kỷ, kinh tế và nhiều hoạt động của đời sống
tôn giáo và tín ngƣỡng chịu sự kiểm soát và điều chỉnh mạnh mẽ bởi chính
quyền nhà nƣớc. Tuy nhiên, theo tác giả Oscar Salemink (2010), thì đây
không phải đơn giản là một sự trở lại của quá khứ hay truyền thống mà thay
vào đó là sự phát triển và nở rộ của các thực hành nghi lễ đƣợc thúc đẩy bởi
cả những động năng cũ và mới.
ngƣỡng và nghi lễ phản ánh hai xu hƣớng chính về các vấn đề này. Thứ nhất,
đó là những công trình nghiên cứu mang tính lý luận và trình bày những đặc
điểm chung của các tín ngƣỡng, các nghi lễ của các tộc ngƣời ở Việt Nam.
Một trong số các công trình nghiên cứu tiêu biểu theo hƣớng này là Tín
ngưỡng và văn hóa tín ngưỡng của Việt Nam (2001) của tác giả Ngô Đức
Thịnh đã có những phác họa về tín ngƣỡng của các tộc ngƣời ở Việt Nam.
Trong đó, tác giả trình bày về những tín ngƣỡng: Tín ngƣỡng thờ tổ tiên; Tín
ngƣỡng thờ thành hoàng; Đạo mẫu; Tín ngƣỡng Đức Thánh Trần;Tín ngƣỡng
nghề nghiệp. Tác giả cũng đƣa ra mối quan hệ giữa tín ngƣỡng và âm nhạc cổ
truyền, cũng nhƣ đƣa ra những chức năng của tín ngƣỡng trong đời sống sinh
hoạt cộng đồng. Có thể nói đây là một công trình khái quát về tín ngƣỡng của
các tộc ngƣời ở Việt Nam.
12
Công trình Góp phần tìm hiểu tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam (2007) của
tác giả Nguyễn Đức Lữ tìm hiểu về tín ngƣỡng dân gian trong đời sống tinh
thần nhƣ lễ hội, tín ngƣỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, phồn
thực và mê tín dị đoan. Tác giả cũng phân tích thực trạng của những tín ngƣỡng
dân gian cũng nhƣ những biểu hiện của chúng trong giai đoạn hiện nay.
Xu hƣớng nghiên cứu thứ hai là những khảo cứu về tín ngƣỡng và nghi lễ
của các tộc ngƣời. Trong số đó, có thể kể ra công trình nghiên cứu của tác giả
Lý Hành Sơn trong cuốn Các nghi lễ chủ yếu trong đời người của nhóm Dao
tiền ở Ba Bể, Bắc Kạn (2001) đã phân tích sắc thái địa phƣơng, tính thống
nhất và đa dạng trong văn hóa Dao, tạo cơ sở khoa học để phát huy những
mặt tích cực và hạn chế những mặt tiêu cực của các nghi lễ trong việc xây
dựng nếp sống mới ở vùng ngƣời Dao tiền.
Đoàn Tuấn Anh trong công trình Nghi lễ nông nghiệp của người Ba Na ở
tỉnh Gia Lai (2012) đã nghiên cứu sâu và có hệ thống về nghi lễ nông nghiệp
của ngƣời Ba Na ở tỉnh Gia Lai, trong đó tác giả đã trình bày các yếu tố mới
tác động dẫn đến việc biến đổi của nghi lễ nông nghiệp đồng thời khẳng định
không chắc chắn.
Tác giả Silapakit Teekantikun trong Luận án “Nghi lễ lên đồng của người
Việt ở miền Bắc Việt Nam và của người Lào ở Đông Bắc Thái Lan” (2010) đã
có những so sánh thú vị về nghi lễ lên đồng ở hai khu vực thuộc hai quốc gia
khác nhau. Tác giả khẳng định nghi lễ lên đồng là một trong những nghi lễ
quan trọng đối với ngƣời Việt ở miền Bắc Việt Nam. Tác giả nói thêm, ở Việt
Nam, dƣ luận xã hội cũng nhƣ chính quyền, đặc biệt là ngành y tế luôn phản
đối việc chữa trị bệnh bằng nghi lễ lên đồng hay các hình thức sử dụng ma
thuật khác. Nhƣng đối với nhiều ngƣời, họ không quan tâm là những phƣơng
pháp hay hình thức chữa bệnh đó có đƣợc chấp nhận hay không, là khoa học
hay phản khoa học. Cái quan trọng với họ là những hình thức đó có ý nghĩa
và phù hợp với quan niệm của họ, gia đình và cộng đồng của họ nhƣ thế nào.
14
Họ cũng không quan tâm lắm là chữa khỏi hay không, mà nó còn là một niềm
hy vọng còn lại.
Nếu nhƣ việc chữa bệnh, cầu an đƣợc thực hành trong nghi lễ lên đồng -
một nghi lễ không nằm trong hệ thống nghi lễ chu kỳ đời ngƣời của ngƣời
Việt thì ở một số cƣ dân khác, nghi lễ cầu sức khỏe, trị bệnh lại là một trong
những nghi lễ lớn, truyền thống, nằm trong chu kỳ đời ngƣời. Lễ cúng sức
khỏe là một trong những lễ quan trọng trong hệ thống nghi lễ vòng đời ngƣời
của ngƣời Êđê. Lễ này thƣờng đƣợc tổ chức sau mùa rẫy, từ tháng 11 đến
tháng 3 dƣơng lịch năm sau. Sau lễ mừng thọ 60 tuổi, cứ ba năm 1 lần, vào
dịp những tháng rảnh rỗi sau mùa rẫy là mọi ngƣời trong gia đình, dòng họ tổ
chức lễ này cho ông bà (còn gọi là lễ Gơng drai). Hay ở ngƣời Jrai, lễ cầu sức
khỏe cho ngƣời tới tuổi trƣởng thành, hay còn gọi là cúng yang Mơpú, là một
nghi lễ lớn, rất đƣợc các nhóm ngƣời Jrai chú trọng, cầu cho con cái họ đƣợc
khỏe mạnh, thành phần tham dự có mặt đông đủ dòng tộc, họ hàng. Đây là
một sự kiện quan trọng trong cuộc đời ngƣời Jrai nên dân làng đến dự đông
đủ và coi nhƣ một ngày hội của làng.
của Then Tày, Lễ chữa bệnh của Then Tày. Có thể nói đây là một tác phẩm
phân tích khá sâu đời sống tín ngƣỡng và lễ hội của các tộc ngƣời Tày, Nùng.
Riêng về nghi lễ Then, tác giả xem xét nhƣ một trong những nghi lễ tiêu biểu
trong đời sống tín ngƣỡng của ngƣời Tày và tác giả phân tích ở các khía cạnh:
nguyên nhân, thời điểm cũng nhƣ các hình thức diễn xƣớng trong nghi lễ và
chức năng chữa bệnh của những ngƣời hành nghề Then.
Trong một công trình nghiên cứu khác có tựa đề Đời sống tín ngưỡng của
người Tày ven biên giới Hạ Lang, Cao Bằng tác giả Nguyễn Thị Yên dành
một chƣơng (chƣơng 2) trình bày chi tiết hơn về các hình thức văn hóa tín
ngƣỡng của ngƣời Tày ở khu vực biên giới Hạ Lang, Cao Bằng. Theo tác giả
thì có 4 hình thức văn hóa tín ngƣỡng tiêu biểu, đó là Then và hình thức văn
hóa tín ngƣỡng Then; tào và sinh hoạt văn hóa tín ngƣỡng tào; siên và sinh
hoạt văn hóa tín ngƣỡng siên; thầy phƣờng. Về vấn đề Then, tác giả đã giới
16
thiệu chung về Then, dụng cụ hành nghề, lý do hành nghề; các nghi lễ phục
vụ cho cộng đồng làng bản; các nghi lễ theo yêu cầu của các gia chủ; các nghi
lễ đối với bản thân Then. Trong các nghi lễ đƣợc thực hiện theo yêu cầu của
các gia chủ, tác giả khẳng định thực hành các nghi lễ giải hạn/cầu an là một
trong những công việc quan trọng nhất của những ngƣời hành nghề Then.
Tác giả Hà Đình Thành trong cuốn Văn hóa dân gian Tày, Nùng ở Việt
Nam 2010) đã nghiên cứu văn hóa dân gian Tày, Nùng trong bối cảnh văn hóa
dân gian Việt Nam để tìm ra những nét văn hóa tiêu biểu, đặc sắc của hai dân
tộc này. Tập trung phân tích tổ chức xã hội của ngƣời Tày và khẳng định tổ
chức xã hội truyền của ngƣời Tày ở cấp địa phƣơng chính là thôn bản. Thôn
bản với ngƣời Tày là một cộng đồng “cộng mệnh”, tức là sự gắn bó cộng
đồng trên cơ sở cùng tôn thờ những biểu tƣợng tâm linh và sự che chở của
thần bản mệnh cho thôn bản. Thôn bản cũng là nơi “cộng cảm” văn hóa, là
nơi nƣơng tựa, đùm bọc, giúp đỡ, là nơi thực hành các nghi lễ cúng tế thu hút
sự tham gia của ngƣời dân trong bản. Tác giả cũng khẳng định ngƣời thực
mới, thăng quan tiến chức, làm ăn phát đạt, loại Then này ít về nghi thức,
nặng về ca hát, vui chơi, ứng tác); Lẩu then (Hội Then) tổ chức ở chính nhà
của các ông Then để dâng cúng tổ nghề then vào dịp thƣờng kỳ hàng năm và
đặc biệt là cấp sắc cho các ông then, và then. Tác giả Nguyễn Thị Yên trong
công trình này cũng tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của tầng lớp hành
nghề cúng bái (tào, mo, then, pựt). Nghệ thuật diễn xƣớng Then Tày, Nùng
cũng đƣợc mô tả khá sinh động và tỉ mỉ trong công trình nghiên cứu Nét
chung và riêng của âm nhạc trong Then Tày, Nùng (2004) của tác giả Nông
Thị Nhình. Nữ tác giả này đã đề cập đến phần âm nhạc trong Then của mỗi
vùng, thông qua đó thấy đƣợc sự phong phú, đa dạng cũng nhƣ giá trị nghệ
thuật Then của ngƣời Tày, Nùng ở Việt Nam.
Nhƣ vậy, Then nói chung và các loại nghi lễ Then chữa bệnh, giải hạn,
cầu an nói riêng của ngƣời Tày đã đƣợc các nhà nghiên cứu tìm hiểu dƣới các
góc độ và mức độ khác nhau ở nhiều công trình nghiên cứu. Trong đó, hƣớng
tiếp cận nổi bật là nhiều tác giả nhấn mạnh đến vị trí và vai trò của các ông/bà