122
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THU QUỲNH
KIẾN THỨC VỀ ĐAU ỐM VÀ SỰ LỰA CHỌN CÁCH
CHỮA TRỊ CỦA NGƯỜI TÀY Ở NÔNG THÔN MIỀN NÚI
TỈNH YÊN BÁI
(NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP XÃ KIÊN THÀNH, HUYỆN TRẤN YÊN) LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2013
123
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 132
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu 140
4. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu 141
5. Cấu trúc của luận văn 147
CHƢƠNG 1: SƠ LƢỢC VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 149
1.1. Điều kiện tự nhiên của xã Kiên Thành 149
1.2. Một số đặc điểm kinh tế xã hội của xã Kiên Thành 157
1.3. Vài nét về ngƣời Tày ở địa phƣơng 166
Tiểu kết chƣơng 1 170
CHƢƠNG 2: QUAN NIỆM VỀ ĐAU ỐM 171
2.1. Quan niệm về tình trạng ốm đau 171
2.1.1. Ranh giới giữa các khu vực chữa trị 172
2.1.2. Những lí giải khác biệt 176
2.2. Hình dung về cơ thể con ngƣời và cách thức xác định đau ốm 179
2.2.1. Hình dung về cơ thể con người 179
2.2.2. Các cách thức xác định ốm đau 182
2.3. Biểu hiện, phân loại ốm đau và nguyên nhân gây ốm 187
2.3.1.Biểu hiện, phân loại ốm đau thuần túy thuộc về thể chất 187
2.3.2.Biểu hiện và phân loại ốm đau do các thế lực siêu nhiên gây ra 192
Tiểu kết chƣơng 2 194
CHƢƠNG 3: LỰA CHỌN PHƢƠNG THỨC CHỮA TRỊ 195
3.1. Lựa chọn phƣơng thức chữa trị 195
3.1.1. Tự chữa trị 195
3.1.2. Tìm đến khu vực y học dân gian 197
3.1.3. Khám chữa bệnh ở trạm y tế và bệnh viện 203
3.1.4. Chữa trị đồng thời ở nhiều khu vực y tế khác nhau 205
3.2. Các yếu tố ảnh hƣởng tới lựa chọn chữa trị 207
127
3.2.1.Quan hệ thân tộc 207
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
UBND
Ủy ban nhân dân
TH
Tiểu học
THCS
Trung học cơ sở
PTTH
Phổ thông trung học
THCN
Trung học chuyên nghiệp
CĐ, ĐH
Cao đẳng, đại học
BHYT
Bảo hiểm y tế
KTL
Không trả lời
NGO Tổ chức phi chính phủ
Bảng 0.2: Nghề nghiệp của người trả lời bảng hỏi
21
Bảng 1.1: Số hộ, nhân khẩu trong xã Kiên Thành phân theo dân tộc
35
Bảng 1.2: Quy mô gia đình của người Tày ở xã Kiên Thành
36
Bảng 2.1. Thống kê một số một số cách lí giải về “ốm đau” và “bệnh tật”
của người dân
52
Danh mục các hình
Hình 2.1. Minh họa “Ốm đau” và “bệnh tật”
51
Danh mục bản đồ
Bản đồ 1.1. Bản đồ xã Kiên Thành
27
130
DẪN LUẬN
những giải thích đó còn mang đậm màu sắc tôn giáo, huyền bí thậm chí có phần phi lý.
Phải tìm hiểu được kiến thức, quan niệm của người dân về ốm đau để hiểu các kiến thức
ấy chi phối như thế nào tới các thực hành chăm sóc sức khỏe.
- Sự lựa chọn các khu vực chữa trị (khu vực y học chuyên nghiệp, y học dân gian
hay tự chữa trị), quá trình chữa trị của người dân khi ốm đau như thế nào:
Đây có thể là một hành động hoặc là chuỗi hành động của người ốm và gia đình họ
khi gặp phải các vấn đề về sức khỏe. Hành động của mỗi cá nhân là kết quả của quá trình
văn hóa thẩm thấu vào, là sự phản ánh của các hệ giá trị, tư duy và hình ảnh cộng đồng.
Do đó, sự lựa chọn các khu vực chữa trị bao giờ cũng chịu ảnh hưởng bởi kiến thức,
niềm tin về đau ốm và cách thức chữa trị. Đặc điểm, tính sẵn có của các khu vực chữa trị
mở ra các lựa chọn cho người dân. Trong khi đó, khả năng chi trả cũng có vai trò rất
quan trọng đối với lựa chọn khu vực chữa trị và cả quá trình chữa trị. Mặt khác, chúng tôi
cũng duy trì quan điểm cho rằng mỗi con người chịu sự chi phối của nhiều mối quan hệ
trong cộng đồng (cấu trúc, thiết chế, quan hệ mạng lưới ), do đó, các mối quan hệ này
sẽ tác động lên quyết định chữa trị.
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Chúng tôi hi vọng nghiên cứu này sẽ đóng góp một mô tả sâu về kiến thức, hành vi
lựa chọn của người dân ở khu vực nông thôn trong việc chăm sóc sức khỏe. Với lối tiếp
cận toàn thể, sự lựa chọn chữa trị bệnh tật được hiểu như là một quá trình chịu ảnh hưởng
bởi nhiều yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội khác nhau. Chúng tôi hi vọng tiếp cận này sẽ
mang tới một cái nhìn đầy đủ về vấn đề chăm sóc sức khỏe này.
Trong thực tiễn, những người làm công tác y tế cũng thừa nhận mối quan hệ giữa
bệnh tật và văn hóa là hiển nhiên và có tác động tới sức khỏe con người, họ không phủ
nhận thế giới quan quy định đến suy nghĩ và thực hành về thuốc. Nhiều người vẫn nghĩ y
học hiện đại được chào đón ở các nước đang phát triển, nhưng không hẳn vậy, trong
quan điểm của người bệnh, nhiều khi, tác động của hệ thống y tế hiện đại không được
đánh giá cao hơn y học dân gian; thậm chí kể cả khi hệ thống y học hiện đại rất phổ biến,
132
người dân vẫn tự chữa trị. Và việc làm rõ những điều đó có tính ứng dụng cao (Chen,
truyền thống chăm sóc sức khỏe trong bối cảnh văn hóa; 2) các khảo sát thực trạng chăm
sóc y tế với những những ngụ ý phê phán bất bình đẳng trong thụ hưởng chính sách của
Nhà nước. 3) Khuynh hướng tiếp cận sinh thái chủ yếu được thể hiện dưới các miêu thuật
tri thức bản địa về chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Đôi khi hướng tiếp cận sinh thái cũng
được nhắc tới trong những giải thích của tác giả khi cho rằng các hành vi ăn uống, chăm
sóc sức khỏe cũng được coi là cơ chế thích nghi của con người với môi trường sống.
Trước đây, nghiên cứu dân tộc học trong nước vẫn đề cập đến các hoạt động chăm
sóc sức khỏe trong các mô tả sâu về văn hóa truyền thống của nhiều tộc người khác nhau.
Phần viết này không chiếm nhiều trong toàn bộ khảo tả nhưng tương đối kỹ, bao giờ
cũng mô tả kỹ và cố gắng lý giải các kiêng kị trong chăm sóc sức khỏe. Càng về thời
gian gần đây, càng có nhiều miêu tả rất tỉ mỉ, chi tiết về kiến thức, thực hành y tế của
người dân. Với dân số đông, người Kinh được quan tâm nhiều, hàng loạt cuốn sách, bài
viết ra đời ở mọi khía cạnh chuyên biệt nhất. Đồng thời, cũng xuất hiện nhiều nghiên cứu
xã hội học chỉ ra sự khác biệt trong lựa chọn chăm sóc y tế giữa các nhóm cư trú ở các
khu vực khác nhau. Còn với cộng đồng dân tộc thiểu số, nhiều tác giả viết rất sâu, trong
đó các kiêng kị được đặc tả và giải thích cặn kẽ.
Đóng góp lớn nhất của khuynh hướng tiếp cận giải thích văn hóa này là trình bày
quan niệm, kiến thức của người dân về ốm đau - vấn đề kinh điển trong nghiên cứu nhân
học y tế. Thông thường, người ta tự nhận biết tình trạng bệnh tật của mình bằng các giác
quan. Định nghĩa và cách phân loại bệnh tật chịu sự ảnh hưởng bởi thế giới quan, quan
niệm về tôn giáo tín ngưỡng, thậm chí là những niềm tin mơ hồ chính người dân cũng
không thể lý giải được. Cách giải thích nguyên nhân ốm đau vừa mang tính khoa học vừa
mang tính siêu hình. Người ta cho rằng ốm đau có thể do tác động của thời tiết, chế độ
làm việc, chế độ ăn uống sinh hoạt, quan hệ xã hội hay do sự tách rời của linh hồn khỏi
cơ thể, sự trừng phạt của các thần (Nguyễn Văn Thắng, 2006). Thế giới quan đó ảnh
hưởng tới các chữa trị của người dân, dẫn với việc họ sẽ lựa chọn việc chữa trị bằng thảo
dược hay tìm đến các cơ sở y tế. Hoặc trong nhiều trường hợp, người bệnh tìm đến thầy
cúng, cầu xin chữa khỏi và chịu các nghi thức phức tạp, sử dụng bùa chú, rồi kết thúc
134
Không chỉ dừng lại ở mô tả đơn thuần, các nhà nghiên cứu cố gắng đi tìm lời giải
cho câu hỏi cái gì chi phối hành vi chăm sóc sức khỏe của người dân ở khu vực nông
thôn? Ở thời điểm hiện tại có những biến chuyển gì xảy ra so với truyền thống trong quá
khứ?
Hầu hết các tác giả đều thừa nhận người dân cúng bái khi bị ốm đau do quan niệm
về phần xác và phần hồn luôn hằn sâu trong tâm trí từ nhiều đời nay. Do đó, nhiều
nghiên cứu đặt trọng tâm tìm hiểu vấn đề niềm tin tôn giáo gây ảnh hưởng như thế nào
tới việc chăm sóc sức khỏe, và có hay không sự thay đổi hành vi chữa trị khi có yếu tố
tôn giáo mới đi vào. Nguyễn Văn Thắng đã tìm hiểu rất kĩ cách giải thích mang tính tôn
giáo về nguồn gốc bệnh tật trong nghiên cứu động thái ứng xử với bệnh tật của người
Hmông. Tác giả cho rằng tín ngưỡng truyền thống ảnh hưởng tới cách giải thích siêu
hình về ốm đau. Người Hmông theo tín ngưỡng đa thần giáo, họ tin có sự tồn tại của
phần hồn trong cơ thể con người, động, thực vật, và tình trạng sức khỏe của mỗi người sẽ
phụ thuộc vào trạng thái của linh hồn tồn tại bên trong hay di chuyển ra ngoài cơ thể.
Một trong những nguyên nhân gây ra bệnh tật là do linh hồn rời khỏi thể xác, điều này
dẫn tới cách chữa bệnh rất phổ biến là gọi hồn. Mặt khác, sự trừng phạt của các nhiên
thần cũng gây ra tình trạng đau ốm, bệnh tật của con người. Tác giả cũng cho rằng tôn
giáo mới – đạo Tin lành du nhập vào làm thay đổi quan niệm và hành vi ứng xử với bệnh
tật của người dân (Nguyễn Văn Thắng, 2006).
Ở một bình diện khác, một số nhà nghiên cứu chọn hướng xem xét điều kiện kinh tế
và chính sách y tế tác động tới xu hướng chữa bệnh của người dân như thế nào. Có
những nơi, người dân gần như “buộc” phải dùng thuốc nam khi mắc các bệnh nhẹ hoặc
bệnh nan y vì không có một lựa chọn nào khả dụng hơn, chỉ có thuốc nam mới phù hợp
với túi tiền của họ (Nguyễn Bảo Đồng, 2005). Trong khi đó, một trong những nguyên
nhân chính gây nên khó khăn trong việc cải thiện tình hình chăm sóc sức khỏe của người
dân tộc thiểu số là chất lượng của dịch vụ y tế chưa tốt. Chính chất lượng dịch vụ y tế
công yếu kém, điều kiện kinh tế gia đình khó khăn và việc chậm thay đổi hành vi chăm
sóc sức khỏe tạo thành vòng luẩn quẩn mãi không cải thiện được chăm sóc y tế (Đoàn
Kim Thắng, 2007). Cùng quan điểm này, Hoàng Thị Lê Thảo cho rằng cơ chế chính sách
phương. David Craig cho rằng hành vi tìm kiếm nhiều khu vực y tế khác nhau như vậy
137
hình thành do điều kiện lịch sử: ảnh hưởng các yếu tố văn hóa Trung Hoa, sang thời kỳ
cận đại lại bắt đầu ảnh hưởng Pháp và phương Tây. Còn việc thường xuyên tự chữa trị
được cho là bắt nguồn từ việc chữa trị bằng đông y (Craig, D., 2002).
Tiếp cận chăm sóc sức khỏe dưới góc độ kinh tế chính trị được nhiều nghiên cứu
hướng tới. Tất cả khảo sát đều đưa ra một thực trạng kinh tế kém phát triển, tình trạng
chăm sóc y tế của người dân ở nông thôn, đặc biệt là khu vực dân tộc thiểu số còn gặp
nhiều khó khăn. Cơ sở vật chất tạm bợ, trang thiết bị y tế thiếu, số bác sĩ với trình độ chủ
yếu là chuyên tu, tại chức mới chỉ đáp ứng chưa được 50% nhu cầu, bệnh viện luôn ở
trong tình trạng quá tải… phổ biến ở mọi vùng nông thôn. Có rất nhiều người dân tự điều
trị, không đến bệnh viện để khám bệnh. Nhiều trường hợp không được khám, chữa bệnh
kịp thời đã nặng hơn, chữa trị tốn kém và thời gian điều trị cũng kéo dài (Đức Thuận,
2010). Thiếu cơ sở vật chất y học hiện đại và ưu thế về khả năng tài chính là một trong
những yếu tố tác động tới ứng xử với bệnh tật của người dân nông thôn; tỉ lệ mắc bệnh ở
người nghèo là 13%, trong khi ở những người giàu có chỉ là 7%. Tỉ lệ người dân tộc
thiểu số có sức khỏe yếu và tỷ lệ suy dinh dưỡng rất cao do điều kiện nước sạch, vệ sinh
môi trường, chất lượng bữa ăn ở vùng sâu vùng xa còn kém. Tỉ lệ khai thác dịch vụ y tế
công ở nông thôn cũng ở mức thấp. Trên 50% số người bị ốm tự điều trị cho mình, 12 –
14% đến trạm y tế để được điều trị và số còn lại đi khám bác sĩ tư hoặc lên tuyến trên
(Đôn Tuấn Phong, Amador F., Romero J.J., 2007). Cư dân sống ở vùng sâu vùng xa, các
tộc người dân tộc thiểu số càng ít có cơ hội tiếp cận các dịch vụ công cơ bản vì giao
thông khó khăn, tình trạng nghèo đói ở mức cao, trình độ học vấn thấp và chất lượng
dịch vụ y tế cấp cơ sở vẫn còn rất hạn chế. Hiện nay, mạng lưới y tế cơ sở đảm đương
nhiệm vụ chăm lo sức khỏe, trực tiếp giải quyết những sự cố cho khoảng 75% dân số.
Nhưng vẫn có tới 98,8% trạm y tế xã hoạt động chỉ với 4 - 7 cán bộ, trong đó cán bộ có
trình độ đại học là 8,5%; trung học 73,2% và sơ học 12,44% (Quỳnh Hương, 2009).
Tập quán sinh hoạt của người dân tộc thiểu số cũng được coi là quá cũ kỹ, lạc hậu,
không tốt cho sức khỏe, vì thế chính sách của Nhà nước phải làm sao thay đổi được tư
như Kon Tum lại lên tới 8,6%. Luôn tồn tại mức bất bình đẳng trung bình về tử vong trẻ
em Việt Nam, chủ yếu ở phụ nữ nghèo và con cái của họ. Những yếu tố góp phần vào sự
139
bất bình đẳng tử vong quan sát được bao gồm: trình độ học vấn, yếu tố dân tộc và chỉ số
nghèo (Knowlegs, J.C., 2010).
Các tộc người thiểu số ở tỉnh Yên Bái cũng là đối tượng khảo sát của nhiều cuộc
đánh giá về tình hình chăm sóc sức khỏe, chất lượng của mạng lưới dịch vụ y tế. Năm
1999, văn phòng UNFPA Hà Nội tiến hành dự án VIE 97/ P03 nghiên cứu định tính vai
trò của mạng lưới nhân viên y tế trong công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản ở Yên Bái.
Sau đó, năm 2000, Hội đồng dân số cũng phân tích tình hình dịch vụ sức khỏe sinh sản
trong khu vực y tế nhà nước tại bảy tỉnh, trong đó có Yên Bái.
Các báo cáo đều trình bày những yếu tố kinh tế, văn hóa, xã hội ảnh hưởng tới nhận
thức, thái độ và hành vi chăm sóc sức khỏe. Hoạt động kinh tế của người dân tộc chủ yếu
vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tự cung tự cấp. Hầu hết các xã người dân
tộc thiểu số sinh sống có điều kiện kinh tế rất khó khăn, có nhiều nơi tỉ lệ các hộ gia đình
thuộc diện thiếu ăn hơn 1 tháng chiếm 33,8% (Hoàng Quý Tỉnh, Nguyễn Thị Thùy Linh,
Nguyễn Hữu Nhân, 2007). Địa bàn rừng núi, kinh tế không phát triển hạn chế nhiều tới
việc triển khai và hiệu quả công tác chăm sóc bảo vệ sức khỏe cho người dân. Diện tích
các xã rất rộng, từ bản tới trung tâm xã phải đi cả ngày đường; việc đi lại, khám bệnh gặp
nhiều khó khăn vì vậy người bệnh ngại đi khám tại trạm xá. Nhiều gia đình còn du canh,
du cư hoặc định cư ở vùng sâu vùng xa đi lại càng khó khăn, khả năng tiếp cận dịch vụ y
tế càng khó. Vẫn tồn tại tình trạng sinh nhiều con, đẻ dày, chưa thực hiện việc chăm sóc
và bảo vệ sức khỏe sinh sản. Ngoài ra, trình độ học vấn thấp, dân trí chưa cao, phong tục
tập quán lạc hậu cũng là vấn đề lớn. Đến 1999 chỉ có 81% số xã đạt phổ cập tiểu học và
chống mù chữ, 80% dân số ở vùng cao của tỉnh chưa biết chữ hoặc tái mù chữ, tỉ lệ trẻ
em 11 – 14 tuổi đi học trung học cơ sở đạt 54%, tỉ lệ trẻ em 15 – 17 đi học trung học phổ
thông đạt 25%, ở vùng cao chỉ đạt 6,3%. Trong khi đó lực lượng cán bộ y tế mỏng, trang
thiết bị còn thô sơ và ít ỏi cũng khó đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh của người
dân. Trong nhiều năm qua, đã có những nỗ lực của nhiều chương trình y tế và chăm sóc
sống chủ yếu của các tộc người: Tày, Hmông, Dao. Điều kiện kinh tế xã hội của hai tộc
người ở đây còn hết sức khó khăn.
141
4. Cơ sở lý thuyết và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1.Cơ sở lý thuyết
Tiếp cận toàn thể
Nỗ lực của chúng tôi nhằm tìm hiểu kiến thức và lựa chọn chữa trị khi đau ốm của
con người bị chi phối bởi cách tiếp cận toàn thể. Ở cách tiếp cận toàn thể này, con người
được hiểu như là một sản phẩm văn hóa, mà ở đó anh ta phản ánh toàn bộ xã hội và các
áp lực xã hội, hành động của anh ta bị xác định bởi cấu trúc mà anh ta sống trong đó.
Trong nỗ lực tìm hiểu về con người, các nhà nhân học thường tiếp cận con người ở ba
chiều cạnh: cấp độ cá nhân, cấp độ xã hội và cấp độ chính trị. Trong đó, tiếp cận con
người ở cấp độ xã hội là một đặc trưng của tiếp cận cấu trúc luận và thuyết biểu trưng.
Và ở cấp độ đó, việc phân tích con người được đặt trong bối cảnh văn hóa xã hội (Nancy,
S.H. & Margaret M.L., 1987:8). Đối với các vấn đề sức khỏe, những hình dung của con
người về cơ thể, cấu trúc bên trong, cũng như là những quan niệm về nóng/ lạnh, quan
niệm về máu chịu ảnh hưởng của nền tảng văn hóa xã hội (Helman, C.G., 1990: 11).
Khái niệm “ốm đau” (sickness) và “bệnh tật”(disease): Bác sĩ và bệnh nhân có
cách nhìn rất khác nhau về “ốm – khỏe” kể cả khi có cùng một nền tảng văn hóa. Những
quan điểm của bác sĩ và bệnh nhân được định hình từ những hệ thống tri thức khác nhau,
do đó, những cách chữa trị cũng được thực hiện khác và có hiệu năng khác nhau. Định
nghĩa thế nào là “khỏe mạnh” và “ốm đau” giữa các cá nhân, nhóm xã hội cũng không
giống nhau (Helman, C.G, 1990: 87-97). Những quan niệm của mỗi cá nhân, mỗi nhóm
người trong những văn hóa khác nhau, bối cảnh khác nhau về sức khỏe, bệnh tật sẽ dẫn
tới hành vi tìm kiếm quá trình chữa trị không giống nhau. Trong nghiên cứu này, chúng
tôi sẽ tìm hiểu những khuôn mẫu ốm đau của người dân, những kiến thức và cách phân
loại bệnh tật của họ. Trong bối cảnh cụ thể, họ sẽ có lý giải như thế nào là ốm đau, bệnh
tật, nguyên nhân dẫn đến tình trạng ốm đau là gì, và họ có hình dung gì về cơ thể khi ốm.
Khái niệm các khu vực chữa trị (medical sectors): Một cơ sở để phân loại sự lựa
Bệnh nhân
lựa chọn
chữa trị
143
ốm đau, bệnh tật. Chúng tôi chú ý việc tìm hiểu kiến thức của người dân về ốm đau, họ
đưa ra các lý giải và phân loại như thế nào. Kiến thức về đau ốm chính là một trong các
yếu tố quan trọng chi phối đến sự lựa chọn chữa trị của người dân.
Ba mô hình hành vi lựa chọn trong chữa trị:
+ Lựa chọn đồng thời: cùng lúc chữa ở nhiều thầy thuốc ở những khu vực y tế khác nhau,
theo đuổi nhiều biện pháp chữa trị;
+ Lựa chọn phân cấp: người bệnh lần lượt tìm đến các liệu pháp khác nhau;
+ Lựa chọn hỗn hợp: kết hợp hai mô hình trước.
Ở đây, Kleinman đã phân tích hành động lựa chọn trong một bối cảnh văn hóa của
người bệnh để đưa ra sự giải thích - xem xét hành động dưới cách tiếp cận toàn thể mà ở
đó hành vi lựa chọn chữa trị bị chi phối bởi:
+ Khả năng cung cấp dịch vụ ở các khu vực y tế;
+Tri thức về bệnh tật, các cách lí giải, phân loại ốm đau;
+ Khả năng chi trả của gia đình bệnh nhân.
Trong nghiên cứu này, chúng tôi sẽ cố gắng làm rõ sự lựa chọn của người bệnh, có
hay không sự lựa chọn nhiều hình thức chữa trị khác nhau, sự lựa chọn ấy có đúng bị chi
phối bởi 3 yếu tố như trên đã nêu hay không, hay nó còn bị chi phối bởi các yếu tố khác
nữa. Đặc biệt, chúng tôi lưu ý tới quan niệm, các cách lí giải ốm đau của người dân.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp thu thập tài liệu ở thực địa: Để thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi
sử dụng nhiều phương pháp khác nhau: quan sát tham gia; phỏng vấn sâu; bảng hỏi cấu
trúc; thảo luận nhóm; thu thập tài liệu báo cáo ở địa phương. Trong đó quan sát tham gia
vẫn là phương pháp trọng tâm vì những ưu điểm của nó trong mô tả dân tộc học.
Chúng tôi có 2 đợt điền dã chính:
67%, tỉ lệ có trình độ tiểu học (cấp 1) đứng thứ hai với 18%. Có 9% người trả lời đã học
trung học chuyên nghiệp hoặc trường nghề, 4% đã qua trung học phổ thông (cấp 3), chỉ
có 2% đã qua cao đẳng hoặc đại học.
Bảng 0.2: Nghề nghiệp của người trả lời bảng hỏi
Nguồn: Nguyễn Thu Quỳnh, Điều tra bảng hỏi, tháng 2 năm 2012
Tương ứng với báo cáo của xã về nghề nghiệp chính của người dân nơi đây chủ yếu
làm nông nghiệp và lâm nghiệp. 75,6% số người trả lời bảng hỏi của chúng tôi là nông
dân, chỉ có 8,9% là cán bộ, viên chức đang làm việc tại xã, 4,4% làm buôn bán nhỏ. 4,4%
trong số người trả lời bảng hỏi làm công tác đoàn thể và chỉ có 2,2% là học sinh sinh
viên.
+ Phỏng vấn sâu: tiến hành phỏng vấn sâu như một cuộc trò chuyện với mọi người,
chúng tôi phân loại ra thành các nhóm khác nhau dựa trên sự khác biệt về giới tính, độ
tuổi, nghề nghiệp, vai trò trong xã hội. Chúng tôi cũng dành nhiều thời gian trò chuyện
với những người giữ vai trò thầy thuốc nam của cộng đồng, cán bộ y tế ở trạm xá xã và y
tế thôn bản. Lắng nghe câu chuyện của họ để có thể hiểu được những trải nghiệm trong
quá trình chữa trị bệnh tật như thế nào.
Trong quá trình điền dã, chúng tôi đã tiến hành hơn 30 cuộc trò chuyện khác nhau.
Toàn bộ các cuộc trò chuyện này đều được ghi âm và có đánh mã số theo thời gian thực
146
hiện và tên của người trả lời và số thứ tự cuộc phỏng vấn đó (có những trường hợp chúng
tôi tiến hành nhiều cuộc phỏng vấn khác nhau trong vài ngày).
Ví dụ: KT.2012.MrTuyen01.amr, trong đó, KT là Kiên Thành; 2012 là năm thực
hiện cuộc phỏng vấn; MrTuyen: là tên người trả lời, 01: là số thứ tự băng ghi âm cuộc
phỏng vấn.
Tương tự, khi gỡ băng, chúng tôi cũng tạo mã số theo trình tự này trên từng tên file
word. Trong nội dung file word đó có ghi rõ ràng ngày tháng thực hiện cuộc phỏng vấn.
+ Thảo luận nhóm: Chúng tôi tiến hành thảo luận nhóm để lắng nghe ý kiến của
nhiều người cùng một lúc, những tranh luận, trao đổi của họ về bệnh tật, nguyên nhân
bệnh gì hay mắc nhất, ở độ tuổi, giới nào; số lượng người mắc bệnh trong các năm: độ
tuổi, giới nào hay đến khám ở trạm xá, số lượng người mắc bệnh tăng hay giảm qua các
năm ra sao, tỉ lệ sinh, tử vong… Tình trạng sử dụng thuốc tây, thuốc nam của người dân:
số lượng thuốc cấp phát hàng năm, thống kê số người lấy thuốc từ một số bà lang trong
vùng; công tác y tế dự phòng được thực hiện như thế nào ở xã.
+ Với các nguồn dữ liệu định tính và định lượng
- Sử dụng phần mềm phân tích số liệu định lượng (phần mềm SPSS phiên bản 13.0)
- Lập các hồ sơ phỏng vấn, hồ sơ thực hiện bảng hỏi với từng cá nhân. Khi phân
tích sẽ đối chiếu kết quả phỏng vấn, kết quả thực hiện bảng hỏi với điều kiện của từng cá
nhân đó (giới, tình trạng sức khỏe, độ tuổi, nghề nghiệp ) để hiểu được những lý giải
của họ.
5. Cấu trúc của luận văn
Dẫn luận
Chƣơng 1: Sơ lƣợc về địa bàn nghiên cứu
Chúng tôi trình bày những nét khái lược nhất về điều kiện tự nhiên, tình hình kinh
tế xã hội của khu vực nghiên cứu. Một số thông tin liên quan đến vệ sinh dịch tễ cũng
được phân tích vì đây là những yếu tố ảnh hưởng tới sức khỏe con người. 148
Chƣơng 2: Quan niệm về ốm đau
Trong chương này, chúng tôi mô tả quan niệm của người dân về “ốm đau”, quan
niệm này có sự khác biệt với các lý giải của bác sĩ về “bệnh tật”. Dựa vào kinh nghiệm
truyền đời, người dân phân biệt được các loại ốm đau và nguyên nhân gây ra. Sự phân
loại ốm đau ấy chịu ảnh hưởng sâu sắc bởi thế giới quan, tín ngưỡng. Do đó, bên ngoài
những nguyên nhân thuộc về thiên nhiên, lao động, nguồn nước uống, thực phẩm, con
người cũng có thể bị “ốm” do ma làm hại. Tùy thuộc vào nguyên nhân và biểu hiện bệnh
tật mà người dân có cách chữa tương ứng.
Chƣơng 3: Lựa chọn phƣơng thức chữa trị