Sự tham gia của nam giới vùng cao trong việc thực hiện kế hoạch hóa gia đình (nghiên cứu trường hợp xã cẩm ân huyện yên bình tỉnh yên bái) - Pdf 61

ĐạI HọC QUốC GIA Hà NộI
TRƯờNG ĐạI HọC KHOA HọC Xã HộI Và NHÂN VĂN
KHOA Xã HộI HọC
------ (0) ------

nguyễn hoàng nga

Đề Tài:
Sự tham gia của nam giới vùng cao trong
việc thực hiện kế hoạch hoá gia đình
(Nghiên cứu tr-ờng hợp xã Cẩm Ân - Huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái)

luận văn thạc sỹ xã hội học

Ng-ời h-ớng dẫn khoa học:
TS. hoàng bá thịnh

Mục lục
Hà nội - 2007


Luận văn thạc sỹ

Học viên: Nguyễn Hoàng Nga

Lời cảm ơn
Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận đ-ợc sự quan tâm, giúp đỡ
từ rất nhiều phía.
Tr-ớc hết, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô giáo trong khoa
Xã hội học đã truyền đạt tri thức cho tôi trong suốt thời gian tôi đ-ợc học tập
nghiên cứu tại khoa. Đặc biệt, tôi xin bày tỏ sự biết ơn tới thầy giáo - TS Hoàng


Cao đẳng/đại học/trung cấp chuyên nghiệp

: CĐ/ĐH/TCCN

Dân số - kế hoạch hoá gia đình

: DS - KHHGĐ

Kế hoạch hoá gia đình

: KHHGĐ

Kinh tế - xã hội

: KT - XH

Sức khỏe sinh sản

: SKSS

Trung học cơ sở

: THCS

Trung học phổ thông

: THPT

Khoá: 2004 - 2007

1.2. Chủ tr-ơng, chính sách của Đảng và Nhà n-ớc về công tác DS - KHHGĐ.15
1.3. Các lí thuyết nghiên cứu ..............................................................................19
2. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ................................................................................. 29
3. Vài nét về địa bàn nghiên cứu và đối t-ợng khảo sát .................................................. 33
3.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu ......................................................................33
3.2. Đối t-ợng khảo sát ....................................................................................... 35
4. Các khái niệm công cụ ................................................................................................ 36
Ch-ơng 2: Các khía cạnh về sự tham gia của nam giới vùng cao trong việc thực hiện
KHHGĐ .......................................................................................................................... 39
I. Thực trạng sự tham gia của nam giới trong việc thực hiện KHHGĐ .......................... 39
1. Vài nét về tình hình sử dụng các BPTT, thực hiện KHHGĐ trong cả n-ớc hiện nay..39

Khoá: 2004 - 2007

4


Luận văn thạc sỹ

Học viên: Nguyễn Hoàng Nga

2. Nhận thức của nam giới về chủ tr-ơng, chính sách, ch-ơng trình KHHGĐ và thái độ
của họ đối với việc thực hiện KHHGĐ ...........................................................................40
2.1. Nhận thức của nam giới về chủ tr-ơng, chính sách, ch-ơng trình KHHGĐ40
2.2. Thái độ của nam giới đối với việc thực hiện KHHGĐ .................................49
3. Sự tham gia của nam giới trong việc thực hiện KHHGĐ ............................................55
3.1. Ng-ời quyết định số con và khoảng cách giữa các lần sinh con trong gia
đình .................................................................................................................................57
3.2. Ng-ời quyết định việc lựa chọn và sử dụng BPTT .......................................62
3.3. Nam giới với việc lựa chọn và sử dụng BPTT ..............................................68


mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Vấn đề dân số - kế hoạch hoá gia đình (DS - KHHGĐ) là một vấn đề
đ-ợc quan tâm nghiên cứu trong giai đoạn hiện nay. Nghị quyết 04 NQ/HNTƯ cũng đ khàng định công tác DS - KHHGĐ là một bộ phận
của chiến l-ợc phát triển đất n-ớc, là một trong những vấn đề kinh tế - xã
hội (KT - XH) hàng đầu, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất l-ợng cuộc sống
của từng ng-ời, từng gia đình và của toàn xã hội [26]. Sở dĩ vấn đề dân số
đ-ợc nhiều ng-ời quan tâm là bởi nó có ảnh h-ởng nhất định đến quá trình
phát triển KT - XH của đất n-ớc. Theo dự báo ca Liên Hợp Quốc, nếu
Việt Nam thực hiện tốt ch-ơng trình DS - KHHGĐ thì quy mô dân số sẽ ổn
định ở mức 120 triệu ng-ời vào năm 2035 và GDP bình quân đầu ng-ời sẽ
bằng 31,2 lần GDP bình quân đầu ng-ời năm 1990. Ng-ợc lại, nếu không
thực hiện tốt ch-ơng trình DS - KHHGĐ thì quy mô dân số sẽ ở mức 160
triệu ng-ời vào năm 2035 và GDP bình quân đầu ng-ời chỉ bằng 25 lần
bình quân đầu người ca năm 1990[38]. Phép so sánh trên để chúng ta
thấy rằng công tác DS - KHHGĐ có tác động đến quá trình phát triển KT XH của đất n-ớc. Chính vì thế, mục tiêu tổng quát của ch-ơng trình dân số
quốc gia thời kỳ 2001 - 2010 là: "Thực hiện gia đình ít con, khoẻ mạnh, tiến
tới ổn định quy mô dân số ở mức hợp lý để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Nâng cao chất l-ợng dân số, phát triển nguồn nhân lực chất l-ợng cao đáp
ứng nhu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá góp phần vào sự phát triển nhanh
và bền vững trong đất n-ớc[21].
Để có thể thực hiện đ-ợc những mục tiêu của ch-ơng trình quốc gia
nh- đã đề cập ở trên thì kế hoạch hoá gia đình (KHHGĐ) đóng một vai trò
rất quan trọng bởi thực hiện "KHHGĐ chính là điều chỉnh mức sinh giảm tỷ
lệ gia tăng dân số góp phần nâng cao chất l-ợng dân số tiến tới bảo đảm
một cuộc sống no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc"[29].
Hiện nay, n-ớc ta đ-ợc xếp vào một trong những n-ớc đông dân trên
thế giới với khoảng 83 triệu ng-ời (dân số Việt Nam năm 2006 là 83, 892,
2 ngàn ng-ời) [33,15]. Mặc dù trong thập kỷ qua, chiến l-ợc DS - KHHGĐ

ng-ời vợ trong việc thực hiện KHHGĐ.
Quan tâm đến vấn đề giới trong việc thực hiện KHHGĐ, đã có nhiều
ch-ơng trình hành động đ-ợc đ-a ra nhằm thu hút sự tham gia của nam giới
chẳng hạn nh- trong ch-ơng trình hành động đ-ợc nhất trí thông qua tại
Hội nghị quốc tế về dân số và phát triển tại Cairo - Ai Cập năm 1994 đã
nhấn mạnh tầm quan trọng về quyền sinh sản và sức khỏe sinh sản (SKSS)
của nam và nữ bằng cách nhấn mạnh sự cần thiết về bình đẳng nam nữ và
hành vi tình dục có trách nhiệm: "Nam giới đóng vai trò chủ chốt trong việc
đem lại bình đẳng về giới, vì đa số trong các xã hội thì quyền lực luôn luôn
thuộc về nam giới trên mọi khía cạnh của cuộc sống, từ việc quyết định quy
mô gia đình cho đến các quyết định về chính sách trong ch-ơng trình ở mọi
cấp độ... Sự tham gia bình đẳng của phụ nữ và nam giới trong mọi khía
Khoá: 2004 - 2007

7


Học viên: Nguyễn Hoàng Nga

Luận văn thạc sỹ

cạnh của trách nhiệm gia đình, bao gồm KHHGĐ, nuôi dạy con cái trong
công việc gia đình cần đ-ợc tăng c-ờng và khuyến khích bởi các chính
phủ"[19, 268]. Ch-ơng trình hành cũng động l-u ý, nam giới cũng nh- nữ
giới cần phải tiếp cận với các thông tin và dịch vụ thích hợp để đạt đ-ợc
SKSS của mình. Một thỏa thuận tại Cairo cũng nhấn mạnh rằng: Cần phải
có những nỗ lực đặc biệt để nhấn mạnh trách nhiệm chia sẻ của ng-ời đàn
ông và cổ vũ lôi cuốn họ một cách tích cực về trách nhiệm làm cha, hành vi
sinh sản và tình dục trong đó có KHHGĐ.
Chiến l-ợc dân số của n-ớc ta giai đoạn 2001 - 2010 cũng xác định:

Học viên: Nguyễn Hoàng Nga

Nh- vậy là nam giới đóng vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện
KHHGĐ. Sự tham gia của họ sẽ phần nào giảm bớt gánh nặng trách nhiệm
thực hiện KHHGĐ của ng-ời phụ nữ. Vậy trên thực tế họ tham gia vào
KHHGĐ nh- thế nào? Tr-ớc tiên chúng ta phải khẳng định một điều rằng
cả giới nam và giới nữ đều có trách nhiệm và quyền lợi trong việc thực hiện
KHHGĐ, ng-ời vợ và ng-ời chồng cùng thực hiện các BPTT thế nh-ng
gánh nặng thực hiện KHHGĐ vẫn do phụ nữ đảm nhận là chính, sự tham
gia của nam giới còn tồn tại khá nhiều bất cập và đúng là nam giới ch-a
phát huy đ-ợc vai trò của mình trong việc thực hiện KHHGĐ. "Số liệu điều
tra biến động dân số và KHHGĐ 1/4/2004 đã cho thấy sự bất bình đẳng về
giới trong việc sử dụng các BPTT hiện đại giữa phụ nữ và nam giới vẫn còn
chênh lệch khá lớn. BPTT hiện đại mà phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ lựa
chọn là 75,9% trong khi đó nam giới chỉ chiếm 9,7%" [32,33].
Những con số ở trên đã cho chúng ta thấy rằng sự tham gia của nam
giới trong việc thực hiện KHHGĐ còn rất nhiều hạn chế. Đặc biệt nam giới
sống ở vùng cao, điều kiện tiếp cận thông tin và hệ thống các dịch vụ còn
gặp khó khăn, vậy họ tham gia vào việc thực hiện KHHGĐ nh- thế nào?
Mức độ nhiều hay ít? Có nhân tố nào hạn chế họ tham gia vào KHHGĐ hay
không? Sự tham gia của họ có mang lại ích lợi gì ?
Trăn trở tr-ớc những vấn đề trên đồng thời có mong muốn tìm hiểu,
đánh giá và phán xét vai trò của nam giới - một chủ thể rất quan trọng trong
việc thực hiện KHHGĐ, tôi đã chọn đề tài: "Sự tham gia của nam giới
vùng cao trong việc thực hiện KHHGĐ" làm đề tài nghiên cứu của mình.
2. ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
2.1. ý nghĩa khoa học
- Thông qua đề tài nghiên cứu, tôi muốn mang đến một cái nhìn khái
quát hơn về sự tham gia thực hiện KHHGĐ của nam giới vùng cao, một số
nhân tố ảnh h-ởng đến vấn đề này và hơn cả là mong muốn thúc đẩy nam

thực hiện KHHGĐ hiện nay.
- Tìm hiểu một số nhân tố ảnh h-ởng đến sự tham gia của nam giới
vùng cao trong việc thực hiện KHHGĐ.
- Đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp nhằm thu hút nam giới
vùng cao tham gia tích cực hơn vào việc thực hiện KHHGĐ.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Phân tích các cơ sở lý thuyết và ph-ơng pháp cho việc nghiên cứu thực
trạng sự tham gia của nam giới vùng cao trong việc thực hiện KHHGĐ.
- Phân tích thực trạng sự tham gia của nam giới vùng cao trong việc
thực hiện KHHGĐ hiện nay.
- Phân tích và làm rõ những nhân tố tác động đến việc ng-ời nam
giới tham gia thực hiện KHHGĐ.
- Đề xuất một số khuyến nghị và giải pháp giúp cho nam giới tham gia
ngày càng tích cực hơn, chia sẻ với ng-ời phụ nữ trách nhiệm thực hiện KHHGĐ.
Khoá: 2004 - 2007

10


Học viên: Nguyễn Hoàng Nga

Luận văn thạc sỹ

4. Đối t-ợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối t-ợng nghiên cứu: Sự tham gia của nam giới vùng cao trong
việc thực hiện KHHGĐ.
4.2. Khách thể nghiên cứu: Nam giới đã lập gia đình
4.3. Lĩnh vực nghiên cứu: Xã hội học dân số, xã hội học giới
4.4. Phạm vi nghiên cứu:
* Không gian nghiên cứu: Xã Cẩm Ân - huyện Yên Bình - tỉnh Yên Bái


Luận văn thạc sỹ

- Các nhân tố chủ tr-ơng chính sách, truyền thông đại chúng, gia
đình, cộng đồng, tâm lý cá nhân...là những nhân tố cơ bản ảnh h-ởng đến
sự tham gia của nam giới vùng cao trong việc thực hiện KHHGĐ (bao gồm
cả các nhân tố có tính chất thúc đẩy và các nhân tố có tính chất cản trở).
Trong các nhân tố, nhân tố làm cho nam giới ít tham gia vào việc thực hiện
KHHGĐ nhất đó là nhân tố tâm lý cá nhân.
- Nam giới vùng cao tham gia tích cực vào việc thực hiện KHHGĐ là
yếu tố quan trọng đảm bảo thực hiện bình đẳng giới, tiến bộ và công bằng
xã hội cho vùng cao.
6.2. Sơ đồ khung lý thuyết

Bối cảnh KT - XH

Nhóm nhân tố thúc đẩy
- Chủ tr-ơng, chính
sách DS - KHHGĐ
- Truyền thông đại
chúng

Nhóm nhân tố cản trở
- Hệ thống cung cấp
các dịch vụ KHHGĐ
- Gia đình
- Cộng đồng
- Tâm lý cá nhân

Sự tham gia của nam

của chính sự vật đó. Tiếp theo, phải nhìn nhận các sự vật trong mối liên hệ
qua lại với nhau (kể cả trực tiếp và gián tiếp). Và, phải xem xét sự vật trong
mối liên hệ với nhu cầu thực tiễn của con ng-ời. Các loại liên hệ này có vai
trò khác nhau đối với quá trình vận động và phát triển của các sự vật và hiện
t-ợng, nhờ đó giúp cho chúng ta tới chỗ khái quát để rút ra bản chất chi
phối sự tồn tại và phát triển của sự vật.

Xem xét các sự vật phải h-ớng tới cái bản chất, không h-ớng tới cái
ngẫu nhiên, bất bình th-ờng. Vì bản chất là cái tất nhiên, t-ơng đối ổn định
ở bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật. Còn hiện
t-ợng là sự biểu hiện của bản chất ra bên ngoài, là cái không ổn định và
biến đổi nhanh hơn so với bản thân. Vì vậy, khi nhìn nhận sự vật, để có thể
nắm bắt và hiểu biết đầy đủ, đúng đắn về sự vật, không nên dừng lại ở hiện
t-ợng mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của nó. Bản chất không tồn tại d-ới
dạng thuần tuý mà bao giờ cũng bộc lộ ra bên ngoài thông qua các hiện
t-ợng vì thế chỉ có thể tìm ra cái bản chất thông qua nghiên cứu các hiện

Khoá: 2004 - 2007

13


Luận văn thạc sỹ

Học viên: Nguyễn Hoàng Nga

t-ợng. Bản chất tồn tại khách quan ngay ở trong bản thân sự vật nên chỉ có
thể tìm ra bản chất của sự vật đó ở trong chính sự vật cứ không thể ở ngoài nó.

Những quy luật vận động phát triển của xã hội phải đ-ợc xem xét


Khoá: 2004 - 2007

14


Học viên: Nguyễn Hoàng Nga

Luận văn thạc sỹ

đó sẽ cho chúng ta một cái nhìn khái quát về việc thực hiện KHHGĐ của
nam giới vùng cao, giúp chúng ta đ-a ra đ-ợc những khuyến nghị phù hợp.
1.2. Chủ tr-ơng, chính sách của Đảng và Nhà n-ớc về công tác DS - KHHGĐ
Mục tiêu cuối cùng trong quá trình phát triển của mỗi một quốc gia
là nâng cao chất l-ợng cuộc sống cho nhân dân. Chính vì vậy, Đảng và Nhà
n-ớc ta ngay từ khi thành lập đến nay, đã có nhiều biện pháp nhằm nâng
cao từng b-ớc đời sống của nhân dân đặc biệt là thông qua các chính sách
dân số và chính sách bảo vệ sức khoẻ bà mẹ và trẻ em.
Trong quá trình tìm hiểu các chủ tr-ơng, chính sách của Đảng và nhà
n-ớc về công tác DS - KHHGĐ cũng nh- tìm hiểu một số tài liệu liên quan,
tôi thấy các tác giả đã chia quá trình hình thành và phát triển của chính sách
dân số thành 4 giai đoạn. Trong 4 giai đoạn này, chúng ta đã thấy Đảng và
Nhà n-ớc quan tâm đến công tác DS - KHHGĐ cũng nh- công tác DS KHHGĐ của đồng bào các dân tộc thiểu số nh- thế nào khi có rất nhiều
chủ tr-ơng, chính sách đ-ợc ban hành.
- Giai đoạn từ 1960 đến 1975:
Đây là thời kì chiến tranh, đất n-ớc bị chia cắt làm 2 miền. Trong
giai đoạn này, các hoạt động dân số đ-ợc đề cập lần đầu tiên đ-ợc đề cập
vào năm 1961, thông qua Quyết định của Hội đồng Chính phủ về việc sinh
đẻ có h-ớng dẫn (Quyết định 216 - CP, ngày 26 tháng 12 năm 1961. Đến
năm 1963, Thủ t-ớng Chính phủ ban hành chỉ thị 99 - TTg chính thức phát

Để cụ thể hoá Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ IV, tháng 10 năm
1978, Thủ t-ớng Chính phủ đã ra chỉ thị 265/CP về việc đẩy mạnh cuộc vận
động sinh đẻ có kế hoạch. H-ớng của cuộc vận động này là: "Phải nói rõ
tác hại của sinh đẻ quá nhiều, sinh đẻ dày và sinh đẻ sớm. Đồng thời nêu rõ
lợi ích và yêu cầu sinh đẻ có kế hoạch là phụ nữ sinh đẻ vừa phải (2,5 con),
sinh đẻ th-a (cách nhau 4,5 năm) và sinh đẻ khi ng-ời phụ nữ đã có cơ thể
đ-ợc phát triển hoàn thiện (20 tuổi trở lên)"[1,114].
Ngày 12 tháng 8 năm 1981, Hội đồng Bộ tr-ởng đã ra chỉ thị 29 HĐBT về đẩy mạnh cuộc vận động sinh đẻ có kế hoạch trong 5 năm 1981 1985. Trong chỉ thị nêu rõ: "Sinh đẻ ít, sinh đẻ th-a, nam nữ thanh niên đã
kết hôn thì vận động chậm sinh con đầu lòng. Mỗi cặp vợ chồng chỉ nên đẻ
và đẻ th-a cách nhau 5 năm, ng-ời phụ nữ nên sinh đẻ khi cơ thể đã phát
triển hoàn thiện, tốt nhất từ 22 tuổi trở lên"[1,115]. Tuy nhiên, kết quả đạt
đ-ợc vẫn không nh- mong muốn, tỷ lệ tăng dân số vẫn còn cao.
Đến năm 1981, năm đầu thực hiện Hiến pháp mới. Trong Hiến pháp
mới, điều 47 đã ghi rõ: " Nhà n-ớc và xã hội bảo vệ bà mẹ trẻ em, vận động
sinh đẻ có kế hoạch". Toàn Đảng, toàn dân ta đã ra sức thi đua, phấn đấu
hoàn thành v-ợt mức các mục tiêu đề ra và cuộc vận động sinh đẻ có kế
hoạch cũng đ-ợc đẩy lên một b-ớc mới.
Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ V, cuộc vận động sinh đẻ có kế
hoạch một lần nữa đ-ợc nêu rõ: "Giảm tốc độ tăng dân số là nhiệm vụ có
tính chiến l-ợc. Các cấp uỷ Đảng, cấp chính quyền, đoàn thể từ Trung -ơng

Khoá: 2004 - 2007

16


Luận văn thạc sỹ

Học viên: Nguyễn Hoàng Nga



Khoá: 2004 - 2007

17


Học viên: Nguyễn Hoàng Nga

Luận văn thạc sỹ

một trong những vấn đề KT - XH hàng đầu của n-ớc ta, là một yếu tố cơ
bản để nâng cao chất l-ợng cuộc sống của từng ng-ời, từng gia đình và của
toàn xã hội" [4,643]. Mục tiêu tổng quát đ-ợc đ-a ra là: "Thực hiện gia
đình ít con, khoẻ mạnh, tạo điều kiện để có cuộc sống ấm no, hạnh phúc.
Mục tiêu cụ thể là mỗi gia đình chỉ có 1 hoặc 2 con, để tới năm 2015 bình
quân trong toàn xã hội mỗi gia đình (một cặp vợ chồng) có 2 con, tiến tới
ổn định quy mô dân số từ giữa thế kỷ 21" [4,643].
Sau khi Ban chấp hành Trung -ơng Đảng thông qua Nghị quyết về
chính sách DS - KHHGĐ, Thủ t-ớng ban hành Quyết định về việc phê
duyệt chiến l-ợc DS - KHHGĐ, trong đó nêu lên các ph-ơng h-ớng cần
thực hiện đến năm 2000 (Quyết định 270/TTG ngày 3/6/1993). Chiến l-ợc
này triển khai theo hai giai đoạn:
a. Giai đoạn 1993 - 1995: Xây dựng các mô hình và chuẩn bị ngân sách
b. Giai đoạn 1996 - 2000: Triển khai thực hiện có hiệu quả công tác
DS - KHHGĐ
- Giai đoạn từ năm 2001 đến nay:
Đây là giai đoạn triển khai Chiến l-ợc dân số Việt Nam giai đoạn
2001 - 2010. Các văn bản khác có liên quan ra đời trong giai đoạn này đều
phục vụ cho mục tiêu của Chiến l-ợc này. Có thể kể đến một số văn bản
đ-ợc ban hành nh-: Chiến l-ợc quốc gia về chăm sóc SKSS giai đoạn 2001


Học viên: Nguyễn Hoàng Nga

mà các cá nhân thực hiện hành động, ng-ợc lại, họ hành động nhằm đạt
đ-ợc các mục đích riêng của bản thân và những mục đích chung.
Mặc dù mỗi nhà xã hội học trên đều tiếp cận hành động xã hội ở các
góc độ khác nhau, song họ đều thống nhất ở một số điểm:
Hành động xã hội bao giờ cũng có sự tham gia của yếu tố ý thức
dù ở mức độ khác nhau, có nghĩa là chủ thể hành động luôn gắn
cho hành động một ý nghĩa chủ quan nhất định.
Hành động xã hội có tính định h-ớng mục đích
Hành động xã hội là hành động h-ớng tới ng-ời khác
Trên thực tế, không phải hành động nào cũng có tính xã hội hay đều
là hành động xã hội. Những hành động chỉ nhằm tới các sự vật mà không
tính đến hành vi của ng-ời khác nh- việc hai ng-ời đi xe đạp vô tình va
quệt vào nhau trên đ-ờng phố không phải hành động xã hội, hành động
giống nhau của các cá nhân trong một đám đông nh- hành động mọi ng-ời
cùng mặc áo m-a khi đột nhiên trời đổ m-a cũng không đ-ợc coi là hành
động xã hội Với những hành động nh- thế này, chúng ta thấy hầu nhkhông có sự tham gia của yếu tố ý thức mà đó chỉ là sự phản ứng một cách
tự nhiên tr-ớc hoàn cảnh mà thôi. Chúng ta thực hiện hành động đó hoàn
toàn không có sự suy nghĩ. Thêm nữa, những hành động này th-ờng diễn ra
bất chấp ý chí hay mong muốn chủ quan của chúng ta. Các nhà xã hội học
gọi đây là hành động vật lí - bản năng.
Chúng ta cũng có thể so sánh hành động của loài vật với hành động
của con ng-ời. Chẳng hạn nh-, khi một con thú bị đói, nó sẽ ăn một cách
ngấu nghiến những gì mà nó có thể ăn đ-ợc chỉ để thoả mãn cơn đói. Trong
khi đó, ngay cả khi con ng-ời bị bỏ đói, họ cũng sẽ ăn theo văn hoá, theo
thói quen, cách ăn của họ cũng h-ớng đến những ng-ời xung quanh, nghĩa
là làm sao để việc ăn của mình không gây phản cảm cho ng-ời khác, và họ
lựa chọn thức ăn phù hợp với họ; ví dụ nh- một nhà tu hành theo Phật giáo


Chủ thể

Công cụ
ph-ơng tiện

Mục
đích

[3,137]
Mô hình trên đã cho thấy cấu trúc của hành động xã hội, những nhân
tố của hành động xã hội đ-ợc đề cập đến trong mô hình này có mối quan hệ
nhân - quả khăng khít với nhau. Xem xét các nhân tố của hành động xã hội,
chúng ta có thể nhận thấy mỗi hnh động x hội của con người có điểm
gốc l nhu cầu, động cơ của chủ thể, v điểm ngọn l mục đích cần đt
đ-ợc của chủ thể đó, tất nhiên, chu trình của hành động chịu sự chi phối của
yếu tố hoàn cảnh thực hiện hành động của chủ thể. Chúng ta hãy quay trở
lại ví dụ về một cá nhân khi bị đói, họ có nhu cầu là đ-ợc ăn. Tuy nhiên,
nếu anh đang ở nơi mà anh ta chỉ có một mình, anh ta có thể sẽ ăn nhanh
hơn để đạt đích (đ-ợc ăn no) nhanh hơn; ng-ợc lại, khi anh ta đang ở trong
một đám đông, anh ta sẽ lựa chọn cách ăn từ tốn hơn, vì hành động của anh
ta lúc này là định h-ớng vào đám đông nơi anh ta đang tham gia.

Khoá: 2004 - 2007

21


Luận văn thạc sỹ


tác động từ bên ngoài xã hội hay lý do về tâm lý... Mặc dù có nhiều nguyên
nhân đ-ợc đ-a ra nhằm chứng minh đó là lý do nam giới ít tham gia nh-ng
việc nam giới có tham gia hay không chính là xuất phát từ nhu cầu, động cơ
của bản thân họ. Đây chính là tính định h-ớng mục đích của hành động
tham gia vào việc thực hiện KHHGĐ. Đặt trong "hoàn cảnh" của hành động
xã hội, rõ ràng việc tham gia vào thực hiện KHHGĐ tất nhiên chịu tác động

Khoá: 2004 - 2007

22


Luận văn thạc sỹ

Học viên: Nguyễn Hoàng Nga

của rất nhiều hệ giá trị, chuẩn mực xã hội vì vậy không thể không khẳng
định rằng việc nam giới tham gia vào thực hiện KHHGĐ không h-ớng tới
những ng-ời khác đặt trong t-ơng tác với chủ thể hành động.
1.3.2. Lý thuyết vai trò
Khái niệm vai trò ngày càng đ-ợc sử dụng rộng rãi trong xã hội học
và tâm lý học xã hội. Khái niệm này xuất hiện từ đầu thế kỷ XX. Ng-ời đầu
tiên sử dụng khái niệm này là Ralph Linton, nhà nhân học văn hoá ng-ời
Mỹ. ông đã sử dụng khái niệm "vai trò" và "vị thế" để nghiên cứu cấu trúc
bên trong của hệ thống xã hội, của mối quan hệ giữa nhân cách và xã hội,
và kết hợp chủ nghĩa chức năng với tiếp cận lịch sử để nghiên cứu văn hoá
[5,216]. Trong xã hội học, khái niệm "vai trò" đã xuất hiện trong một số
công trình nghiên cứu của Herbert Mead, Robert K.Merton... và có thể nói,
khái niệm "vai trò" đ-ợc dùng nh- một trong những yếu tố căn bản để lý
giải các quan hệ xã hội (giữa cá nhân và cá nhân, giữa cá nhân và nhóm, cá

Các nhà xã hội học đã vay m-ợn từ kịch bản của sân khấu để miêu tả
các vai trò ảnh h-ởng nh- thế nào trong đời sống xã hội. Giống nh- các
nghệ sỹ trên sân khấu, tất cả chúng ta đóng các vai trò khác nhau trong đời
sống hàng ngày của chúng ta. Gắn với mỗi vai trò là một kịch bản mà nó
nói với chúng ta sẽ ứng xử nh- thế nào với ng-ời khác và họ sẽ t-ơng tác
trở lại chúng ta ra sao. Nh- vậy, mỗi một cá nhân sẽ có rất nhiều vai trò,
đ-ợc đem lại từ những hình mẫu xã hội khác nhau mà anh ta tham dự [3, 211].
Vậy là, vì cá nhân nắm giữ nhiều địa vị khác nhau vào cùng một thời
điểm nên họ thực hiện nhiều vai trò. Thế nh-ng trên thực tế sẽ có ng-ời
thậm chí có nhiều vai trò hơn địa vị bởi lẽ một địa vị bất kì th-ờng bao gồm
việc thực hiện một vài vai trò trong mối quan hệ với nhiều ng-ời khác nhau
[7,192]. Chẳng hạn, khi nói đến ng-ời phụ nữ và xem xét ng-ời phụ nữ này
nắm giữ là địa vị của một "ng-ời vợ". T-ơng ứng với địa vị này là tập hợp
vai trò bao gồm hành vi của cô đối với chồng và trách nhiệm của cô trong
việc chăm sóc chuyện nhà cửa hay khi xem ng-ời phụ nữ này nắm giữ địa
vị là một "ng-ời giáo viên", cô sẽ t-ơng tác với sinh viên (vai trò giảng dạy)
hay những giáo viên khác (vai trò đồng nghiệp)... Những ví dụ trên cho thấy
một ng-ời có thể nắm giữ hàng chục địa vị cùng một lúc và mỗi địa vị đều
liên kết với một tập hợp vai trò.
Ngoài ra, cá nhân không hoàn toàn thực hiện đ-ợc vai trò của anh ta
nếu không có sự hợp tác của nhóm xã hội mà anh ta tham gia. Thêm vào
đó, sự thực hiện vai trò đ-ợc hoàn thành bởi sự t-ơng tác với tác nhân khác.
Các quyền của một tác nhân đồng thời cũng là những nghĩa vụ về vai trò
của đối tác của anh ta, do đó tất cả các vai trò đều có các quyền và các
nghĩa vụ. Thực hiện vai trò chính là những hành vi thực tế của một cá nhân
đang chiếm giữ một địa vị. Những sự mong đợi xác định hành vi của con
ng-ời đ-ợc xem là phù hợp hay không phù hợp đối với ng-ời chiếm giữ
một địa vị bởi trong đời sống hiện thực, th-ờng tồn tại khoảng cách giữa cái
ng-ời ta sẽ làm và cái mà ng-ời ta thực sự làm. Thực tế chỉ ra, việc thực
hiện vai trò có thể rất dễ bị thay đổi.

chồng. Xã hội mong đợi anh ta tham gia vào những quyết định trên, mong
muốn anh ta chia sẻ với ng-ời vợ trách nhiệm của một ng-ời chồng nh-ng
trên thực tế, sự tham gia của anh ta vào những quyết định trên còn nhiều
hạn chế, không đ-ợc nh- mong muốn mà xã hội kỳ vọng vào anh ta. Thực
hiện vai trò này của anh ta đ-ợc thể hiện ở chỗ anh ta có tham gia vào
những quyết định quan trọng về KHHGĐ hay không? Trong những quyết
định nh- về số con và khoảng cách giữa các lần sinh, sự tham gia của anh ta
có ảnh h-ởng mạnh mẽ trong t-ơng quan với sự tham gia của ng-ời vợ
nh-ng trong quyết định lựa chọn và sử dụng các BPTT thì rõ ràng phải nhìn
nhận lại sự tham gia của anh ta bởi khi nhắc đến sử dụng các BPTT, ng-ời
ta th-ờng thấy sự tham gia của ng-ời vợ là chính. Trong các xã hội tr-ớc
đây, tồn tại một thực tế là quyết định có sinh con hay không là do ng-ời
chồng nh-ng việc sử dụng các BPTT để thực hiện KHHGĐ lại là ng-ời vợ.

Khoá: 2004 - 2007

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status