VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
MAI VĂN TUẤN
NGHI THỨC HÔN LỄ CỦA ĐỒNG BÀO CỜ HO TỈNH LÂM ĐỒNG
TRONG BỐI CẢNH CNH – HĐH HIỆN NAY
(NGHIÊN CỨU TRƢỜNG HỢP XÃ MÊ LINH, HUYỆN LÂM HÀ,
TỈNH LÂM ĐỒNG)
Chuyên ngành: Xã hội học
Mã số: 60 31 03 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ XÃ HỘI HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS MAI VĂN HAI
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu trích dẫn đều có nguồn gốc rõ ràng, các kết quả trong luận văn là
hoàn toàn trung thực, đảm bảo tính khách quan và hoàn toàn không trùng lặp
với bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào.
Học viên
Mai Văn Tuấn
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐÈ
NGHIÊN CỨU ........................................................................... 16
1.1. Các khái niệm làm việc của đề tài ...................................................... 16
1.2.Thao tác hóa khái niệm làm việc ......................................................... 23
1.3. Các tiếp cận lý thuyết của đề tài ......................................................... 24
1.4. Đặc điểm về địa bàn nghiên cứu và truyền thống của đồng bào
Cờ Ho ............................................................................................................. 30
Chƣơng 2: NGHI THỨC HÔN LỄ CỦA ĐỒNG BÀO CỜ HO XÃ
MÊ LINH QUA ĐIỀU TRA XÃ HỘI HỌC .................................. 41
2.1. Các bƣớc thực hiện trong nghi lễ thực hành hôn lễ ............................... 41
2.2. Các hoạt động cụ thể của các giai đoạn thực hành nghi thức
hôn lễ. .............................................................................................................. 42
2.3. Tác động của quá trình CNH – HĐH tới việc thực hành nghi
thức hôn lễ và xu hƣớng biến đổi nghi thức hôn lễ của đồng bào Cờ
Ho .................................................................................................................... 69
KẾT LUẬN .................................................................................................... 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 80
PHỤ LỤC
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Mô hình nghi thức hôn lễ của đồng bào Cơ Ho hiện nay............... 42
Bảng 2.2. Lễ vật trong lễ dạm ........................................................................ 44
Bảng 2.3. Số lần thực hiện lễ ăn dạm.............................................................. 46
Bảng 2.4. Thành phần tham dự lễ ăn hỏi ........................................................ 48
Bảng 2.5. Lễ vật trong lễ hỏi .......................................................................... 49
Bảng 2.6. Phƣơng tiện trong lễ rƣớc rể ........................................................... 53
Bảng 2.7. Thành phần tham dự lễ cƣới ........................................................... 55
Bảng 2.8. Hình thức mời cƣới ......................................................................... 56
Bảng 2.9. Trang phục cƣới của cô dâu chú rể ................................................. 59
phong tục lại có những ý nghĩa tinh thần riêng. Trong qúa trình tồn tại và phát
triển, ngƣời Cờ Ho đã sáng tạo ra nhiều giá trị văn hóa vật chất, tinh thần
phong phú, phù hợp với điều kiện tự nhiên nơi cƣ trú và trình độ phát triển kinh
1
tế xã hội của mình. Trong đó, hôn nhân là một thành tố quan trọng, góp phần
tạo nên nét đặc sắc trong văn hóa của cộng đồng cƣ dân này. Hôn nhân của
ngƣời Cờ ho chứa đựng và hiển thị nhiều giá trị, chuẩn mực văn hóa, biểu hiện
qua các quan niệm, quy tắc, loại hình và các nghi lễ trong hôn nhân. Tuy nhiên
trong những thập niên qua, dƣới tác động của của sự chuyển biến kinh tế - văn
hóa - xã hội tại địa phƣơng, sự giao lƣu thoa văn hóa với các tộc ngƣời lân cận
cùng với sự du nhập của Kitô giáo… ngƣời ta có thể cảm nhận thấy sự biến đổi
về phong tục hôn nhân của ngƣời Cờ Ho. Nhƣng tần xuất của sự biến đổi đó
thế nào? Cƣơng độ mạnh yếu ra sao? Và, nhất là, những lý do xã hội cụ thể nào
dẫn đến sự biến đổi ấy? Những câu hỏi này, cho đến nay, dƣờng nhƣ vẫn còn
bỏ ngỏ. Nói cách khác, các nghiên cứu khoa học về biến đổi hôn nhân của
ngƣời Cờ Ho trong bối cảnh CNH, HĐH hiện nay vẫn còn thiếu vắng, chƣa
theo kịp với sự vận hành và phát triển của đời sống hiện thực.
Xuất phát từ những lý do trên, đồng thời là một ngƣời đang sinh sống trên
địa bàn tỉnh Lâm Đồng nên tác giả chọn đề tài: “Nghi thức hôn lễ của đồng
bào Cờ Ho tỉnh Lâm Đồng trong bối cảnh công nghiệp hóa hiện đại hóa
hiện nay” (Nghiên cứu trƣờng hợp xã Mê Linh - huyện Lâm Hà - tỉnh Lâm
Đồng) làm đề tài luận văn thạc sỹ cho mình.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Gia đình là một thiết chế xã hội cơ bản, là nơi bảo tồn và phát huy truyền
thống văn hóa dân tộc. Sự ra đời và sự phát triển của gia đình chính là sự thích
nghi với các giai đoạn tiến hóa của xã hội loài ngƣời. Trong lịch sử có các công
trình nghiên cứu về sự phát triển các hình thức hôn nhân của J.J Bachofen (Das
giai đoạn thử nghiêm.
Nhƣ vậy có thể nhận thấy rằng, xã hội học về hôn nhân vẫn chủ yếu xoay
quanh chủ đề lựa chọn bạn đời là chính. Ngƣời ta không kết hôn với một
ngƣời bất kỳ nào đó mà không bị tác động bởi các yếu tố khác.
3
Chủ đề tiếp theo là những biến đổi trong qui luật hôn nhân; mặc dù đồng
phối hay nội hôn là nội dung cơ bản của hôn nhân, nhƣng trong những hoàn
cảnh xã hội khác nhau điều đó thể hiện ra sao, cơ chế nội hôn (endogamy) hay
đồng phối (homogamy) có những biến đổi ra sao trong từng thời kỳ.
Rockwell (1976), chẳng hạn, sau khi nghiên cứu 443.520 cặp vợ chồng trong
cuộc tổng điều tra dân số Mỹ năm 1970 nhận xét rằng, mức độ đồng phối (liver
of homogamy) theo học vấn ở Mỹ trong những năm 60 - 70 giảm đi so với hồi
đầu thế kỉ. Kerchoff (1964) cũng cho rằng có nhiều bằng chứng cho thấy một xu
hƣớng chung là mức độ đồng phối trong một số khía cạnh nào đó tăng lên hoặc
giảm đi trong những khía cạnh khác. Cuộc nghiên cứu của viện dân số Pháp
(INED) năm 1983 – 1984 cho thấy những thay đổi lớn về địa điểm gặp gỡ của
các cặp vợ chồng tƣơng lai thuộc những thế hệ kết hôn khác nhau. Nếu từ hồi
đầu thế kỉ cho đến những năm 60 thanh niên Pháp thƣờng tìm đƣợc bạn trăm
năm trong các cuộc thăm viếng, vũ hội, hay nơi làm việc…thì sang thập kỉ 70,80
của thế kỷ XX ngƣời ta hay gặp nhau ở các nơi công cộng, ở câu lạc bộ, nhà hát,
sàn nhảy, hộp đêm… (M. Bozon và F. Heran,1984).
Từ nửa sau thế kỷ XX, giới khoa học xã hội phƣơng Tây đã dấy lên cuộc
tranh luận sôi nổi về hôn nhân hiện đại và cho đến nay vẫn chƣa ngã ngũ.
Trong công trình “Cách mạng thế giới và các mẫu hình gia đình”, Goode dựa
trên những cứ liệu ở nhiều nƣớc khác nhau, ông cho rằng công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đã đƣa đến kết quả là cá nhân có sự tự do lớn hơn, thoát khỏi uy
quyền của cha mẹ hay những nhóm anh em bà con. Sự độc lập kinh tế tạo cơ
cả số khách mời.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước
Cũng giống nhƣ trên thế giới, ở Việt Nam từ trƣớc đến nay cũng đã có
nhiều tác giả nghiên cứu về hôn nhân, trong đó có các nghi thức về cƣới hỏi.
Chẳng hạn, trƣớc Cách mạng tháng Tám 1945, đã có nhiều tác giả đề cập đến
các vấn đề của hôn nhân ở Việt Nam nhƣ Phan Kế Bính, Đào Duy Anh,
5
Nguyễn Văn Huyên, Toan Ánh… Đặc điểm chung của các nhà nghiên cứu
này là họ đều xuất phát từ các góc nhìn sử học, văn hóa học và dân tộc học để
mô tả và bình luận về các thủ tục và nghi lễ hôn nhân cổ truyền nói chung,
nghĩa là những mô hình hôn nhân đã đƣợc định hình trong lịch sử.
Còn việc khảo sát Xã hội học về hôn nhân, nghĩa là bao gồm cả hai
phƣơng pháp định tính và định lƣợng thì đến cuối những năm 70, đầu những
năm 80 của thế kỷ trƣớc mới đƣợc tiến hành. Chẳng hạn, đó là nghiên cứu về
hộ gia đình, các quan hệ về hôn nhân, địa vị ngƣời phụ nữ của F. Houtart
trong công trình về Hải Vân, một xã ở Việt Nam. Rồi những nghiên cứu về
tiêu chuẩn lựa chọn ngƣời bạn đời trong Những định hướng việc hôn nhân
của thanh niên của tác giả Mai Kim Châu, những nghiên cứu về hôn nhân và
gia đình của Mai Huy Bích, Vũ Mạnh Lợi, Lê Ngọc Văn, Nguyễn Thị Thanh
Tâm… công bố trên các tạp chí Xã hội học, Nghiên cứu Gia đình và Giới
trong những năm gần đây.
Trong số những nghiên cứu về hôn nhân ở Việt Nam thì vấn đề vai trò của
cha mẹ và họ hàng về quyền quyết định hôn nhân, cũng nhƣ các tiêu chuẩn
trong việc lựa chọn ngƣời bạn đời đƣợc nhiều ngƣời quan tâm hơn cả. Chẳng
hạn, đó là tác giả Bình Minh với Về quan hệ hôn nhân trong gia đình nông
thôn hiện nay, Phạm Thanh Vân với Một vài ý kiến về thực trạng hôn nhân va
gia đình ở Hà Nội. Bên cạnh đấy, nhiều tác giả cũng nhấn mạnh đến chủ đề
đóng sẵn thay dần cho bánh chƣng, bánh dầy theo phong tục. Thời gian cƣới
trƣớc đây kéo dài 2 - 3 ngày, nay rút xuống còn 1 ngày. Quà mừng cƣới thì
thay cho rƣợu, thịt, gạo… thì nay do sự chi phối của kinh tế thị trƣờng nên
khách mời đều mừng bằng tiền (trong phong bì), vừa nhẹ nhõm vừa tiện lợi
cho gia chủ.
Trong các nghiên cứu về hôn nhân ở Việt Nam, chúng ta cũng cần đặc biệt
nhắc đến luận văn và luận án của các học viên cao học và nghiên cứu sinh tiến
sĩ, nhất là ở các trƣờng đại học hay các học viện khoa học xã hội ở nƣớc ta. Do
7
trang viết có hạn, ở đây chúng tôi chỉ xin dừng lại ở các luận án tiến sĩ. Chẳng
hạn, trong luận án Các mô hình hôn nhân ở đồng bằng sông Hồng từ truyền
thống đến hiện đại, Khuất Thu Hồng đã chọn ba khía cạnh cơ bản để khảo sát
và phân tích, đó là: 1) Những ngƣời tham gia vào việc lựa chọn và quyết định
hôn nhân; 2) Tiêu chuẩn lựa chọn ngƣời bạn đời và 3) Các thủ tục lễ nghi trong
hôn nhân. Trong khi đó Ngô Thị Thanh Quí, trong luận án Biến đổi mô hình
phong tục hôn nhân ở một làng Việt thuộc châu thổ sông Hồng nửa cuối thế kỷ
XIX – đầu thế kỷ XX, lại phân chia hôn nhân của ngƣời Việt thành 3 giai đoạn:
1945 - 1959; 1960 - 1985 và 1986 - 2013, với sự vận hành và biến đổi của 5
tiêu chí là: tuổi kết hôn, phạm vi không gian kết hôn, tiêu chuẩn lựa chọn ngƣời
bạn đời, quyền quyết định hôn nhân và nghi thức hôn lễ.
Riêng ở nghi thức hôn lễ, trong luận án của cả hai tác giả đều cho thấy
trong bối cảnh CNH, HĐH đất nƣớc, các nghi thức hôn lễ ở Việt Nam đều
vận hành theo khuynh hƣớng vừa cởi mở, tiếp nhận cái mới, song cũng vừa
cố gắng giữ gìn, bảo lƣu các giá trị truyền thống của dân tộc. Cụ thể là, trong
các cuộc hôn nhân một mặt ngƣời ta ngày càng thực thi các nghi thức pháp lý,
đổi mới trang phục cô dâu chú rể, giảm bớt các lễ thức (từ lục lễ giảm dần chỉ
còn lễ ăn hỏi và lễ cƣới), đón dâu bằng ô tô, xe máy, quay phim, chụp ảnh,
Để đạt đƣợc mục tiêu trên đề tài có nhiệm vụ:
- Thực hiện nghiên cứu hồi cố để có thể chỉ ra đƣợc những biến đổi trong
nghi thức hôn lễ của đồng bào Cờ Ho hiện nay. Để thực hiện nghiên cứu này,
chúng tôi chọn năm 1986 để chia nghiên cứu ra làm hai giai đoạn. Giai đoạn
từ 1985 trở về trƣớc, tức là giai đoạn trƣớc Đổi mới. Giai đoạn hai từ năm
1986 cho tới nay, tức là giai đoạn thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện
đại hóa. Làm nhƣ vậy để có cơ sở so sánh và làm rõ hơn về những biến đổi
trong nghi thức hôn lễ của đồng bào Cờ Ho thời kỳ thúc đẩy công nghiệp hóa,
hiện đại hóa
- Xây dựng cơ sở lý luận và phƣơng pháp luận để nghiên cứu, trong đó
9
bao gồm: Định nghĩa các khái niệm làm việc (nhƣ nghi thức hôn lễ, đồng bào
Cơ Ho, CNH - HĐH); thao tác hóa khái niệm “Nghi thức hôn lễ”, lựa chọn
cách tiếp cận lý thuyết (tác giả dự kiến lựa chọn hai lý thuyết: Lý thuyết sự
lựa chọn hợp lý và lý thuyết sự tiếp biến văn hóa)
- Điều tra, khảo sát, xử lý số liệu và viết luận văn theo nội dung đã đƣợc
đƣa ra từ mục tiêu nghiên cứu.
- Phân tích, bình luận và đánh giá các vấn đề đƣợc đặt ra trong quá trình
nghiên cứu, tìm hiểu xem ảnh hƣởng của CNH - HĐH tới nghi thức hôn lễ
của đồng bào Cờ Ho và những định hƣớng giải quyết.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Sự vận hành và biến đổi nghi thức hôn lễ của đồng bào Cờ Ho tỉnh Lâm
Đồng trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay.
4.2. Khách thể nghiên cứu
Là các hộ ngƣời Cờ Ho(Vì ngƣời Cờ Ho có năm nhóm nên trong nghiên
cứu này chúng tôi chỉ đi sau vào nghiên cứu nhóm Cờ Ho-Cil) hiện đang sinh
diễn ra nhƣ thế nào? Tần suất và cƣờng độ của các nghi tiết đƣợc thể hiện ra sao?
Quá trình CNH - HĐH hiện nay có ảnh hƣởng nhƣ thế nào tới việc thực
hành nghi thức hôn lễ của đồng bào Cờ Ho xã Mê Linh hay không?
5.2. Giả thuyết nghiên cứu
Từ những câu hỏi nghiên cứu nêu trên chúng tôi đƣa ra giả thuyết nghiên
cứu nhƣ sau:
Giả thuyết thứ nhất: Nội dung hôn lễ của đồng bào Cờ Ho hiện nay về nội
dung nhìn chung vẫn còn chứa đựng những nghi thức truyền thống cốt lõi
trƣớc đây, nhƣng về hình thức và cách thức thực hiện đã có nhiều biến đổi.
Một số hủ tục lạc hậu đƣợc loại bỏ, thay vào đó là những yếu tố mang tính
hiện đại hơn. Có thể nói đó là sự hội nhập giữa nghi thức cƣới của đồng bào
Cờ Ho và dân tộc Kinh.
11
Giả thuyết thứ hai: Quá trình CNH - HĐH diễn ra làm biến đổi nhiều mặt
của đời sống kinh tế - xã hội, trong đó có nghi thức hôn lễ của đồng bào Cờ
Ho. Những yếu nhƣ kinh tế, chính sách của nhà nƣớc, thƣơng mại và dịch vụ,
cơ sở hạ tầng giao thông, truyền thông - thông tin có tác động một cách trực
tiếp hoặc gián tiếp đến sự biến đổi trong việc thực hành nghi thức hôn lễ. Tuy
nhiên những biến đổi này không làm mất đi toàn bộ bản sắc văn hóa mà đó
chỉ là sự giao lƣu và tiếp biến trong việc thực hành nghi thức hôn lễ của đồng
bào Cơ Ho đáp với dân tộc khác cùng sinh sống trên đại bàn. Trong đó có
những tập tục không hề bị ảnh hƣởng bởi quá trình CNH - HĐH nhƣ tập tục
mai mối, lễ vật, chuỗi hạt cƣờm, v.v…
5.3. Lƣợc đồ phân tích
Bối cảnh KT – XH:
- Công nghiệp hóa
5.4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài là một cuộc khảo cứu thực nghiệm xã hội học, vì vậy chúng tôi
chọn một số phƣơng pháp nghiên cứu chuyên nghành đã đƣợc đào tạo để áp
dụng trong đề tài, cụ thể nhƣ sau.
Phương pháp thu thập và xử lý thông tin, tư liệu sẵn có: Phƣơng pháp này
xuất phát từ việc tìm đọc và chắt lọc các tƣ liệu thông qua sách báo, internet,
tạp chí, các báo cáo khoa học, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nƣớc,
các thống kê, báo cáo tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội của địa bàn nghiên cứu.
Các tƣ liệu này đƣợc chúng tôi tổng thuật. lƣợc thuật theo các chủ đề
thông qua phần tổng quan tài liệu để thấy rõ những mặt mạnh, mặt yếu của
các nghiên cứu trƣớc, đồng thời nắm bắt đƣợc những phƣơng pháp mà các tác
giả khác đã sử dụng để rút kinh nghiệm cho bản thân trong quá trình triển
khai nghiên cứu trên thực địa. Từ đó có một cái nhìn tổng quát và toàn diện
cho quá trình nghiên cứu của mình.
Phương pháp phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi: Chúng tôi sử dụng 120
bảng hỏi, trong đó 60 bảng hỏi cho những ngƣời đã kết hôn trƣớc năm 1986
và 60 bảng hỏi cho những ngƣời kết hôn sau năm 1986.
Số liệu thu về đƣợc chúng tôi sẽ đƣợc xử lý bằng chƣơng trình xử lý số
liệu SPSS.
Phương pháp phỏng vấn sâu: Chúng tôi tiến hành phỏng vấn sâu 20
trƣờng hợp, bao gồm cán bộ lãnh đạo và ngƣời dân về hôn lễ của ngƣời Cờ
Ho dƣới tác động của sự thay đổi cảnh quan môi trƣờng địa lý, sự tác động
của công nghiệp hóa, hiện đại hóa, sự thay đổi cơ chế quản lý kinh tế, sự tiến
bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, chính sách dân số và kế hoạch hóa gia
đình, cũng nhƣ những đặc điểm về tâm lý, văn hóa và lối sống cổ truyền của
các cƣ dân trên địa bàn khảo sát, v.v…
13
khái niệm làm việc, cách tiếp cận lý thuyết của đề tài và giới thiệu về địa bàn
nghiên cứu, trong đó nhấn mạnh đến truyền thống văn hóa của ngƣời Cờ Ho.
Chƣơng 2 dành cho việc mô tả và phân tích sự vận hành và biến đổi nghi thức
hôn lễ của ngƣời Cờ Ho dƣới tác động của tiến trình CNH, HĐH hiện nay của
đất nƣớc.
15
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Các khái niệm làm việc của đề tài
1.1.1. Nghi thức hôn lễ
Có thể định nghĩa nghi thức hôn lễ là các khuôn mẫu ứng xử đƣợc lập đi
lập lại và cử hành vào một thời điểm thích hợp trong hôn nhân để chính thức
công nhận hai ngƣời đã là vợ chồng. Mỗi một quốc gia đều có quy định về
nghi thức kết hôn khác nhau, có quốc gia theo nghi thức pháp lý, có quốc gia
theo nghi thức phong tục, có quốc gia thực hiện cả hai nghi thức trên. Ở nƣớc
ta trong việc hôn nhân ngƣời ta thƣờng thực hành đồng thời cả hai loại nghi
thức đó là nghi thức pháp lý và nghi thức phong tục. Sự khác nhau giữa hai
nghi thức này đƣợc biểu hiện nhƣ sau:
Trƣớc hết, hãy nói về nghi thức pháp lý. Nghi thức này thƣờng rất đơn
giản, ngƣời ta chỉ cần đến cơ quan hành chính cơ sở khai báo các điều kiện về
chế tài hôn nhân nhƣ tuổi đời, tình trạng hôn nhân, các điều kiện kinh tế - xã
hội theo quy định, sau đó chính quyền công nhận bằng cách cấp cho họ giấy
đăng ký kết hôn, là đủ. Nhà nghiên cứu Đoàn Văn Chúc cho biết, về điều kiện
hôn nhân của nam giới, sách Lễ ký của Trung Quốc có viết: “Ngƣời ta 20 tuổi
còn yếu nhƣợc, đến tuổi ấy thì làm lễ đội mũ; đến 30 tuổi thì mạnh mẽ, có gia
thất”. Còn với nữ giới: “Con gái đến 15 tuổi làm lễ cài trâm và 20 tuổi thì lấy
Chí Minh, trồng cây lƣu niệm ở địa phƣơng, v.v…
Có điều cần lƣu ý là, trong thực tế có những nghi thức hôn lễ đƣợc các thế
hệ nối tiếp nhau coi là phong tục cổ truyền, song kỳ thật, ở một thời điểm nào
đó, chúng vốn là những điều luật của nhà nƣớc. Chẳng hạn, trong sách Hồng
Đức thiện chính thư thời Lê, lễ vật dẫn cƣới đã đƣợc quy định rất cụ thể nhƣ
tiền bao nhiêu quan, lụa mầu mấy tấm, rƣợu mấy vò, bao nhiêu mâm cau tƣơi,
trầu lá, v.v… Những điều luật này lúc đầu mang tính bắt buộc, song do đƣợc
thực thi lâu ngày nên dần dần chúng đã trở thành những chuẩn mực chung của
17
cộng đồng, đƣợc ngƣời dân thực thi một cách tự nguyện và trở thành phong
tục. Thuật ngữ “nghi thức hôn lễ” mà chúng tôi sử dụng trong nghiên cứu này
đƣợc hiểu theo nghĩa đó.
Tóm lại, trong hôn nhân, nếu nghi thức pháp lý là một hệ thống thể chế
chung, phản ánh mối quan hệ giữa công dân với nhà nƣớc hay giữa công dân
với công dân, thì các nghi thức phong tục là hệ thống thể chế quy định cách
ứng xử của các vai trò xã hội trong hoạt động sinh tồn đƣợc lặp đi lặp lại từ
thế hệ này sang thế hệ khác, ở mỗi nhóm hay mỗi cộng đồng ngƣời. Thực
chất đây cũng là một thứ luật, dẫu là bất thành văn, nhằm bổ sung cho luật
pháp của Nhà nƣớc. Đối với việc cƣới hỏi ở cộng đồng, dù đã có sự đảm bảo
đầy đủ về pháp lý, nhƣng nếu chƣa thực thi các nghi thức phong tục, thì trong
thâm tâm ngƣời ta vẫn cảm thấy có gì đó chƣa ổn, dƣờng nhƣ việc kết hôn
vẫn chƣa đƣợc hoàn tất. Trạng thái tâm lý này không chỉ có ở cô dâu chú rể
hay họ hàng hai bên, mà còn ở tất cả bà con lối xóm, nơi đôi tân lang và tân
nƣơng đang sống.
Đây cũng chính là lý do để chúng tôi lựa chọn các nghi thức hôn lễ theo
phong tục cổ truyền làm đối tƣợng của nghiên cứu này. Các thành tố cơ bản
của nghi thức hôn lễ sẽ đƣợc làm rõ ở phần thao tác hóa khái niệm.
Xrê thì Cờ Ho vốn là tên ngƣời chủ nƣơng đầu tiên đã khai khẩn vùng đất của
nhóm Xrê, về sau trải qua một thời kỳ dài trong lịch sử từ tên ngƣời Cờ Ho
mới chuyển thành tộc danh. Thực ra trong vấn đề dân tộc ở Lâm Đồng, Mạc
Đƣờng cũng chia sẻ ý kiến với các học giả ngƣời Pháp, nhƣng nội dung đƣa
ra có sự khác biệt với Bùi Minh Đạo đƣa ra ở trên. Mạc Đƣờng viết rằng:
“căn cứ trên những tài liệu điền dã dân tộc học từ những năm 50 của thế kỷ
này, các nhà nghiên cứu đã nhận định tộc danh Cờ Ho bắt nguồn từ một khái
niệm trong tiếng Chăm cổ có nghĩa tƣơng ứng là ngƣời ở “phía trên”, “ngƣời
miền núi”. Tộc danh Cờ Ho đƣợc đặc trƣng cho các nhóm dân tộc có chung
một ngôn ngữ ở vùng núi Lâm Viên, là một tộc danh có tính tập hợp cao
19
nhóm tộc ngƣời cùng ngôn ngữ trong một vùng địa lý dân cƣ cụ thể”…
Nhƣ vâỵ, nguồn gốc danh xƣng Cờ Ho đã rõ phần nào, nó bắt nguồn từ
cách gọi của ngƣời Chăm để chỉ những ngƣời thuộc ngữ hệ Môn-Khmer sống
gần với họ và không cùng ngôn ngữ với họ. Những tộc ngƣời đó không chỉ là
ngƣời Xrê, ngƣời Cil, ngƣời Lạch, Ngƣời Nộp( hiện nay đƣợc gộp chung và
tộc ngƣời Cờ Ho) mà cả ngƣời Mạ, ngƣời Mnông, ngƣời Xtiêng… cũng có
thể đƣợc ngƣời Chăm gọi là ngƣời Cơ Ho. Ngƣời Chăm gọi những tộc ngƣời
nói tiếng Môn - Khơmer là “Kơho”
1.1.3. Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Theo cuốn Từ điển chính trị, đƣợc biên soạn dƣới sự chỉ đạo của giáo sƣ
ngƣời Nga là B. N. Ponamarép thì công nghiệp hóa hóa là sự xây dựng và phát
triển nền đại công nghiệp hóa, trƣớc hết là những ngành sản xuất công cụ và tƣ
liệu sản xuất. Tuy nhiên, công nghiệp hóa hóa có sự khác nhau ở các nƣớc tƣ bản
chủ nghĩa và xã hội chủ nghĩa. Ở các nƣớc tƣ bản chủ nghĩa, công nghiệp hóa
hóa tiến hành dựa vào sự bóc lột công nhân làm thuê và sự phá sản của nông dân
trong nƣớc, cũng nhƣ dựa vào sự cƣớp bóc nhân dân lao đọng của các nƣớc