Tình hình phát triển của nghệ thuật hát then ở hai xã vĩnh yên và nghĩa đô, huyện bảo yên, tỉnh lào cai - Pdf 29


TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA LỊCH SỬ

NGUYỄN THỊ LUÂN

TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN
CỦA NGHỆ THUẬT HÁT THEN
Ở HAI XÃ VĨNH YÊN VÀ NGHĨA ĐÔ,
HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lịch sử văn hóa Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. NGUYỄN THỊ BÍCH HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN


Đề tài khóa luận này không trùng với kết quả nghiên cứu của các tác giả
khác. Nếu trùng tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.

Hà Nội, ngày 05 tháng 5 năm 2014
Tác giả

Nguyễn Thị Luân
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3
4. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu 4
5. Đóng góp của đề tài 5
6. Bố cục của khóa luận 5

2.1.2. Đặc điểm kinh tế - văn hóa - xã hội 33
2.2. SỰ PHÁT TRIỂN CỦA NGHỆ THUẬT HÁT THEN TRONG HAI XÃ
VĨNH YÊN VÀ NGHĨA ĐÔ, HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI. 35
2.2.1. Các nghệ nhân tham gia vào hoạt động Then 35
2.2.2. Hát Then được đưa vào trường học 37
2.2.3. Sự ra đời của câu lạc bộ hát Then 41
2.2.4. Hội diễn văn nghệ về Then 43
2.3. ĐẶC ĐIỂM CỦA NGHỆ THUẬT HÁT THEN Ở HAI XÃ VĨNH YÊN
VÀ NGHĨA ĐÔ, HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI 44
2.3.1. Tính quần chúng 44
2.3.2. Phản ánh chân thực cuộc sống của người dân miền núi 45
2.3.3. Thể hiện mong ước của người dân trong cộng đồng 48
2.3.4. Yếu tố tôn giáo tronng Then 49
2.4. HOẠT ĐỘNG BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY NGHỆ THUẬT HÁT THEN
TRONG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI TÀY Ở HAI XÃ VĨNH
YÊN VÀ NGHĨA ĐÔ, HUYỆN BẢO YÊN, TỈNH LÀO CAI. 52
2.4.1. Chủ trương của nhà nước 53
2.4.2. Chính sách của địa phương 55
KẾT LUẬN 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 59
PHỤ LỤC 1

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài
Nói đến Then là nói đến loại hình sinh hoạt văn hóa, tín ngưỡng dân gian
của người Tày, là hình thức diễn xướng dân gian dân tộc có từ ngàn xưa.Then

Là một người con của dân tộc Tày, tôi nhận thức rõ điều đó. Bằng niềm
tự hào và trân trọng những nét đẹp văn hóa của dân tộc mình, tôi đã chọn
“Tình hình phát triển của nghệ thuật hát Then ở hai xã Vĩnh Yên và Nghĩa
Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai” là đề tài khóa luận tốt nghiệp.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trước năm 1945, hầu như không có các công trình sưu tầm, nghiên cứu
trực tiếp về Then.
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Then đã thu hút được sự quan tâm
của các nhà sưu tầm, nghiên cứu và đã được giới thiệu trên các phương tiện
thông tin đại chúng dưới nhiều hình thức: Cải biên sáng tác, dịch và giới thiệu
văn bản, sưu tầm nghiên cứu, in sách, tạp chí,…
Từ năm 1945 đến năm 1970 là thời gian Then được sưu tầm để khai thác
chủ yếu ở góc độ nghệ thuật đàn hát và múa. Tiêu biểu là việc giới thiệu và
xuất bản các trích đoạn Then Khảm hải (vượt biển), một bản của Hoàng Hạc
(trong “Truyện thơ Tày Nùng”, Nhà xuất bản văn học ấn hành) và một bản
của Nông Minh Châu. “Khảm hải” thực ra chỉ là một đoạn trong hành trình
Then lên Mường Trời, thường được tiến hành trong các đại lễ của Then.
Sau năm 1970, việc sưu tầm và nghiên cứu Then được đẩy mạnh. Tác giả
Dương Kim Bội cho ra mắt cuốn “Lời hát Then”, Nxb Việt Bắc, 1975, đây là
cuốn sách đầu tiên giới thiệu với độc giả về nội dung chính của hát then dưới
dạng nguyên bản tiếng Tày. Ngoài ra còn có bài viết “Quá trình chuyển hóa
3

của Then và yếu tố hiện thực trong Then” đăng trên Tạp chí văn học, số 3,
1977 của tác giả Nông Quốc Thắng, bài viết tập trung phân tích vị trí của
Then trong đời sống văn hóa tín ngưỡng của người Tày.
Từ năm 1980 đến năm 1990, việc sưu tầm, nghiên cứu Then có phần bị
chững lại. Từ năm 1990 trở về đây, việc sưu tầm và nghiên cứu Then có phần
khởi sắc với những thành tựu trong việc sưu tầm và giới thiệu các văn bản Then.
Nhiều công trình Then đượcgiới thiệu dưới hai dạng: dạng in ấn xuất bản và

nói riêng.
Tìm hiểu các yếu tố văn hóa tín ngưỡng và đánh giá một cách khách
quan vị trí của Then trong đời sống tâm linh của người Tày ở hai xã Vĩnh Yên
và Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Rút ra những giá trị cũng như hạn chế của Then để từ đó đưa ra những
đề xuất cho việc bảo tồn và phát huy trong đời sống hiện nay.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Khóa luận chỉ đi sâu vào nghi lễ Then cùa người Tày ở
hai xã Vĩnh Yên và Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai nhằm góp phần
cung cấp tư liệu và làm rõ những đặc điểm của loại hình nghệ thuật này trong
đời sống của cộng đồng.
Về không gian: Tìm hiểu nghi lễ Then của người Tày ở hai xã Vĩnh
Yên và Nghĩa Đô, huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai.
Thời gian: Những biểu hiện của Then Tày ở hai xã trên từ năm 2000
đến 2013 với những giá trị tuyền thống và giao thoa văn hóa.
4. Nguồn tƣ liệu và phƣơng pháp nghiên cứu
4.1. Nguồn tƣ liệu
Nguồn tư liệu chủ yếu được sử dụng trong đề tài này là các sách báo,
luận văn và tạp chí. Đặc biệt, người viết còn sử dụng tài liệu thu thập được từ
phòng Văn hóa và Thông tin huyện Bảo Yên, tỉnh Lào Cai và các nghệ nhân
qua công tác điền dã.
5

4.2. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận này, tôi đã vận dụng phương pháp nghiên cứu sau:
Sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp logic, trong đó
phương pháp lịch sử là chủ yếu.
Sử dụng phương pháp khảo sát điền dã dân tộc học tại địa bàn nghiên
cứu để thu thập thông tin, số liệu.
Sử dụng phương pháp giám định tư liệu, xử lý các tài liệu điền dã đã

quan niệm khác nhau về Then, nhưng hầu hết các quan niệm đều đi đến một
khái niệm chung gần thống nhất như sau:
Một là, Then là tên gọi một hình thức nghi lễ có sử dụng nhạc cụ (đàn
tính, chùm nhạc xóc bằng đồng) và những khúc hát thờ cúng. Then còn là tên
gọi chỉ các hình thức dân ca của người Tày gọi là hát Then thường diễn ra
trong các dịp lễ trọng đại của làng xã (hội lồng tồng - lễ xuống đồng, lễ hội
Nàng Hai - lễ hội Nàng Trăng…) hay trong gia đình (lễ cầu bình an, giải hạn,
làm nhà mới, đám cưới, cầu hoa…) [5, 21 - 22]
Hai là, Then là “tiên” (tiếng Tày gọi là sliên). Tiên là do biến âm của
chữ Thiên tức là trời. Như vậy, người làm Then thuộc “dòng dõi” thần tiên là
người của nhà trời. Họ là người giữu mối liên hệ giữa trần gian với Ngọc
Hoàng và Long Vương. Nhiều tài liệu nói họ là người biết nghi lễ cúng bái,
khi làm Then họ đại diện cho người trần gian gặp người của mường trời cầu
xin thần linh cho trần gian được mọi sự tốt lành, tai qua nạn khỏi, sinh con đẻ
cái đầy nhà [5, 22].
1.1.2. Nguồn gốc của hát Then
Nghi lễ Then xuất hiện từ lâu đời trong đời sống văn hóa tinh thần của
người Tày. Người ta khó có thể xác định một cách chính xác về nguồn gốc
của Then. Tuy nhiên, “Trong Hội nghị sơ kết công tác sưu tầm , nghiên cứu
7

về Then tháng 12 -1975 được tổ chức tại Sở Văn hóa Thông tin khu Tự trị
Việt Bắc, phần lớn các nhà nghiên cứu, sưu tầm có mặt trong Hội nghị đều
thống nhất với ý kiến của hai ông Bế Văn Phủng (1567 -1637) và ông Nông
Quỳnh Văn (1565 - 1640) cho rằng Then có từ thời Lê, Mạc (cuối thế kỷ XVI
đầu thế kỷ XVII). Ý kiến này dựa vào truyền thuyết dân gian và một bản văn
bản vần chép tay chữ Nôm sưu tầm được ở Đức Long - Hòa An - Cao Bằng
tên là Phá tề tể ôn có nói tới nguồn gốc của Then. Nhà nghiên cứu văn hóa
dân gian Hoàng Triều Ân trong cuốn Then Tày những khúc hát, sau khi phân
tích một số bài Then cổ của người Tày và chứng minh rằng người Tày có

những điều tốt lành vào năm mới.
Còn các loại Then chữa bệnh, Then văn nghệ có thể diễn ra vào thời
gian bất kì trong năm. Đối với Then chữa bệnh cứ khi nào gia đình có người
ốm, chữa mãi mà không khỏi thì gia chủ sẽ mời thầy về làm Then chỉ cần
tránh những ngày tuyệt họ, ngày khắc với gia chủ là được. Then văn nghệ
thường diễn ra vào các dịp đầu xuân năm mới, ngày hội của làng bản, trong
các buổi giao lưu, hội diễn…
Trước đây, người Tày thường tổ chức các nghi lễ Then vào buổi tối, vì họ
quan niệm ban ngày của con người là ban đêm của ma và ngược lại ban đêm
của con người là ban ngày của ma. Tổ chức Then vào buổi tối để thầy Then
có thể dễ dàng gặp và nói chuyện với ma hơn ban ngày. Nhưng ngày nay do
ảnh hưởng của cuộc sống hiện đại họ không còn quá tin vào chuyện ma quỷ
nên họ thường tổ chức vào ban ngày vừa để việc chuẩn bị đồ lễ, vật cúng diễn
ra dễ dàng hơn.
1.2.2. Không gian diễn ra hoạt động Then
Không gian biểu diễn nghi lễ Then chủ yếu trong không gian nhỏ hẹp
(trong nhà và trước bàn thờ là chủ yếu). Đây là không gian chính để trình bày
9

các bài hát Then, các trò diễn và các trò chơi dân gian. Ngoài ra thanh niên
nam nữ và thầy Then, thầy Tào cùng tham gia ném còn, đánh én ở ngoài
đồng. Nghi lễ Then mô tả lại cuộc hành trình của thầy Then xuất hồn đi đến
các nơi lên Thiên đình, xuống Thủy cung, lên núi Khau khắc, xuống cõi
âm…trong không gian này hầu hết người xem không thể hiểu được những
hành động của thầy Then, mà chỉ có nàng Hương và những người hành nghề
Then mới có thể hiểu và biết được con đường đi của các thầy.
Ngoài ra, nghi lễ Then còn được tổ chức trên sàn và dưới gầm sàn nhà
của người Tày hay ở một khu ruộng bằng phẳng nằm giữa làng. Phần nghi lễ
Then chủ yếu thực hiện trên nhà là chính, gia chủ phải trang trí từ của tịch
trong nhà cho đến cửa hoa và chỗ ngồi của thầy Then. Phần hội như đánh yến

hát hay, biết nhiều làn điệu đàn giỏ về làm lễ trong ngày này để mọi người
cùng thưởng thức.
Lễ cầu tự
Người Tày ví con cái là bông hoa. Do vậy, những đôi vợ chồng mới
cưới hay không có con đều mời Then về làm lễ cầu tự hay còn gọi là cầu
va…Họ hy vọng Then sẽ hát xin với Hoa Vương Thánh Mẫu - Nữ thần trông
coi về tình yêu, hạnh phúc, con cái của thiên hạ. Người Tày cho rằng bà là bà
mụ của những đứa trẻ, do vậy bà có thể ban phát hoa vàng, hoa bạc cho ai là
tùy. Mặt khác, bà có thể ban phát sức khỏe cho bọn trẻ…
Lễ cầu mùa
Đây là lễ mang tính chất cộng đồng, làng bản. Thường được tổ chức
vào ngày đầu xuân tại nơi thờ thổ công, miếu thần hoặc trên thửa ruộng của
làng. Người ta mời ông Then, bà Then có nơi mời thầy Mo, thầy Tào về làm
lễ với mục đích cầu mùa. Lễ này ngoài những đoạn hát mang tính nghi lễ, ông
11

bà Then còn hát về những đoạn năm tháng, lịch, kinh nghiệm làm ăn của từng
tháng trong năm. Ngày này còn là ngày tụ hội làng bản vui xuân, chúc mừng
năm mới vui vẻ sau một năm làm việc mệt nhọc.
1.3.2. Then chữa bệnh
Trước đây, dân tộc Tày cũng như các dân tộc thiểu số khác đều cho
rằng người ốm, chết do nhiều nguyên nhân. Nhiều người ốm do không hiểu
nguyên nhân sinh bệnh nên họ cho rằng do ma quỷ làm hại. Có thể do hồn bị
xúc phạm bỏ đi hay do quá sợ hãi cũng hốt hoảng bỏ đi. Khi đó muốn biết
người ốm bị làm sao, người ta phải nhờ đến thầy Then giải quyết. Thầy Then
có khả năng thương lượng với thần linh, dùng sức mạnh trấn áp quỷ thần, có
khả năng sai khiến âm binh đi tìm hồn về nhập vào xác. Then chữa bệnh bằng
sức truyền cảm âm nhạc, thơ ca, phần nào làm trọn chức năng an ủi, dỗ dành
nỗi đau của người bệnh, làm cho người bệnh cảm thấy tâm hồn thanh thản
hơn sau buổi làm Then. Đây là phương pháp chữa bệnh bằng tinh thần của

sạch sẽ, sáng sủa, lựa lại một số bức vách, lắp lại nơi thờ tổ tiên, làm tịch để
thờ tổ thủ nhà Then. Chuẩn bị các bát nhang trong thờ tịch, các bàn treo trong
tịch như vòm các hang động để khi thực thờ trang trí vào trông vừa linh
thiêng vừa huyền ảo.
Lễ vật chuẩn bị bao gồm: Lễ vật thể hiện cho hoạt động săn bắt các loại
động vật hoang dã ở sông, núi, rừng, sông suối như hươu nai, lợn rừng, chuột,
sóc, dúi, chim, gà rừng, cá suối,…với ý nghĩa là nghề cúng bái có từ thời
nguyên thủy, lúc người ta chưa biết chăn nuôi, thuần hóa được các loài súc
vật để trả lễ cho ma quỷ, thần thánh phải săn bắt các loại thú hoang. Nếu
không có vật thật thì lấy củ nâu, củ chuối làm giả như thật để khi cúng thầy
xướng tên có con vật như thật là được.
13

Lễ vật thể hiện cho hái lượm là các loại rau, lá rừng ăn được như: lá mạ
non, rau bấc, rau dớn, ngọn lau, chuối rừng… hái về cho vào ống nứa non lam
chín. Lễ vật thể hiện cho chăn nuôi là trâu bò, lợn, dê, gà, vịt, ngan, ngỗng, cá
chép, cá diếc…Các lễ vật này vừa là món đồ lễ chủ đạo, vừa dùng vào bữa ăn
của ngày đại Pang. Các lễ vật thể hiện cấy trồng là cum lúa, rau cải, rau bí, đu
đủ, khoai sọ…các loại bánh như bánh dày, bánh khô, bánh chưng, các loại
rượu, cơm xôi 7 màu…Ngoài ra còn có các lễ vật phụ khác như: trầu, cau,vôi,
thuốc lào, nước chè, ống điếu…
Những nhân vật thực hiện lễ Pang Luông gồm có: Chủ nhân thầy Then,
là người trực tiếp hành nghề cúng bái, thầy các đám ma, tên theo gọi của nhà
Then là “Cướng Then, Cướng thầy, Cướng Một”, khi ma nhập vào họ tự
xưng là “ Thằng Cường”. Nhiệm vụ của Thằng Cường là chủ động đề xuất tổ
chức lễ Pang Luông.
Nhân vật thứ hai đó là “Quan láng” là một người rất giỏi nghề cúng bái
và biết nhiều kiểu cúng, chuyên làm việc là cúng lễ Pang cho nhà thầy Then,
tổ thư thờ cái ống nhang lên vách, không lập “ táng tịch”.
Nhân vật thứ ba là “Nàng Then” là vợ của thầy Then (nếu thầy Then là

Cành lá vẫn xanh tươi
Ba mươi năm mới có nhựa giả
Năm mươi tuổi mới có nhựa thơm
Hạ giới lấy dao sắc vào băm
Thế gian lấy dao mỏng vào chặt
Nước vỏ trám tứa ra
Nhựa tram thơm đặc quánh
Que hương cây nứa khô
Vỏ hương sơn nhựa trám
15

Làm nên đôi hương đẹp động quan
Làm nên đôi hương thơm động tướng
Mọi người làm hương cho việc cúng
Mọi lễ tìm khói hương đưa đường
Cúng bái lấy khói hương mời quan.
Bài Sôi Hương do nghệ nhân Hoàng Thị Cứ hát có lời và dịch như sau:
Hương này lấy đâu về?
Gốc hương ở đất Hác, đất Ngô ( Trung Quốc)
Con chim nó cặp quả về rơi
Con chuột nó cạp giống quả về rơi ở rừng xanh
Mọc lên người thế gian lấy làm cho người Then
Để nó đi cúng đến đâu cũng không có trục trặc
Người thế gian lấy dao bóc vỏ
Phơi khô mới cho vào lỏong (cối) giã thành bột
Lấy thanh cây nứa lăn vào thành cây hương
Thắp cho ông (bà ) Then đi cúng [Tư liệu điền dã].
Bước 2: Chuẩn bị cho hành lễ dâng Pang: Bao gồm lễ đón nước sạch,
tìm cây lá thanh thảo, tìm cây mía, lễ chạt mát (tắm rửa cho tất cả các thế lực
thực hiện đám Pang) bằng nước ngâm lá thanh thảo, lễ cấm tà cho nhà dâng

quán khao tướng quan, quân dân. Rồi mời các vị ấy quay trở về thành phố
Thanh Lâm, Thanh Lý.
Bước 5: Lễ hội bước vào cuộc ăn uống để liên hoan, chúc tụng,
thăm hỏi nhau. Không khí tại bước này thật sự vui vẻ hòa nhập, cuộc vui
đến hết ngày khi các khách xong bữa, quan láng mới tiến hành lễ hạ nhập,
nhập hết nhạc cụ, đạo cụ vào trong tịch hòm, đến lúc này mới xong lễ
Pang luông.
17

1.3.5. Then văn nghệ
Loại Then này thường phục vụ cho sinh hoạt, hội hè, với mục đích giải
trí là chính. Nếu như bốn loại Then trên những thầy Then phải là những người
có căn số hay nối nghiệp của gia đình thì Then văn nghệ lại không bị khống
chế vì điều đó cho nên thu hút được đông đảo các tầng lớp tham gia. Lời Then
là những lời ca ngợi Bác Hồ, quê hương, đất nước, tình yêu nam nữ. Ví dụ
như bài hát Then “Bảo Yên điệu Then em hát” sau:
Ngân nga thiết tha tiếng đàn
Vang xa mãi một bài ca
Điệu Then quê mình, lời Then quê mình
Mùa xuân em hát Bảo Yên
Bên nhau lắng trong tiếng đàn
Yêu nhau hát một lời thương
Điệu Then ân tình, ngàn năm chung tình
Mùa xuân hương sắc Bảo Yên
Lời Then xưa em hát đấy
Lời Then xưa em khôn lớn đấy
Có ngàn xanh Mã Yên Sơn
Có dòng sông mang yêu thương
Với ruộng nương ngọt lành rừng núi
Bảo Yên, bài ca hôm nay em hát

tình của chàng trai cô đơn. Thầm thương trộm nhớ một cô gái trong bản,
hàng đêm chàng mang đàn đến gẩy cho người yêu nghe nhưng nàng không
dậy khiến chàng rất buồn. Không bỏ cuộc, chàng đến hỏi những người cao
tuổi trong bản và được lời khuyên chỉ nên để lại hai dây đàn, chọn gỗ tốt làm
thân đàn. Từ đó tiếng đàn ấm và trở nên có hồn hơn, chàng mang đàn đến
19

nhà cô gái gẩy đã làm cô xao lòng, nghe xong liền xuống tâm sự với chàng
thanh niên mồ côi rồi họ nên vợ nên chồng kể từ đó [Theo lời kể của nghệ
nhân Ma Thanh Sợi].
Tính Then giống tính tẩu của người Thái là nhạc cụ họ dây chi gẩy. Là
nhạc cụ họ dây vì có nguồn rung là dây rung, phương pháp kích âm là dùng
ngón trỏ phải tác động vào dây theo hai chiều nên thuộc chi gẩy. Tính có nhiều
cỡ to nhỏ khác nhau tùy theo từng vùng. Loại to có âm thanh to, khỏe, phù hợp
với giọng trầm ấm, loại nhỏ có âm thanh cao, tươi sáng phù hợp với giọng nữ
trẻ. Loại cỡ trung bình có thể phù hợp với nhiều loại giọng khác nhau. Tính Then
là nhạc cụ dân gian được làm từ các nguyên liệu sẵn có ở địa phương.
Để làm được một cây đàn hoàn chỉnh, công đoạn đầu tiên là chọn vật
liệu. Những vật liệu này sẵn có ở địa phương, bầu đàn còn gọi là “ bầu vang”
làm bằng nửa quả bầu khô, cắt bầu đàn vừa phải, cạo sạch bên trong rồi phơi
khô trong vài ngày. Đàn bầu khoét 4 lỗ để âm hưởng sao cho đều nhau, mặt
đàn được khoét hai lỗ nhỏ để thoát âm hưởng làm bằng gỗ cây vông. Cần đàn
được làm bằng các loại gỗ dẻo, hoặc là cây dâu được đẽo công phu, đánh ráp
cho bóng. Chọn cần đànphải phẳng và nhẹ, chiều dài bằng chín nắm tay của
người chơi. Theo kinh nghiệm dân gian, số đo cỡ nào thì hợp với giọng hát
của người có cỡ đo ấy. Cần đàn trơn không có phím bấm, dây đàn bằng tơ xe
với sáp ong. Khâu quan trọng nhất trong việc chọn nguyên liệu đó là chọn bầu
đàn. Phải chọn được quả bầu không quá to, không quá nhỏ, phải già, hình
dáng bên ngoài phải tròn, đẹp, vỏ dày, gõ vào phải kêu thật đanh như thế đàn
mới có âm sắc chuẩn.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status