Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ, theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh có nghĩa là dân làm
chủ, dân là chủ. NN ta là NN của dân, do dân và vì dân, nhng đó là NN quản
lý xã hội bằng pháp luật. Xây dựng NN pháp quyền XHCN của dân, do dân và
vì dân chính là cách thức cơ bản để phát huy QLC của nhân dân.
Một trong những điểm cơ bản để xây dựng NN pháp quyền, phát huy
QLC của nhân dân là phải không ngừng xây dựng và thể chế hóa mục tiêu, ph-
ơng châm, những nguyên tắc vận hành của nền dân chủ XHCN ở nớc ta. Với ý
nghĩa đó, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ơng Đảng ta đã
ban hành Chỉ thị số 30/CT - TW về thực hiện QCDC ở cơ sở. Bản Chỉ thị đã
quy định cụ thể trách nhiệm, nhiệm vụ của MTTQ cùng các tổ chức chính trị -
xã hội trong việc xây dựng và thực hiện QC này ở xã.
Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện QCDC đã quy
định trách nhiệm của UBMTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm 3
việc: Phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong hội viên,
đoàn viên và nhân dân chỉ thị này và các QCDC ở cơ sở; Làm cho mọi ngời
hiểu và sử dụng đúng quyền và nghĩa vụ công dân, quyền của các tổ chức
chính trị - xã hội đã đợc quy định trong QCDC; Phối hợp với CQ trong việc
thực hiện QCDC và giám sát thực hiện các QCDC ở cơ sở.
Trong thời gian qua, việc thực hiện các công tác nêu trên, nhìn về cơ
sở thì công tác MT tham gia thực hiện 5 khâu trong QCDC có nhiều khởi sắc.
Trong 5 khâu: Những việc cần thông báo để nhân dân biết; Những việc nhân
dân bàn và quyết định trực tiếp; Những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến,
CQ quyết định; Những việc nhân dân giám sát và xây dựng cộng đồng dân c ở
thôn, làng, ấp bản, thì ở khâu thứ 2 và thứ 5, hoạt động của UBMTTQ là rõ nét
và đạt khá nhiều kết quả.
1
Để tham gia thực hiện tốt cả 5 khâu trong QCDC, mấy năm qua
UBMTTQ các cấp đã tập trung chỉ đạo việc kiện toàn củng cố và nâng cao
chất lợng hoạt động của Ban công tác MT, Ban TTND, UBMTTQ cấp xã. Tuy
phát huy dân chủ trong thời kỳ đổi mới đã đợc đề ra tại các Đại hội VI, VII,
VIII của Đảng để thực hiện mạnh mẽ hơn nữa sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân
và phát huy dân chủ - hai mệnh đề then chốt trong đờng lối chiến lợc của
Đảng ta để đa đất nớc đi lên.
Có thể nói, cả hiện tại và trong thời gian tới, nhu cầu và điều kiện khoa
học cũng nh thực tiễn về hoàn thiện hơn nữa pháp luật về MTTQ trong thực
hiện quy chế dân chủ trong tình hình mới ngày càng chín muồi. Cho đến bây
giờ vẫn cha có một công trình khoa học pháp lý nào khảo cứu một cách toàn
diện về mặt lý luận và thực tiễn vấn đề phát huy vai trò của MTTQVN trong
thực hiện QCDC ở cơ sở và về những bảo đảm pháp lý cho hoạt động của
MTTQ để tham gia thực hiện tốt hơn nữa QC. Vì vậy, việc nghiên cứu những
vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp lý vò MTTQ trong thực hiện QCDC là vấn đề
bức xúc và cần thiết. Với tất cả các ý nghĩa đã, chúng tôi đã chọn đề tài:
"Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở" làm luận văn Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hiện chủ trơng hớng về cơ sở của Đảng đã có một số công trình
nghiên cứu về dân chủ, dân chủ ở cơ sở nh: "QC thực hiện dân chủ ở cấp xã -
Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh do PGS.TS. Dơng Xuân Ngọc chủ biên, NXBCTQG năm 2000, "Thực hiện
QCDC và xây dựng CQ cấp xã ở nớc ta hiện nay" của Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh do TS. Nguyễn Văn Sáu - GS. Hồ Văn Thông chủ biên, "Dân
chủ và việc thực hiện QCDC ở cơ sở" do TS. Lơng Gia Ban chủ biên, NXB
CTQG năm 2003, "Hớng dẫn triển khai QCDC cơ sở" của Bộ Nội vụ, NXB
3
CTQG 2001, "Xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở" của Ban Dân vận Trung -
ơng, một số công trình khác của MTTQVN nh: đề tài khoa học cấp bộ "Phát huy
vai trò của MTTQVN trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở", của một số Viện
nghiên cứu và trờng đại học Về đề tài khoa học cấp bộ "Phát huy vai trò của
MTTQ trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở" của MTTQ đã đợc triển khai dới
công nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Nhiệm vụ
Đó đạt đợc mục đích trên nhiệm vụ của luận văn là:
1. Nghiên cứu về vị trí, vai trò, chức năng của MT với vấn đề dân chủ,
đoàn kết trong thời kỳ mới; trong việc tham gia thực hiện QCDC ở xã.
2. Nghiên cứu về việc UBMTTQ tham gia thực hiện QCDC ở xã, ph-
ờng - thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm thực tiễn.
3. Nghiên cứu về chủ trơng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của MT
trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở trong thời gian tới.
4. Cơ sở lý luận và phơng pháp nghiên cứu của luận văn
Ngoài những phơng pháp chung nh: phơng pháp duy vật biện chứng,
phơng pháp duy vật lịch sử, phơng pháp tổng hợp, phân tích, so sánh chú trọng
phơng pháp điều tra xã hội học, phơng pháp định tính, định lợng trong quá
trình phân tích ảnh hởng của MTTQ đối với việc thực hiện QCDC ở cơ sở.
Một số phơng pháp chuyên ngành nh mô hình hóa, khảo sát tổng kết
dựa vào thông số từ nghiên cứu thực tiễn cơ sở để xây dựng những luận điểm có
tính lý luận - đây là phơng pháp quan trọng để thực hiện nghiên cứu đề tài này.
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
5
Trên cơ sở làm rỗ những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc phát huy
vai trò của MTTQ trong thực hiện QCDC, luận văn: 1. Lần đầu tiên trình bày
một cách có hệ thống dới giác độ khoa học pháp lý vấn đề MTTQ trong tham
gia thực hiện QCDC; 2. Nêu những quan điểm chỉ đạo phát huy vai trò của
MTTQ trong thực hiện QC; 3. Đa ra các giải pháp nhằm phát huy vai trò của
MTTQVN trong thực hiện QC.
6. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần vào việc phát triển và
hoàn thiện các căn cứ khoa học và thực tiễn để hoạch định đờng lối, chủ trơng
của Đảng và pháp luật của NN về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện QCDC ở n-
ớc ta hiện nay. MT các cấp có thể sử dụng kết quả nghiên cứu của luận văn để
phong phú đa dạng về các hình thức.
Dân chủ có thể hiểu là một cách thức và những điều kiện kèm theo để
mọi ngời dân tham gia bình đẳng vào các công việc chính trị, kinh tế, xã hội
với vai trò là ngời chủ xã hội. Khi một ngời nông dân cầm lá phiếu đi bầu cử
7
một cách tự nguyện để lựa chọn một cách tự do ngời đại biểu của mình trong
HĐND xã - có nghĩa là quyền dân chủ về chính trị đợc thực hiện. Khi các hộ
nông dân đợc tham gia ý kiến vào việc quy hoạch đất đai, xây dựng cơ sở hạ
tầng làng xã, v.v và những ý kiến này đợc lắng nghe, trở thành quyết định và
hành động của CQ và nhân dân xã có nghĩa là các hộ nông dân thực hiện một
cách thực sự quyền dân chủ trong đời sống kinh tế của làng, xã. Khi ngời dân
đặt ra những yêu cầu đòi hỏi CQ có các biện pháp nhằm cải thiện chất lợng y
tế, giáo dục, vệ sinh môi trờng, trật tự an ninh xã hội - đây cũng là lúc ngời
dân đang thực hiện QLC của mình.
Đòi hỏi của ngời dân đợc biết về các hoạt động của CQ, đòi hỏi về
trách nhiệm của CQ đối với dân trong việc thực thi các thủ tục hành chính liên
quan đến đất đai, xây dựng, hộ tịch, khai sinh, kinh doanh, sản xuất, v.v -
đây là biểu hiện của quyền dân chủ của nhân dân.
Dân chủ còn có thể đợc hiểu nh một nhu cầu tất yếu, đòi hỏi đơng
nhiên của dân cần có một vị thế thực sự bình đẳng trong quan hệ giữa NN và
dân. Đồng thời, dân chủ còn đợc hiểu là trách nhiệm của CQ, của cán bộ,
công chức cấp TW cũng nh cấp xã, thực hiện quyền hạn của mình một cách
chí công vô t, không quan lại, hách dịch, tham nhũng, vụ lợi.
Bản chất của NN ta đợc khẳng định trong Hiến pháp, là NN của dân,
do dân, vì dân. Tuy vậy trong thực tế, cán bộ, công chức NN cha thực sự là ng-
ời công bộc của dân nh Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mong muốn. Nếu không
thực hiện dân chủ, NN sẽ trở nên độc tài, chuyên chế, và do đó dân phải học
để làm chủ; NN phải bảo đảm cơ chế để lắng nghe dân. Do vậy, nói tới dân
chủ có nghĩa là nói đến mối quan hệ giữa dân và CQ mà ở đó CQ phải lắng
nghe dân, phải tạo điều kiện để ngời dân đợc quyết định hoặc tham gia quyết
minh chứng là trờng hợp xây dựng hệ thống thủy lợi nhỏ nội đồng. Các hộ sử
dụng nớc đợc quyền tự quyết định đóng góp, tự quyết định mức thu thủy lợi
phí, tự tiến hành bảo quản và duy trì hệ thống công trình tới tiêu nội đồng. Với
9
QLC trong việc khai thác và quản lý việc sử dụng nớc cho nông nghiệp nh
vậy, bà con nông dân thực sự thực hiện QLC của mình, nhiệt tình đóng góp
kinh phí, tổ chức quản lý hệ thống tới tiêu một cách hiệu quả nhất, giảm thiểu
tối đa những chi phí không cần thiết. Với ý thức làm chủ thực sự, bà con nông
dân cùng nhau gìn giữ, bảo dỡng công trình đợc hoàn thành với sự đóng góp
tiền của và công sức của mình, độ bền của công trình đợc bảo đảm tốt hơn.
Khi thực hiện QLC ngời dân biết chăm lo và có ý thức hơn về cuộc sống cộng
đồng, cùng nhau đoàn kết để giải quyết những vấn đề phát triển kinh tế, xã hội
cộng đồng. Với truyền thống "lá lành đùm lá rách" bầu không khí dân chủ,
công khai ở làng xã là điều kiện thuận lợi và thúc đẩy những hoạt động của
cộng đồng tự giúp đỡ lẫn nhau xóa đói, giảm nghèo. Đây là một thực tế đang
diễn ra và ngày càng đợc nhân rộng ở những địa phơng thực hiện tốt QCDC ở
cơ sở.
Dân chủ thúc đẩy sự minh bạch, hạn chế sự lạm quyền, tham nhũng.
Sự minh bạch, rõ ràng trong các hoạt động kinh tế xã hội đợc đảm bảo khi ng-
ời dân đợc thực hiện quyền đợc biết, đợc kiểm tra, giám sát hoạt động của CQ,
nhất là trong lĩnh vực thu, chi tài chính. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng
làm hạn chế những hành vi lạm dụng quyền hạn, tham nhũng của cán bộ, công
chức CQ.
Dân chủ thúc đẩy quan hệ gần gũi và hợp tác giữa CQ với dân. Khi
dân chủ đợc phát huy, tệ tham nhũng, lạm dụng quyền lực, quan liêu sẽ bị hạn
chế và dần bị loại bỏ khỏi đời sống xã hội; CQ trở nên minh bạch, thực sự trở
thành CQ phục vụ dân và vì dân. Sự tin cậy của dân đối với CQ sẽ ngày càng
tăng. Dân sẽ quan hệ chặt chẽ và hợp tác với CQ.
Dân chủ tăng cờng kỷ cơng và ổn định xã hội. Với những thành quả
nh đã nêu trên do phát huy và tăng cơng dân chủ, cộng đồng dân c ở cơ sở sẽ
11
với con đờng mà nhân dân ta đã lựa chọn" [3, tr. 4]. Tháng 3/1998, đồng chí
Lê Khả Phiêu, cũng đã nêu bật tính cấp thiết của việc xây dựng QCDC cơ sở,
đồng chí chỉ rõ:
QLC của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều
lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách
nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà
chúng ta cha ngăn chặn, đẩy lùi đợc. Phơng châm "dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra" cha đợc cụ thể hóa và thể chế hóa thành
pháp luật, cho nên chậm đi vào cuộc sống. Tình trạng mất dân chủ,
không để dân bàn bạc và quyết định những công việc cụ thể liên
quan trực tiếp đến đời sống của dân, bắt dân đóng góp nhiều khoản
vợt quá khả năng, lại không minh bạch về tài chính, thậm chí xà xẻo
vào những khoản tiền do dân đóng góp nh ở một số xã thuộc tỉnh
Thái Bình và vài nơi khác; tình trạng để tồn đọng hàng vạn đơn
khiếu tố bị đùn đẩy không giải quyết hoặc giải quyết không kịp
thời, không đúng; tình trạng quan liêu, quản lý lỏng lẻo để thất thoát
lớn trong một số ngân hàng hoặc gây lãng phí lớn trong xây dựng,
v.v. chẳng những làm suy giảm lòng tin của nhân dân đối với Đảng
và CQ mà còn làm triệt tiêu nguồn động lực của nhân dân và xâm
phạm vào bản chất tốt đẹp của chế độ [4, tr. 4].
Trớc tình hình đó, Nghị quyết TW 3 khóa VIII (6/1997) nêu rõ yêu
cầu: Tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn QLC của dân qua các hình thức
dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; tiếp tục hoàn thiện NNCHXNCNVN
đảm bảo trong sạch, vững mạnh và tăng cờng sự lãnh đạo của Đảng đối với
NN, mở rộng dân chủ XHCN, phát huy QLC của nhân dân trong xây dựng và
quản lý NN [5]. Mở rộng dân chủ XHCN, phát huy QLC của nhân dân phải đ-
ợc thể hiện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh, từ
việc xây dựng luật pháp, cơ chế, chính sách đến tổ chức bộ máy, phong cách
làm việc, bao quát mọi hoạt động của mọi cấp, mọi ngành, từ TW đến ĐP và
cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi ngời, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm
chỉnh thực hiện.
Thực hiện Chỉ thị 30/CT-TW, UBTV Quốc hội (khóa X) ra Nghị quyết
số 45-1998/NQ-UBTVQH 26/2/1998 về việc ban hành QC thực hiện dân chủ
ở xã. Nghị quyết giao Chính phủ ban hành QC thực hiện dân chủ với các định
hớng nội dung cụ thể. Thực hiện chủ trơng của Đảng và Nghị quyết của UBTV
Quốc hội, ngày 11/5/1998, Chính phủ đã ban hành NĐ số 29/1998/NĐ-CP
(nay là NĐ số 79/2003/NĐ-CP) về việc ban hành QCDC. NĐ nêu rõ: "Điều 1:
Ban hành kèm theo NĐ này bản QC thực hiện dân chủ ở xã. Điều 2: QC này
áp dụng đối với cả phờng và thị trấn" [7]. QCDC ở cơ sở còn bao gồm cả dân
chủ trong cơ quan hành chính NN và đơn vị doanh nghiệp NN với các văn bản
qui định riêng.
Những văn bản trên đây từ chủ trơng của Đảng đến việc thể chế hóa
bằng các văn bản pháp luật của NN thể hiện sự quan tâm của Đảng, NN ta đối
với việc xây dựng thể chế về dân chủ ở cơ sở. Thực hiện phơng châm "dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" thể hiện bản chất NN là NN của dân, do
dân, vì dân.
QC thực hiện dân chủ ở cơ sở gồm các văn bản quy phạm pháp luật
qui định những biện pháp làm chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở xã, phờng,
cơ quan hành chính NN và đơn vị doanh nghiệp NN. Đó là những điều nhân
dân phải đợc biết, những việc nhân dân đợc bàn để NN quyết định hoặc nhân
dân đợc quyết định và những việc nhân dân đợc giám sát, kiểm tra, nhằm phát
huy QLC, sức sáng tạo của nhân dân.
QC thực hiện dân chủ ở xã là văn bản quy phạm pháp luật quy định
cụ thể những việc HĐND và UBND xã phải thông tin kịp thời và công khai để
dân biết; những việc dân bàn và quyết định trực tiếp; những việc dân tham
gia ý kiến trớc khi cơ quan NN quyết định; những việc dân giám sát, kiểm tra
và các hình thức thực hiện QCDC ở xã nhằm phát huy QLC, sức sáng tạo của
14
nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân
Đảng bộ, CQ và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc
phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên
và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nớc mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh, theo định hớng XHCN.
Thứ bảy, QC thực hiện dân chủ ở cơ sở thể hiện yêu cầu dân chủ phải
trong khuôn khổ của Hiến pháp và pháp luật; đi đôi với trật tự, kỷ cơng; quyền
đi đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ, vi phạm
Hiến pháp, pháp luật, xâm phạm lợi ích của NN, lợi ích tập thể, quyền tự do,
dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân.
1.1.3. Nội dung của Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở ở xã
QC thực hiện dân chủ ở xã do Chính phủ ban hành ngày 15/5/1998
(nay là NĐ số 79/2003/NĐ-CP) gồm Lời nói đầu, 7 chơng và 25 điều. Về nội
dung, QC quy định những quyền của nhân dân ở cơ sở đợc biết và hình thức
biết những thông tin liên quan đến pháp luật, chủ trơng chính sách của NN,
đặc biệt là những thông tin liên quan trực tiếp đến đời sống dân sinh. QC cũng
quy định những việc để nhân dân bàn và quyết định cũng nh những hình thức
thực hiện; quy định những việc nhân dân ở cấp xã có quyền giám sát, kiểm tra
và những phơng thức để thực hiện giám sát, kiểm tra; việc xây dựng cộng
đồng dân c thôn, làng, bản, ấp và những hình thức tổ chức. Đặc biệt, để thực
hiện phơng châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra", QC quy định cơ
chế thực hiện dới hai hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện, trong đó
ở cấp cơ sở, dân chủ trực tiếp là quan trọng.
QCDC cơ sở quy định cụ thể các loại công việc để: dân biết, dân bàn,
dân giám sát, kiểm tra. Điều 1 Qc quy định: "QC này quy định cụ thể những
16
việc HĐND và UBND xã phải thông tin kịp thời và công khai để dân biết;
những việc dân bàn và quyết định trực tiếp; những việc dân tham gia ý kiến tr-
ớc khi cơ quan NN quyết định; những việc dân giám sát, kiểm tra và các hình
thức thực hiện QCDC ở xã".
Về dân biết, QC quy định quyền của mọi ngời dân đợc thông tin về
gia đình liệt sĩ, thơng binh, bệnh binh đợc tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm,
thể bảo hiểm y tế;
14. Kết quả lựa chọn, thứ tự u tiên và tổ chức thực hiện các công trình
thuộc các chơng trình, dự án của NN, của các tổ chức và cá nhân đầu t, tài trợ
trực tiếp cho xã.
Về dân bàn có 2 loại gồm:
- Một loại công việc do dân bàn và quyết định trực tiếp
- Một loại công việc do dân bàn và tham gia ý kiến, HĐND và UBND
xã quyết định
Các việc dân bàn và quyết định trực tiếp là các loại việc có huy động
sự đóng góp của dân để xây dựng cơ sở hạ tầng và xây dựng hơng ớc, quy ớc
nội bộ. Đây là quy định rất mới không những thực hiện QLC của nhân dân mà
còn chống đợc tệ nạn tham nhũng, lãng phí.
Loại công việc do dân bàn và quyết định trực tiếp bao gồm 5 điểm:
1. Chủ trơng và mức đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng và các công
trình phúc lợi công cộng (điện, đờng, trờng học, trạm y tế, nghĩa trang, các
công trình văn hóa, thể thao);
2. Xây dựng hơng ớc, quy ớc làng văn hóa, nếp sống văn minh, giữ gìn
an ninh trật tự, bài trừ các hủ tục, mê tín dị đoan, tệ nạn xã hội;
18
3. Các công việc trong nội bộ cộng đồng dân c thôn, phù hợp với quy
định của pháp luật hiện hành;
4. Thành lập Ban Giám sát các công trình xây dựng do dân đóng góp;
5. Tổ chức bảo vệ sản xuất, kinh doanh giữ gìn an ninh trật tự, an toàn
giao thông, vệ sinh môi trờng và các hoạt động khác trên địa bàn xã, thôn
Loại công việc do dân bàn và tham gia ý kiến, HĐND và UBND xã
quyết định bao gồm 9 điểm:
1. Dự thảo nghị quyết của HĐND xã;
2. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và
hàng năm của xã, phơng án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và ph-
UBND, hoạt động của đại biểu HĐND xã, của cán bộ UBND xã và cán bộ,
công chức hoạt động tại ĐP;
4. Giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân tại ĐP;
5. Dự toán và quyết toán ngân sách xã;
6. Quá trình tổ chức thực hiện công trình, kết quả nghiệm thu và quyết
toán công trình do nhân dân đóng góp xây dựng và các chơng trình, dự án do
NN, các tổ chức và cá nhân đầu t, tài trợ trực tiếp cho xã;
7. Các công trình của cấp trên triển khai trên địa bàn xã có ảnh hởng
trực tiếp đến sản xuất, an ninh, trật tự, văn hóa - xã hội, vệ sinh môi trờng và
đời sống của nhân dân ĐP;
8. Quản lý và sử dụng đất đai tại xã;
9. Thu, chi các loại quỹ và lệ phí theo quy định của NN, các khoản
đóng góp của nhân dân;
20
10. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham
nhũng liên quan đến cán bộ xã;
11. Việc thực hiện chế độ, chính sách u đãi, chăm sóc, giúp đỡ thơng
binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, những ngời và gia đình có công với nớc,
chính sách bảo hiểm xã hội, bảo trợ xã hội.
Một nội dung quan trọng của QC là quy định hết sức cụ thể: a) Đối với
những việc cần thông báo cho dân biết, CQ xã có trách nhiệm phối hợp với
UBMTTQ, các thành viên của MTTQ cùng cấp và Trởng thôn cung cấp các
thông tin để nhân dân biết bằng các hình thức cụ thể tại Điều 6 QC; b) Đối với
những việc dân bàn và quyết định trực tiếp QC quy định các phơng thức cụ thể
thực hiện những việc nhân dân quyết định trực tiếp tại Điều 9; c) Đối với
những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến, CQ xã quyết định QC quy định ph-
ơng thức thực hiện tại Điều 11; d) Đối với những việc nhân dân giám sát, kiểm
tra QC quy định phơng thức thực hiện tại Điều 13 và quy định trách nhiệm của
các cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với việc giám sát và kiểm tra của nhân
dân tại Điều 14.
Hiện nay, ta đang xây dựng nền kinh tế thị trờng, cũng có nghĩa là
chấp nhận sự phân hóa xã hội diễn ra, bất công trong xã hội còn tồn tại, dẫn
đến quá trình thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động khó khăn.
Cơ sở kinh tế làm nền tảng cho quyền lực chính trị của nhân dân lao động cha
thực sự đảm bảo; kinh tế NN và kinh tế tập thể nói chung đang rơi vào tình
trạng làm ăn thua lỗ hoặc kém hiệu quả, sức cạnh tranh yếu.
Thực trạng tình hình hiện nay ở cơ sở nảy sinh nhiều vấn đề khó khăn,
tiêu cực, những yếu kém. Ngời dân ở cơ sở vốn có trình độ dân trí và trình độ
học vấn thấp (kể cả cán bộ xã), vì thế gặp nhiều hạn chế trong việc tiếp cận và
hởng thụ những thành tựu văn hóa, khoa học, kỹ thuật hiện đại. Đa số các cơ
sở do đời sống kinh tế khó khăn (nhất là vùng núi, vùng sâu, vùng xa) dân chỉ
22
lo kiếm sống, ít quan tâm đến vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, họ thậm chí
không biết hởng quyền dân chủ, không biết dùng quyền dân chủ. Trong khi đó
bộ máy CQ các cấp cha thực sự vững mạnh, tình trạng tham nhũng, buôn lậu,
lãng phí, quan liêu còn khá phổ biến. Hiệu lực quản lý, điều hành kinh tế - xã
hội và pháp luật cha nghiêm, kỷ cơng xã hội bị buông lỏng, niềm tin của nhân
dân vào sự lãnh đạo của Đảng bị giảm sút. QLC của nhân dân bị vi phạm ở
nhiều nơi trên nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực quản lý kinh tế, đất đai, thu chi
ngân sách, đầu t xây dựng cơ sở hạ tầng, huy động vốn đóng góp của dân có
nhiều biểu hiện tiêu cực. Một bộ phận cán bộ đảng viên thoái hóa, biến chất,
lợi dụng chức quyền, lợi dụng những kẽ hở trong quản lý của NN để tham ô,
tham nhũng. ở nông thôn là tình trạng cán bộ cơ sở bất chấp pháp luật, cấp
bán đất trái thẩm quyền, chi tiêu tài chính sai mục đích và lãng phí. Mâu
thuẫn nội bộ ngày một tăng dẫn đến hiện tợng khiếu kiện tập thể, gây ra
không khí rất căng thẳng phức tạp. Trong khi nhân dân đấu tranh chống tiêu
cực, tham nhũng, đòi quyền tự do dân chủ, đòi đảm bảo công bằng xã hội thì
kết quả khiếu kiện lại chậm đợc giải quyết và giải quyết không thỏa đáng làm
cho xuất hiện các điểm nóng, nh ở Thái Bình năm 1996 - 1997 có 208/285 xã
dân tổ chức khiếu kiện tập thể. ở những điểm nóng đó, tổ chức Đảng mất vai
Nơi nào làm tốt việc xây dựng và thực hiện QC, nơi ấy sẽ tạo ra đợc
một phong trào sinh hoạt chính trị rộng lớn, có tác động đến nhiều mặt của đời
sống xã hội. Thông qua quá trình học tập, xây dựng và thực hiện QC, cán bộ,
nhân dân đã thấy rõ hơn quyền cũng nh trách nhiệm của mình trong việc xây
dựng đời sống dân chủ ở cơ sở, ý thức làm chủ, ý thức công dân của ngời dân
đã có sự chuyển biến khá rõ. Ngay từ trong cộng đồng dân c nhỏ hẹp nh xã,
phờng, ngời dân đã có thể trực tiếp bày tỏ chính kiến của mình, trực tiếp quyết
định và giám sát các công việc của cộng đồng xã hội.
Với những thông tin về chính sách, pháp luật, về nội dung các hoạt
động của ĐP, của cơ sở đợc đa ra kịp thời và công khai, với những điều ngời
24
dân đợc bàn bạc thảo luận và quyết định trực tiếp hoặc tham khảo cho sự
quyết định của cấp CQ cơ sở, ngời dân đã từng bớc học làm chủ, tập làm chủ
và dần dần biết làm chủ.
Vậy là, nhân dân đã không chỉ tồn tại với t cách là một ngời công dân
thông thờng mà còn với t cách là ngời chủ thực sự về t liệu sản xuất, ngời chủ
thực sự về chính trị và quyền lực chính trị. QLC của nhân dân biểu hiện trong
việc thực thi chính trị, quản lý NN, quản lý kinh tế - xã hội ở từng cấp, từng
ngành, từng ĐP và của mỗi cá nhân cụ thể. Ngời dân vừa là khách thể vừa là
chủ thể của quyền lực NN. Lợi ích của mỗi thành viên, của từng tổ chức xã
hội, giai cấp, tầng lớp đều nằm trong lợi ích của toàn xã hội. Chính thực hiện
tốt dân chủ ở cơ sở tạo ra một cơ chế phát huy QLC cho mọi công dân nhằm
bảo đảm quyền lực chính trị của nhân dân lao động và góp phần làm phong phú
hơn hình thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Rõ ràng
không thể chỉ nâng cao chất lợng của dân chủ đại diện là đủ mà còn phải thực
hiện chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực và có hiệu quả mới bảo đảm
tốt cho nhân dân lao động làm chủ đích thực quyền lực của mình.
Mặc dù cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp đều phản ánh nguyện
vọng, ý chí, quyền lực của nhân dân, là phơng thức thể hiện dân chủ XHCN,
nhng mỗi phơng thức lại có những u, nhợc điểm khác nhau. Dân chủ đại diện