Tư tưởng hồ chí minh về vai trò của dân chủ với việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trên địa bàn huyện thạch hà, tỉnh hà tĩnh - Pdf 35

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

TRẦN THỊ THÚY HƯỜNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA DÂN CHỦ
VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

Hà Nội - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
------------------------------

TRẦN THỊ THÚY HƯỜNG

TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ VAI TRÒ CỦA DÂN CHỦ
VỚI VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN THẠCH HÀ, TỈNH HÀ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60 31 02 01

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lại Quốc Khánh



Quy chế dân chủ

TNHH:

Trách nhiệm hữu hạng

UBND:

Ủy ban nhân dân

XHCN:

Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU..............................................................................................................

1

1. Tính cấp thiết của đề tài....................................................................................

1

2. Tình hình nghiên cứu........................................................................................

2

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu....................................................................


1.1.2. Nội dung và tầm quan trọng của việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.....

11

1.2. Cơ sở hình thành tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vai trò dân chủ...................

18

1.2.1. Truyền thống dân tộc và tác động của hoàn cảnh lịch sử xã hội Việt Nam
cuối thế kỷ XIX.....................................................................................................

18

1.2.2. Những ảnh hưởng của văn hóa phương Đông và phương Tây đối với sự
hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh...........................................................

20

1.2.3. Chủ nghĩa Mác - Lênin và cách mạng Tháng Mười Nga tạo nên bước
ngoặt trong sự hình thành tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh...................................

24

1.2.4. Phẩm chất, trí tuệ, nhân cách Hồ Chí Minh cùng những giá trị được đúc
rút từ chính thực tiễn hoạt động cách mạng của Người........................................

25

1.3. Nội dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vai trò của dân chủ..........................

Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh.........................................................................................

48

2.1.2. Nội dung, cách thức triển khai thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở của
huyện Thạch Hà....................................................................................................

53

2.1.3. Thành tựu và hạn chế trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở của
huyện Thạch Hà....................................................................................................

57

2.1.4. Những vấn đề đặt ra trong việc thực hiện QCDC ở huyện Thạch Hà.........

78

2.2. Vận dụng tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vai trò của dân chủ nâng cao
hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trên địa bàn huyện Thạch Hà.....

80

2.2.1. Phương hướng chung..................................................................................

80

2.2.2. Một số giải pháp chủ yếu............................................................................

81

QCDC ở xã; Nghị định số 79/2003/NĐ-CP của Chính phủ ban hành quy chế thực hiện
dân chủ ở xã, Pháp lệnh số 34/2007/PL-UBTVQH11 Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn,... Đây là một bước tiến lớn trong việc củng cố
kiện toàn tổ chức đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân ở cơ sở, không chỉ là giải
pháp để hạn chế sự tha hóa quyền lực, chống lại tệ quan liêu, tham nhũng trong bộ máy
nhà nước mà còn phản ánh tâm tư, nguyện vọng, lợi ích chính đáng của nhân dân, đáp
ứng nhu cầu và phù hợp với xu thế phát triển của đất nước theo định hướng XHCN; khơi
dậy mọi tiềm năng và trí tuệ của toàn thể nhân dân trong quá trình xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc Việt Nam XHCN.
Sau nhiều năm triển khai thực hiện QCDC trên địa bàn huyện Thạch Hà, tỉnh Hà
Tĩnh, mọi mặt đời sống chính trị, xã hội của huyện đã có những bước phát triển quan
1


trọng. Trình độ dân trí, dân sinh được nâng cao; quyền làm chủ của nhân dân được phát
huy; nhân dân tham gia tích cực công tác quản lý xã hội,... Tuy nhiên, việc thực hiện
QCDC ở cơ sở vẫn còn nhiều vấn đề đáng quan tâm: ở một số địa bàn, việc xây dựng và
thực hiện QCDC chưa đạt yêu cầu, quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm; một số
cán bộ còn thiếu trách nhiệm trong việc triển khai thực hiện, công tác tuyên truyền chưa
đổi mới và có hiệu quả dẫn tới việc nhiều người dân chưa nhận thức đầy đủ quyền làm
chủ của mình. Quyền được biết, được bàn, được kiểm tra, thực hiện các chủ trương,
nhiệm vụ của địa phương, nhất là huy động nguồn lực đóng góp xây dựng kết cấu hạ tầng
kinh tế - xã hội, tham gia đền bù, giải phóng mặt bằng, thực hiện chế độ, chính sách ở
một số nơi chưa thực hiện được đầy đủ và nhanh chóng. Nhiều người dân chưa được
cung cấp thông tin về công tác quản lý đất đai, tài nguyên, khoáng sản, ngân sách,... Tệ
quan liêu, tham nhũng, lãng phí của công, sách nhiễu chưa được ngăn chặn triệt để, tình
trạng phân hóa giàu nghèo có xu hướng gia tăng,...
Trước tình hình đó, để chủ động phát huy những ưu điểm, hạn chế và khắc phục
những khuyết điểm trong quá trình thực hiện QCDC cơ sở và trên địa bàn huyện Thạch
Hà, tỉnh Hà Tĩnh, sớm đưa huyện trở thành huyện có công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp,

Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Tâm lý xã hội trong quá trình thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở (2004) của Trần Ngọc Khuê và Lê Kim Việt (chủ biên), Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội; Dân chủ ở cơ sở và vấn đề thực hiện dân chủ ở nông thôn nước ta hiện nay
(2007) của Nguyễn Thị Tâm, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội; Dân chủ và dân chủ cơ sở
ở nông thôn trong tiến trình đổi mới (2010) của Hoàng Chí Bảo, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội,...
Ngoài ra còn có rất nhiều bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí khoa học, các luận
án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ về tư tưởng dân chủ Hồ Chí Minh và vấn đề dân chủ, thực
hiện quy chế dân chủ cơ sở ở nước ta.
Nhìn chung, các bài viết, các công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã tập
trung làm rõ cơ sở lý luận, ý nghĩa thực tiễn của tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và
việc thực hiện QCDC ở cơ sở, đồng thời phân tích, lý giải yêu cầu, cách thức tổ chức,
biện pháp,... để thực hiện tốt QCDC ở cơ sở một các khá sâu sắc. Song chưa có công
trình nào đề cập một cách cụ thể đến tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của dân chủ với
việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trên một địa bàn cụ thể của tỉnh Hà Tĩnh như cách
đặt vấn đề của luận văn. Tuy nhiên, những công trình này là những chỉ dẫn, gợi ý hết sức
quý báu trong quá trình thực hiện luận văn.
3


Trên cơ sở tìm hiểu, nghiên cứu, kế thừa và phát triển các công trình của các nhà
nghiên cứu đi trước, tôi thấy rằng có đủ cơ sở lý luận và thực tiễn để có thể nghiên cứu tư
tưởng Hồ Chí Minh về vai trò dân chủ, trên cơ sở đó đánh giá thực trạng và đề ra những
phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
ở huyện Thạch Hà.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn trình bày những nội dung chủ yếu trong tư tưởng Hồ Chí Minh về vai
trò của dân chủ và vận dụng những tư tưởng đó vào việc nghiên cứu thực trạng và đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa

chính sách, pháp luật của Nhà nước về thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở.
- Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước về các nội dung
có liên quan đến đề tài.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử, luận văn sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích, tổng hợp, quy
nạp, diễn dịch, hệ thống - cấu trúc, so sánh, thống kê, nghiên cứu văn bản,... trong nghiên
cứu các vấn đề lý thuyết.
- Luận văn sử dụng phương pháp điều tra xã hội học, kết hợp phân tích báo cáo
tổng hợp của các cơ quan, ban ngành liên quan, các kết quả nghiên cứu khoa học có liên
quan trong quá trình nghiên cứu đề tài.
6. Đóng góp của luận văn
Về mặt lý luận: luận văn góp phần làm rõ hệ thống tư tưởng Hồ Chí Minh về vai
trò của dân chủ và giá trị của tư tưởng này, lấy đó làm cơ sở để nhận diện và giải quyết
một số vấn đề đặt ra trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở huyện Thạch Hà, tỉnh
Hà Tĩnh hiện nay, nhằm thực hiện tốt hơn công tác này trong thời gian tới.
Về mặt thực tiễn: luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên
cứu, giảng dạy, tập huấn, tài liệu tham khảo để các cấp ủy đảng, chính quyền triển
khai thực hiện hiệu quả hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Thạch Hà,
tỉnh Hà Tĩnh.
5


7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham khảo, luận văn được
chia làm hai chương, năm tiết.

6



7


mang tính xã hội, trong đó có việc cử ra người đứng đầu các cộng đồng để thực thi
những quy định chung và phế bỏ những người đó nếu họ không thực hiện theo ý nguyện,
lợi ích chung của cộng đồng. Khi lực lượng sản xuất phát triển, năng suất lao động tăng
lên, sản phẩm làm ra dư thừa, xuất hiện chế độ tư hữu, xã hội phân chia giai cấp và mâu
thuẫn giai cấp ngày càng gay gắt. Một hình thức tổ chức xã hội mới ra đời - đó là nhà
nước dân chủ chủ nô thống trị đại đa số người lao động là giai cấp nô lệ. Khi đó nhà
nước chủ nô mới chính thức sử dụng danh từ dân chủ. Nhưng dân ở đây chỉ là dân theo
quy định của pháp luật do giai cấp chủ nô quy định bao gồm giai cấp chủ nô, tăng lữ,
thương gia, một số trí thức và người tự do. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, dân chủ
mang tính giai cấp. Chế độ dân chủ gắn với một chế độ xã hội cụ thể và một giai cấp cầm
quyền nhất định, đó là chủ nô.
Như vậy, với sự xuất hiện của nhà nước, quyền lực cộng đồng xã hội chuyển hoá
thành quyền lực nhà nước. Dân chủ mang bản chất giai cấp và trở thành mục tiêu đấu
tranh, giành, giữ và phát triển của nhân loại. Lịch sử của dân chủ cũng cho thấy các giai
cấp thống trị khác nhau hiện thực hoá chế độ dân chủ theo lập trường và lợi ích của mình.
Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, chế độ phong kiến ra đời thay thế
chế độ chiếm hữu nô lệ. Quyền lực xã hội bị thâu tóm vào tay nhà Vua, quyền thực hiện
quyền dân chủ của nhân dân lao động bị thu hẹp.
Khi quan hệ sản xuất phong kiến dần bị xóa bỏ, giai cấp tư sản ra đời, nền dân
chủ tư sản xuất hiện với nhiều mặt tiến bộ so với các chế độ dân chủ trước với những
thành tựu to lớn chủ yếu do nhân dân sáng tạo ra. Mặc dù chế độ đó mang tên chế độ dân
chủ, nhà nước dân chủ nhưng về thực chất vẫn không phải là nhà nước thực hiện quyền
lực thực sự của nhân dân, phạm vi dân chủ của nó chỉ bó hẹp trong một bộ phận là giai
cấp tư sản. Khái niệm tự do, dân chủ, bình đẳng bị che lấp bởi quan hệ bóc lột.
Chỉ đến khi Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thắng lợi, một thời đại mới mở
ra. Khi đó giai cấp công nhân cùng với nhân dân lao động đánh đổ sự thống trị của giai
cấp tư sản, giành lấy chính quyền, thiết lập nền dân chủ XHCN, quyền làm chủ của nhân

xuất chủ yếu của toàn xã hội đáp ứng sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất
dựa trên cơ sở khoa học - công nghệ hiện đại nhằm thỏa mãn ngày càng cao những nhu
cầu vật chất và tinh thần của toàn thể nhân dân lao động.
Bản chất kinh tế chỉ được bộc lộ đầy đủ qua một quá trình ổn định chính trị, phát
triển sản xuất và nâng cao đời sống của toàn xã hội, dưới sự lãnh đạo của đảng Mác Lênin và quản lý, hướng dẫn, giúp đỡ của nhà nước XHCN.
9


+ Bản chất tư tưởng - văn hóa: Nền dân chủ XHCN lấy hệ tư tưởng Mác - Lênin,
hệ tư tưởng của giai cấp công nhân làm nền tảng chủ đạo, đối với mọi hình thái ý thức xã
hội khác trong xã hội mới. Đồng thời, dân chủ XHCN kế thừa và phát huy những tinh
hoa văn hóa truyền thống các dân tộc, tiếp thu những giá trị tư tưởng - văn hóa, văn minh
tiến bộ của nhân loại.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã vận dụng và
phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể, trong đó có tư tưởng về
dân chủ. Bản chất của Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân ngày càng
được củng cố, đem lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc cho nhân dân.
Trong văn kiện Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp
tục khẳng định cần “Phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa”, cụ thể:
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nền dân chủ XHCN, bảo đảm tất cả quyền lực
nhà nước thuộc về nhân dân; mọi đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật
của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân; cán bộ, công chức phải hoàn thành tốt chức
trách, nhiệm vụ được giao, tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân.
- Nâng cao ý thức về quyền và nghĩa vụ công dân, năng lực làm chủ, tham gia
quản lý xã hội của nhân dân. Có cơ chế cụ thể để nhân dân thực hiện trên thực tế quyền
làm chủ trực tiếp.
- Thực hiện tốt hơn Quy chế dân chủ ở cơ sở và Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở
xã, phường, thị trấn. Phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm công dân, kỷ luật, kỷ cương
xã hội; phê phán và nghiêm trị những hành vi vi phạm quyền làm chủ của nhân dân,
những hành vi lợi dụng dân chủ để làm mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội; chống tập

Đối với nước ta là nước một nước nông ngiệp, hiện nay nông dân còn chiếm hơn
70% dân số trong xã hội, đa phần sống ở nông thôn. Nông nghiệp, nông dân, nông thôn
có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ
XHCN. Trong công cuộc đổi mới, nông dân có những đóng góp to lớn cho sự phát triển
kinh tế, ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội,... Bởi vậy, phát huy vai trò làm chủ của
nhân dân lao động ở cơ sở trước hết phải hướng tới nông dân, nông nghiệp, nông thôn.
Song, quá trình thực hiện dân chủ, đối với nhân dân đặc biệt là nông dân, vốn chưa quen
với nhà nước pháp quyền và xã hội công dân. Cho nên làm thế nào để vừa kêu gọi, tập
hợp, lôi cuốn, giáo dục nhân dân tham gia làm chủ, biết cách làm chủ, đồng thời củng cố
và xây dựng cơ chế đảm bảo quyền làm chủ của họ là một yêu cầu cấp thiết hiện nay.
11


Đáp ứng yêu cầu đó, ngày 18/02/1998, Bộ Chính trị ra Chỉ thị số 30 - CT/TW về
“Xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở”. Trên cơ sở đó, ngày 11/5/1998,
Chính phủ ra Nghị định số 29/1998/NĐ-CP về việc ban hành “Quy chế thực hiện dân
chủ ở xã”. Cùng với chỉ thị số 22/1998 CT-TTg ngày 15/5/1998 “Về việc triển khai quy
chế thực hiện dân chủ ở xã”, Chỉ thị số 24/CT-TTg ngày 19/6/1998 “Về việc xây dựng
và thực hiện hương ước, quy ước của làng bản, thôn ấp, cụm dân cư”. Tiếp theo đó,
ngày 8/9/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 71/1998/NĐCP về quy chế thực hiện
dân chủ trong hoạt động của cơ quan cùng chỉ thị 38/1998/CT-TTg ngày 11/11/1998 của
Thủ tướng Chính phủ về việc “Triển khai quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động
của cơ quan” và đến ngày 13/2/1999 Chính phủ ban hành Nghị định số 07/1999/NĐ-CP
về “Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp Nhà nước”.
Ngày 28/3/2002, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Chỉ thị số 10-CT/TW “Về tiếp
tục đẩy mạnh việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở” . Ngày 7/7/2003,
Chính phủ thông qua Nghị định 79/2003/NĐ-CP về “Ban hành Quy chế thực hiện dân
chủ ở xã” thay thế cho Nghị định số 29/1998/NĐ-CP. Để triển khai có hiệu lực, hiệu quả
hoạt động dân chủ cấp xã, đồng thời nâng tính pháp lý của việc thực hiện QCDC lên một
bước mới, ngày 20/4/2007 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Pháp lệnh 34PL/UBTVQH về “Thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn thay thế cho Nghị định

nhằm đảm bảo cho nhân dân thực hiện quyền làm chủ trực tiếp. Bên cạnh đó, QCDC ở
cơ sở còn xác định trách nhiệm của chính quyền và các tổ chức tự quản trong việc giải
đáp những thắc mắc, khiếu nại, tố cáo và những ý kiến đóng góp, phê bình của nhân dân.
Có thể nói QCDC ở cơ sở chính là một bước tiến quan trọng cả về nhận thức, hành động
và hiệu quả thực tế của sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam.
Tinh thần xuyên suốt của Chỉ thị 30 - CT/TW và Nghị định 79/2003/NĐ-CP về
QCDC ở cơ sở là việc thể chế hóa quan điểm của Đảng về dân chủ và bảo đảm quyền
làm chủ của nhân dân với phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” tiếp
tục được thể hiện trong 6 Chương và 28 Điều của Pháp lệnh số 34/PL-UBTVQH của
ngày 20 tháng 4 năm 2007 Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Dân chủ chỉ thực chất khi nhân dân được biết, được bàn, được làm, được kiểm tra
những nội dung gần gũi, thiết thực, ảnh hưởng trực tiếp tới quyền và lợi ích của mình.
Bản chất của“Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” là những nội dung liên hoàn
của trình tự công khai hóa và dân chủ hóa. Thực hiện đúng, đầy đủ các khâu này cũng
chính để đảm bảo các quyền cơ bản của công dân đã được Hiến pháp và pháp luật quy định.
13


Điều 5, Pháp lệnh dân chủ cơ sở quy định về những nội dung công khai: bao gồm
11 nội dung. Công khai cho dân biết: Kế hoạch phát triển KTXH; kế hoạch triển khai các
dự án, công trình trên địa bàn cấp xã; quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; nhiệm vụ, quyền
hạn của cán bộ, công chức cấp xã; công tác quản lý và sử dụng các loại quỹ, khoản đầu
tư; các khoản huy động của nhân dân; chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất,
xóa đói, giảm nghèo; phương thức và kết quả bình xét hộ nghèo, trợ cấp xã hội; chủ
trương thành lập mới, nhập, chia, điều chỉnh đơn vị hành chính; kết quả thanh tra, kiểm
tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực; kết quả lấy phiếu tín nhiệm lãnh đạo HĐND, UBND
cấp xã; nội dung, kết quả tiếp thu ý kiến của nhân dân; đối tượng, mức thu các loại phí, lệ
phí và nghĩa vụ tài chính; các quy định về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc
liên quan đến nhân dân do chính quyền cấp xã trực tiếp thực hiện và những nội dung
khác theo quy định của pháp luật, theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền

- Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình, dự án trên địa bàn cấp xã; chủ
trương, phương án đền bù, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, xây dựng cơ sở hạ tầng, tái định
cư; phương án quy hoạch khu dân cư.
- Dự thảo đề án thành lập mới, nhập, chia đơn vị hành chính, điều chỉnh địa giới
hành chính liên quan trực tiếp đến cấp xã.
- Những nội dung khác cần phải lấy ý kiến nhân dân theo quy định của pháp luật,
theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoặc chính quyền cấp xã thấy cần thiết.
Về hình thức để nhân dân tham gia ý kiến (Điều 20): họp cử tri hoặc cử tri đại
diện hộ gia đình theo địa bàn từng thôn, tổ dân phố; Phát phiếu lấy ý kiến cử tri hoặc cử
tri đại diện hộ gia đình hoặc thông qua hòm thư góp ý.
Những nội dung nhân dân giám sát (Điều 23) và hình thức để thực hiện việc giám
sát của nhân dân (Điều 24): Được xác định thông qua hoạt động của Ban thanh tra nhân
dân, Ban giám sát đầu tư của cộng đồng,… Đây là hình thức góp phần nâng cao trách
nhiệm của nhân dân trong công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước, xây dựng các tổ
chức đoàn thể ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ mới.
Như vậy, với những quy định hết sức cụ thể và rõ ràng về vai trò làm chủ của
người dân, có thể khẳng định sự ra đời của QCDC ở cơ sở chính là bước đột phá về bản
chất ưu việt của chế độ ta, là nấc thang đánh dấu tiến trình thực thi nền dân chủ của một
chế độ phát triển.
15


Trong quá trình triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở, để dân chủ thật sự là mục
tiêu, động lực của công cuộc đổi mới, Đảng ta luôn luôn quan tâm tới việc giữ vững
tính chất XHCN của nền dân chủ. Phải đảm bảo cơ sở kinh tế của nền dân chủ XHCN
đó là chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu. Trong thực hiện dân chủ
XHCN, thực hiện dân chủ trên lĩnh vực kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng. Chỉ khi nào
người lao động thực sự làm chủ về kinh tế, thì họ mới là lực lượng quyết định toàn bộ
quá trình phát triển xã hội. Do đó, sự phát triển của KTXH, đời sống vật chất, tinh
thần của nhân dân được cải thiện và nâng lên là tiêu chuẩn cao nhất, là thước đo quá

phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ
sở Đảng; tăng cường mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa dân với Đảng. Vai trò hạt nhân
lãnh đạo của các tổ chức cơ sở Đảng đối với chính quyền và các đoàn thể nhân dân được
nâng lên; hoạt động của các cấp uỷ Đảng, chính quyền đi vào khuôn khổ; khắc phục tình
trạng lấn sân, làm việc tuỳ tiện, vô nguyên tắc, độc đoán, gia trưởng, bè phái,...; đồng
thời là biện pháp thúc đẩy cải cách hành chính, nâng cao hiệu quả, hiệu lực quản lý, điều
hành của các cấp chính quyền.
Thực hiện tốt QCDC, các đoàn thể và các tổ chức chính trị ở cơ sở được củng cố,
hoạt động gắn bó, sâu sát hơn với nhân dân, cùng nhân dân giải quyết những vấn đề đặt
ra trong đời sống kinh tế, xã hội. Những tác động đó còn là yếu tố góp phần hoàn thiện
phong cách làm việc, trình độ, năng lực công tác của đội ngũ cán bộ, đảng viên, tránh xa
tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí.
Thực hiện tốt QCDC, nhân dân nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn về quyền hạn,
trách nhiệm và nghĩa vụ của mình đối với việc xây dựng chính quyền của dân, do dân, vì
dân. Thể hiện rõ hơn trách nhiệm trong lựa chọn những người xứng đáng đại diện cho ý
chí, nguyện vọng và quyền lợi của mình tham gia các chức danh chính quyền; đẩy mạnh
công tác giám sát các tổ chức Đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên ở cơ sở.
- QCDC cơ sở đã tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống văn hoá của
nhân dân, củng cố và tăng cường tinh thần đoàn kết, tương thân, tương ái
Thực hiện QCDC, nhân dân tích cực hưởng ứng phong trào đền ơn đáp nghĩa,
ủng hộ, giúp đỡ người nghèo, giúp nhau phát triển kinh tế, xây dựng đời sống văn hóa
mới; nêu cao ý thức tự giác trong việc giữ gìn an ninh trật tự, bảo vệ lợi ích chung của
cộng đồng.
17


QCDC ở cơ sở góp phần quan trọng vào việc thay đổi, nâng cao nhận thức trong
cán bộ, đảng viên và nhân dân giúp nhân dân hiểu rõ hơn về quyền và nghĩa vụ của
mình. Cán bộ, đảng viên thấy rõ hơn sức mạnh to lớn, vai trò, động lực và hiệu quả của
dân chủ, từ đó tham gia tích cực nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội,

kẻ thù tàn bạo nào có thể khuất phục. Ông luôn chăm lo sức dân ngay từ thời bình cũng
như trong thời chiến. Chủ trương sâu sắc của ông mà đỉnh cao là tư tưởng: "Khoan thư
sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách của sự giữ nước” [61, tr.398].
Cũng chính Hưng Đạo Vương, sau các chiến thắng lừng lẫy đã xác định, đại ý:
"Vua tôi đồng lòng, anh em hòa mục nên quân địch đã phải bị bắt”. Yếu tố đoàn kết từ
thượng tầng triều đình đến hạ tầng dân chúng, đoàn kết quân dân, đoàn kết toàn quân,
xây dựng đội quân "phụ tử chi binh” chính là khơi dậy mạch nguồn sức mạnh từng bước
tiến tới toàn thắng. Đó là nguồn sức mạnh vô địch mà nhân dân Đại Việt không những
đứng vững mà còn chiến thắng đế quốc Nguyên - Mông.
Hưng Đạo Vương không những là vị thống soái quân sự cao nhất mà còn là một
nhà lý luận, nhà tư tưởng quân sự nổi tiếng với nghệ thuật chiến tranh nhân dân. Điển
hình của lý luận quân sự của ông thể hiện cao nhất ở Hịch tướng sĩ và sau này là bản Di
chúc lịch sử thể hiện tinh hoa khí phách dân tộc Đại Việt trong việc đánh giặc giữ nước.
Tư tưởng khoan thư sức dân, dựa vào dân, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân, toàn quân
và triều đình để làm kế sách giữ nước của ông là tư tưởng vượt qua mọi thời gian, đến
nay vẫn còn nguyên giá trị, đầy sức sống, luôn có mặt trong mọi thời đại mà hậu thế đã
tôn vinh.
Ở thời Trần, những cuộc hội nghị bàn việc nước như hội nghị Bình Than (1282),
hội nghị Diên Hồng (1283) đã thể hiện tính dân chủ. Qua những hội nghị này, vừa biết
được lòng dân vừa tăng thêm ý chí và quyết tâm đánh giặc, giữ nước của nhân dân.
Nguyễn Trãi là một nhà chính trị, quân sự lỗi lạc của dân tộc Việt Nam ở thế kỷ
XV. Người góp phần tại dựng nên chính sách thân dân thời kỳ Lê sơ. Tư tưởng “thân
dân” thể hiện khá rõ nét “việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” (Bình ngô đại cáo). Ông coi
trọng vai trò của nhân dân đối với đất nước, xem nhân dân là gốc với mục tiêu đem lại
thái bình, thịnh vượng cho dân, phải “nuôi dân”, “chăn dân”, “huệ dân”.
Có thể nói, thái độ và chính sách ở thời Lý, Trần, Lê đã góp phần to lớn trong
việc tạo tiền đề cho sự chuyển biến nhận thức trong quan niệm về dân ở các thời kỳ lịch
sử sau này, đặc biệt là tư tưởng Hồ Chí Minh.
19


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status