BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VIỆT HÙNG
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TẠI THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
2
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN VIỆT HÙNG
PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TẠI THỊ XÃ HỒNG LĨNH, TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
3
MỤC LỤC
Trang
TRANG PHỤ BÌA..................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN........................................................................................................................................2
MỤC LỤC..............................................................................................................................................3
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT..............................................................................................................4
A. MỞ ĐẦU..........................................................................................................................................5
1. Tính cấp thiết của đề tài......................................................................................................5
2. Mục đích của đề tài...........................................................................................................10
3. Nhiệm vụ ..........................................................................................................................10
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài.....................................................................10
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu........................................................................10
6. Ý nghĩa của đề tài..............................................................................................................11
7. Kết cấu của đề tài..............................................................................................................11
B. NỘI DUNG......................................................................................................................................12
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ..........................................................................................12
1.1. Lý luận chung về dân chủ và quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở...................................12
1.2. Quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng cộng sản Việt Nam
về dân chủ và thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở........................................................23
1.3. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với việc thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở.......................................................................................29
Kết luận chương 1.................................................................................................................42
Chương 2
6
7
8
Chữ viết tắt
HTCT
HĐND
MTTQVN
QCDC
TTND
UBMTTQ
UBND
UBTVQH
Nội dung
Hệ thống chính trị
Hội đồng Nhân dân
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Quy chế dân chủ
Thanh tra Nhân dân
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Ủy ban Nhân dân
Ủy ban Thường vụ Quốc hội
5
A. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ không chỉ là bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa mà còn là
động lực, là mục tiêu của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta trong sự nghiệp xây
nhiệm, nghĩa vụ của công dân; Mặt trận và các đoàn thể phối hợp với chính
quyền trong việc thực hiện và giám sát thực hiện QCDC ở cơ sở” [2, tr 4].
Trong 17 năm qua việc triển khai thực hiện QCDC ở cơ sở là một thời
gian cũng khá dài và thực tế đã cho thấy những kết quả đạt được rất quan
trọng, có những bước phát triển mới. Tuy vậy, vẫn còn bộc lộ những thiếu sót,
yếu kém như: công tác chỉ đạo của MTTQ ở một số xã, phường trong thị xã
Hồng Lĩnh chưa đều, chưa phát huy hết quyền làm chủ của Nhân dân còn bị vi
phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh vực; còn bị động lúng túng trong việc đề ra
các biện pháp chỉ đạo phù hợp với tình hình, đặc điểm của từng địa phương;
tính hình thức còn khá phổ biến trong nhiệm vụ triển khai thực hiện QCDC của
các cấp ủy Đảng, chính quyền và MTTQ. Việc kiện toàn, cũng cố nâng cao
chất lượng hoạt động của UBMTTQ ở một số địa phương chưa được tập trung
đúng mức; Một số cán bộ xã, phường chưa nắm bắt được QCDC và công tác
Mặt trận tham gia thực hiện QCDC; hoạt động giám sát của Mặt trận và các
đoàn thể chính trị - xã hội ở một số xã, phường còn kém; công tác tuyên truyền
vận động Nhân dân học tập nắm vững các quan điểm của Bộ Chính trị, nội
dung quyền làm chủ trực tiếp trong quy chế còn làm lướt, hình thức; việc lồng
ghép các nội dung công tác Mặt trận tham gia thực hiện QCDC với ba nội
dung cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân
cư” chưa chặt chẽ và đồng bộ.
Để không ngừng tăng cường hiệu quả của việc thực hiện QCDC ở cơ sở
và góp phần xem xét, đánh giá vấn đề một cách khách quan, khoa học, việc đi
sâu nghiên cứu, tổng kết, đánh giá quá trình thực hiện trên phạm vi toàn quốc
hay từng địa phương cụ thể đều có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.
Từ lâu, vấn đề dân chủ đã thu hút sự quan tâm chú ý của nhiều nhà hoạt
7
động chính trị cũng như các nhà khoa học ở nhiều lĩnh vực khoa học xã hội và
nhân văn ở trong nước và trên thế giới. Dân chủ và thực hiện QCDC ở cơ sở, vai
chí Đại học Sài Gòn, số 13, T2/2013 Tr 39-45. PGS.TS Nguyễn Lương Bằng
(năm 2012). Bài viết “Vai trò giám sát, phản biện của Mặt trận Tổ quốc và
các đoàn thể đối với ổn định và tăng trưởng kinh tế vĩ mô ở Việt Nam”, kỷ yếu
hội thảo khoa học,Trường Đại học Vinh, tháng 4 năm 2012 Trang 16-19.
Trong hai bài này tác giả đã phân tích sâu sắc ưu điểm, nhược điểm về vai trò
của tổ chức Mặt trận và các đoàn thể trong hệ thống chính trị Việt Nam hiện
nay, đồng thời đề xuất những giải pháp để phát huy các tổ chức trong đó có bối
cảnh của Việt Nam hiện nay.
Tác giả Lê Bá Lợi (2009) “Mặt trận tổ quốc Hồng Lĩnh với việc thực
hiện QCDC ở cơ sở”, Tạp chí Mặt trận tổ quốc Việt Nam, số 71. Bài viết này
tập trung trình bày những kết quả đạt được và những mặt còn hạn chế trọng
việc thực hiện QCDC của Mặt trận tổ quốc thị xã Hồng Lĩnh, đề ra những giải
pháp thực hiện tốt việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn công tác Mặt trận (2009), của Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.
Công trình tập trung nghiên cứu những vấn đề về cơ sở lý luận, nội dung, đặc
điểm, vai trò, hoạt động… của công tác MTTQVN. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam (2007), Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam, quyển III (19742004), Nxb chính trị Quốc gia, Hà Nội, tập trung nghiên cứu về lịch sử hình
thành của MTTQVN trong lịch sử.
Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam (2006), Sổ tay công tác
Mặt trận tham gia xây dựng chính quyền (lưu hành nội bộ), xưởng in tổng hợp
cục công nghiệp quốc phòng, tập trung nêu lên những hoạt động của
MTTQVN, cũng như việc thực hiện QCDC ở cơ sở, về Luật của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, các Nghị quyết, Thông tư Liên tịch, Thông tri, Nghị định của
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Nhóm vấn đề này các tác giả tập trung trình bày về lý luận và thực tiễn
của MTTQVN, cũng như tình hình thực hiện QCDC ở cơ sở tại các địa
phương.
9
12
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT HUY VAI TRÒ
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI VIỆC
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
1.1. Lý luận chung về dân chủ và quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
1.1.1. Một số khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm dân chủ và dân chủ ở cơ sở
Dân chủ là một khái niệm đa nghĩa, phức tạp, thuộc phạm trù chính trị
có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp. “Dân chủ” là một từ ghép gồm 2 chữ: “demos”
(có nghĩa là người bình dân, dân chúng) và “kratia” (chữ gốc là “kratos” - có
nghĩa là quyền cai trị, là sức mạnh). Do vậy, từ “Demoskratia” có nghĩa là
quyền lực của Nhân dân, chính quyền của Nhân dân. Dân chủ là một chính
quyền “của dân, do dân và vì dân”. Như vậy, dân chủ là một thể chế do dân
làm chủ và dân chủ trước hết là chế độ chính trị trong đó quyền lực tối cao
thuộc về Nhân dân, do Nhân dân thực thi, tự bản thân thực thi hoặc thông qua
các đại biểu mà mình bầu ra.
Bản chất của Nhà nước ta được khẳng định trong Hiến pháp, là Nhà
nước của dân, do dân, vì dân. Tuy vậy, trong thực tế, một số bộ phận cán bộ,
công chức Nhà nước chưa thực sự là người công bộc của dân như Chủ tịch Hồ
Chí Minh đã mong muốn. Nếu không thực hiện dân chủ, Nhà nước sẽ trở nên
độc tài, chuyên chế, do đó dân phải học để làm chủ; Nhà nước phải bảo đảm cơ
chế để lắng nghe dân. Do vậy, nói tới dân chủ có nghĩa là nói đến mối quan hệ
giữa dân và chính quyền mà ở đó chính quyền phải lắng nghe dân, phải tạo
điều kiện để người dân được quyết định hoặc tham gia quyết định những vấn
đề liên quan đến cuốc sống và sự phát triển của mỗi người, của cả cộng đồng,
điều này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng ở cấp xã, phường, thị trấn.
14
Trước tình hình đó, Nghị quyết TW 3 khóa VIII (6/1997) nêu rõ yêu
cầu: Tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn quyền là chủ của dân qua các hình
thức dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; tiếp tục hoàn thiện Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đảm bảo trong sạch, vững mạnh và tăng cường
sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước, mở rộng dân chủ xã hội chủ nghĩa,
phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong xây dựng và quản lý Nhà nước.
Ngày 18/2/1998, Bộ chính trị Trung ương Đảng đã ra chỉ thị 30/ CT-TW
về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở nhằm “Giữ vững và phát huy quyền
làm chủ của dân, thu hút Nhân dân tham gia quản lý Nhà nước, tham gia kiểm
kê, kiểm soát Nhà nước, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ
và nạn tham nhũng” [2, tr.1], UBTVQH (khóa X) ra Nghị quyết số 45 - 1998/
NQ - UBTVQH 26/2/1998 về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã.
Nghị quyết giao Chính phủ ban hành quy chế thực hiện dân chủ với các định
hướng nội dung cụ thể. Thực hiện chủ trương của Đảng và Nghị quyết của
UBTVQH, ngày 11/5/1998, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 29/1998/
NĐ - CP (nay là Nghị định số 79/2003/ NĐ - CP) về việc ban hành QCDC.
Nghị quyết nêu rõ: Điều 1: Ban hành kèm theo Nghị định này bản Quy chế
thực hiện dân chủ ở xã. Điều 2. Quy chế này áp dụng với cả phường và thị
trấn. Ban tổ chức - Cán bộ Chính phủ hướng dẫn việc áp dụng quy chế này đối
với phường và thị trấn. [9, tr.1].
Quy chế dân chủ ở cơ sở bao gồm cả dân chủ trong các cơ quan hành
chính Nhà nước và các đơn vị doanh nghiệp Nhà nước với các văn bản quy
định riêng. Những văn bản trên đây từ chủ trương của Đảng đến việc thể chế
hóa bằng các văn bản pháp luật của Nhà nước thể hiện sự quan tâm của Đảng,
Nhà nước ta đối với việc xây dựng thể chế về dân chủ ở cơ sở. Thực hiện
phương châm: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, giám sát”, thể hiện
bản chất Nhà nước là Nhà nước của dân, do dân và vì dân.
phường, thị trấn).
16
Thứ hai, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa dân chủ xã
hội chủ nghĩa ở cơ sở, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân gắn liền với cơ
chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.
Thứ ba, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở phát huy chế độ dân chủ đại
nghị, nâng cao chất lượng và hiệu lực hoạt động của chính quyền địa phương,
cơ sở, quy định những nghĩa vụ cụ thể của chính quyền trong việc bảo đảm
quyền dân chủ của người dân ở cơ sở.
Thứ tư, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thực hiện chế độ dân chủ trực
tiếp ở cơ sở để nhân dân bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việc quan
trọng, thiết thực, gắn với quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân.
Thứ năm, Có sự tham gia của Mặt trận và các đoàn thể nhân dân ở mọi
khâu trong thực hiện quy chế ở cơ sở để phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ của
nhân dân trong việc thực thi nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Thứ sáu, Mục đích của việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã là
nhằm phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức
mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội,
cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết xây
dựng Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh, ngăn
chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng của một số cán
bộ, Đảng viên và các tệ nạn xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu dân giàu,
nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Thứ bảy, Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở thể hiện yêu cầu dân chủ
phải trong khuôn khổ của Hiến pháp Và Pháp luật, đi đôi với trật tự, kỷ cương,
quyền đi đôi với nghĩa vụ; kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ, vi
phạm Hiến pháp, Pháp luật, xâm phạm lợi ích của Nhà nước, lợi ích tập thể,
quyền tự do, dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân.
dân mà còn chống được tệ nạn tham nhũng, lãng phí.
Về kiểm tra, giám sát, quy chế quy định dân giám sát, kiểm tra các loại
công việc từ hoạt động của HĐND, UBND đến các việc giải quyết khiếu nại,
18
tố cáo của công dân, kết quả quyết toán công trình do dân đóng góp, việc quản
lý sử dụng đất đai, thu chi các quỹ, việc thực hiện chính sách đối với người có
công với nước…dân giám sát, kiểm tra tức là thực hiện quyền lực của mình
trong quá trình quản lý đất nước. Lê nin đã từng nói: Nếu Nhà nước không tiến
hành kiểm kê, kiểm soát toàn dân đối với việc sản xuất và phân phối các sản
phẩm thì chính quyền của những người lao động, nền tự do của họ sẽ không
thể duy trì được.
1.1.2.3. Vai trò của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Nước Việt Nam quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội từ một chế độ phong kiến
nữa thuộc địa, ở đó mang nặng dấu ấn của chế độ chuyên chế quân sự. mặc dù
trong xã hội lúc bấy giờ đã có yếu tố dân chủ truyền thống làng, xã và yếu tố
sơ khai của dân chủ tư sản nhưng chưa đáng kể. Do vậy, nền tảng dân chủ ở cơ
sở của ta thiếu hụt truyền thống trong lịch sử. Điều đó gây không ít khó khăn
cho việc xây dựng một nước dân chủ theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Quy chế ra đời là một đòi hỏi tất yếu của quá trình thực hiện dân chủ ở
nước ta, quy chế không chỉ đơn thuần là một phản ứng chính trị của Đảng và
Nhà nước trước những tình hình phức tạp của những điểm nóng ở cơ sở mà thể
hiện cái nhìn hướng tới cơ sở, coi trọng cái gốc ở cơ sở nên mang tính chiến
lược, căn bản, lâu dài. Lần đầu tiên định hướng chính trị về dân chủ, phương
châm để thực hiện dân chủ như “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” đã
được cụ thể hóa trong một văn bản quy phạm pháp luật. Vì vậy, quy chế thực
hiện dân chủ ở cơ sở có vai trò hết sức to lớn.
Thứ nhất, thực hiện quy chế đảm bảo quyền lực chính trị của nhân dân
lao động, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân,
được là do Nhân dân bầu ra để nhận hối lộ, tham nhũng, làm trái với mục tiêu
của Đảng. Họ trở nên những người xa lạ với dân, với Đảng với Nhà nước. Bộ
máy chính quyền trở nên quan liêu, bảo thủ trì trệ nó không còn đại diện được
cho lợi ích của Nhân dân, của toàn xã hội nữa mà chính nó lại vi phạm đến lợi
ích của Nhân dân lao động, đến lợi ích mà nó đại diện.
20
Để hạn chế sự tha hóa quyền lực Nhà nước, cần phải làm trọng sạch bộ
máy lãnh đạo của Đảng và chính quyền ngay ở từng cơ sở. Từ khi triển khai
thực hiện quy chế, người dân đã biết sử dụng quyền làm chủ của mình để đấu
tranh với những hiện tượng tiêu cực ấy. Từ những quy định rõ ràng các việc
cần thông báo cho dân biết, những việc dân được bàn, những việc dân được
giám sát, kiểm tra tài chính công khai, minh bạch đã làm hạn chế rất nhiều biểu
hiện tha hóa của một số cán bộ, đảng viên trong bộ máy Nhà nước.
Thực hiện dân chủ ở cơ sở không chỉ làm cho Nhân dân lao động từng
bước thể hiện quyền làm chủ mà còn làm cho các cấp ủy đảng, chính quyền,
đảng viên nhận thức rõ hơn về quyền làm chủ của Nhân dân cũng như ý thức
được trách nhiệm phục vụ Nhân dân, phát huy dân chủ, giữ gìn kỷ cương phép
nước. Ở những nơi làm tốt việc triển khai thực hiện quy chế dân chủ, ý thức
xây dựng cộng đồng, xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền được nâng lên.
Nó không chỉ góp phần nâng cao ý thức cán bộ, đảng viên và nhân dân về thực
hiện và phát huy dân chủ và quyền làm chủ của Nhân dân mà còn làm chuyển
biến một bước về phương thức lãnh đạo của Đảng, điều hành, quản lý của
chính quyền ở cơ sở. Nhân dân đã mạnh dạn, thẳng thắn, cởi mở chân thành
phê bình cán bộ, đảng viên, đóng góp xây dựng tổ chức Đảng giúp tổ chức
Đảng loại được nhiều cán bộ đảng viên kém phẩm chất, năng lực, thoái hóa
biến chất.
Thực hiện dân chủ ở cơ sở là một cuộc cách mạng sâu sắc đến ý thức và
phong cách, phương thức lãnh đạo của Đảng, sự điều hành của chính quyền cơ
phát triển kinh tế. Xây dựng và phát triển văn hóa là sự nghiệp của toàn dân do
Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ thể sáng tạo, đội ngũ tri
thức giữ vai trò quan trọng.
Từ khi có Nghị quyết TW5 (khóa VIII) và Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị
Trung ương Đảng, các địa phương đã kết hợp chặt chẽ cả hai nội dung: Triển
khai quy chế dân chủ với phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống
văn hóa khu dân cư” nhắm khắc phục những vấn đề nhức nhối về tư tưởng đạo
đức, lối sống và xây dựng môi trường văn hóa văn minh, lành mạnh trong từng
22
gia đình, làng xã, vận động nhân dân xây dựng nếp sống văn minh, lối sống
lành mạnh, bài trừ các hủ tục, tệ nạn xã hội và mê tín dị đoan.
Bên cạnh, tổ chức công tác tuyên truyền các chủ trương chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước. Tuyên truyền thực hiện cuộc vận động “Học
tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, tổ chức các ngày lễ, tết.
Thực hiện Chỉ thị 27 của Bộ Chính trị trong việc cưới, việc tang, lễ hội. Tiếp
tục thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục; đẩy mạnh công tác y tế, dân số kế
hoạch hóa gia đình, công tác vệ sinh môi trường.
Thứ năm, Thực hiện dân chủ ở cơ sở tạo ra pháp lý để Mặt trận tổ quốc
các cấp và các tổ chức chính trị xã hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa Nhà
nước và nhân dân trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa.
Mặt trận tổ quốc Việt Nam tuyên truyền, vận động nhân dân phát huy
quyền làm chủ, thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm
chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát các hoạt động của cơ quan
Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức nhà nước; tập hợp ý chí,
nguyện vọng của Nhân dân để phản ánh kiến nghị kịp thời với Đảng và Nhà
nước; tham gia xây dựng củng cố chính quyền Nhân dân; cùng nhà nước chăm
lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng của Nhân dân. MTTQVN, các
tổ chức thành viên thông qua hoạt động phối hợp tuyên truyền vận động Nhân
Lênin viết dân chủ là một quá trình phát triển, là kết quả của các cuộc đấu
tranh của Nhân dân. do vậy dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa là một hiện
tượng hợp quy luật, là bước phát triển cao hơn về chất so với các kiểu dân chủ
trong lịch sử mà bản chất của nó là nhằm giải phóng con người khỏi áp bức,
bóc lột và tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện.
Trong chế độ dân chủ, Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực Nhà
nước. Điều đó được thể hiện ở chỗ: Nhân dân tự tổ chức (bầu cử) quyền lực
Nhà nước; Nhân dân có quyền tham gia quản lý và quyết định những vấn đề
quan trọng của Nhà nước (trưng cầu dân ý); Nhân dân có quyền kiểm tra, giám
sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước. Tư tưởng này của C.Mác về sau được