Header Page 1 of 166.
LUẬN VĂN:
Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam trong thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở
Footer Page 1 of 166.
Header Page 2 of 166.
Mở đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ, theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh có nghĩa là dân làm chủ, dân
là chủ. NN ta là NN của dân, do dân và vì dân, nhưng đó là NN quản lý xã hội bằng
pháp luật. Xây dựng NN pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân chính là cách
thức cơ bản để phát huy QLC của nhân dân.
Một trong những điểm cơ bản để xây dựng NN pháp quyền, phát huy QLC của
nhân dân là phải không ngừng xây dựng và thể chế hóa mục tiêu, phương châm, những
nguyên tắc vận hành của nền dân chủ XHCN ở nước ta. Với ý nghĩa đó, ngày
18/2/1998, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng ta đã ban hành Chỉ thị số
30/CT - TW về thực hiện QCDC ở cơ sở. Bản Chỉ thị đã quy định cụ thể trách nhiệm,
nhiệm vụ của MTTQ cùng các tổ chức chính trị - xã hội trong việc xây dựng và thực
hiện QC này ở xã.
Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện QCDC đã quy định trách
nhiệm của UBMTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm 3 việc: Phải làm tốt
công tác tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong hội viên, đoàn viên và nhân dân chỉ thị
này và các QCDC ở cơ sở; Làm cho mọi người hiểu và sử dụng đúng quyền và nghĩa vụ
công dân, quyền của các tổ chức chính trị - xã hội đã được quy định trong QCDC; Phối
học tập nắm vững các quan điểm của Bộ Chính trị, nội dung QLC trực tiếp trong QC
còn làm lướt, hình thức; việc lồng ghép nội dung công tác MT tham gia thực hiện
QCDC với ba nội dung cuộc vận động "Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở
khu dân cư" chưa chặt chẽ.
UBMTTQ các cấp đã phối hợp với CQ cùng cấp tiến hành sơ kết 3 năm và
trong năm 2004 đã tổng kết 6 năm thực hiện Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị, qua đó cũng
cho thấy việc tiếp tục nghiên cứu mang tính tổng kết thực tiễn và chỉ ra khuynh hướng
phát triển, các giải pháp trong thời gian tới để MT phát huy tốt hơn vai trò của mình
trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở là việc làm mang tính cấp bách cả về phương diện
lý luận lẫn thực tiễn.
Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, Đại hội IX đã tiếp tục khẳng định và
phát triển những chủ trương và quan điểm lớn về đại đoàn kết dân tộc, phát huy dân chủ
trong thời kỳ đổi mới đã được đề ra tại các Đại hội VI, VII, VIII của Đảng để thực hiện
Footer Page 3 of 166.
Header Page 4 of 166.
mạnh mẽ hơn nữa sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân và phát huy dân chủ - hai mệnh đề
then chốt trong đường lối chiến lược của Đảng ta để đưa đất nước đi lên.
Có thể nói, cả hiện tại và trong thời gian tới, nhu cầu và điều kiện khoa học
cũng như thực tiễn về hoàn thiện hơn nữa pháp luật về MTTQ trong thực hiện quy chế
dân chủ trong tình hình mới ngày càng chín muồi. Cho đến bây giờ vẫn chưa có một
công trình khoa học pháp lý nào khảo cứu một cách toàn diện về mặt lý luận và thực
tiễn vấn đề phát huy vai trò của MTTQVN trong thực hiện QCDC ở cơ sở và về những
bảo đảm pháp lý cho hoạt động của MTTQ để tham gia thực hiện tốt hơn nữa QC. Vì
vậy, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp lý vò MTTQ trong thực
hiện QCDC là vấn đề bức xúc và cần thiết. Với tất cả các ý nghĩa đã, chúng tôi đã chọn
đề tài: "Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện Quy chế dân
chủ ở cơ sở" làm luận văn Thạc sĩ luật học.
DÂN Chủ Và DÂN Chủ ở CƠ Sở
và VAI Trò Của Mặt Trận Tổ Quốc Việt NAM
TRONG Thực Hiện QUY Chế DÂN Chủ CƠ Sở ở Xã
1.1. Dân chủ và Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
1.1.1. Khái niệm về dân chủ và dân chủ ở cơ sở
Khái niệm "dân chủ" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "demos", nghĩa là nhân dân
và "kratos" - CQ, quyền lực. "Demokratia" có nghĩa là quyền lực của nhân dân, CQ của
nhân dân. Dân chủ là một CQ "của dân, do dân và vì dân". Như vậy, dân chủ là một thể
chế do dân làm chủ và dân chủ trước hết là chế độ chính trị trong đó quyền lực tối cao
thuộc về nhân dân, do nhân dân thực thi, tự bản thân thực thi hoặc thông qua các đại
biểu mà mình bầu ra. Dân chủ gồm có dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ
trực tiếp là hình thức dân chủ với những thiết chế, quy chế để người dân thảo luận và
biểu quyết những vấn đề chung của cộng đồng. Dân chủ đại diện là hình thức dân chủ
trong đó nhân dân cử ra (chủ yếu bằng bầu cử) người thay mặt mình nắm giữ quyền lực
NN. Còn có dân chủ bán trực tiếp là hình thức dân chủ thông qua các tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp... của các tầng lớp nhân dân. Dân chủ có dân
chủ tư sản và dân chủ XHCN. Đặc trưng của dân chủ XHCN là quyền dân chủ của công
dân không ngừng được mở rộng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của NN, của xã hội
mà cơ bản nhất là dân chủ về kinh tế. Trên lĩnh vực chính trị- xã hội, quyền tham gia
quản lý NN của dân và các đoàn thể nhân dân ngày càng được mở rộng về phạm vi, về
độ sâu và phong phú đa dạng về các hình thức.
Dân chủ có thể hiểu là một cách thức và những điều kiện kèm theo để mọi
người dân tham gia bình đẳng vào các công việc chính trị, kinh tế, xã hội với vai trò là
người chủ xã hội. Khi một người nông dân cầm lá phiếu đi bầu cử một cách tự nguyện
để lựa chọn một cách tự do người đại biểu của mình trong HĐND xã - có nghĩa là
Footer Page 7 of 166.
Header Page 8 of 166.
Footer Page 8 of 166.
Header Page 9 of 166.
trong Hiến pháp là: thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh. Những mục tiêu đó đều có mối liên hệ gắn bó với nhau. Dân có giàu thì nước
với mạnh. Có dân chủ thì mới có công bằng xã hội. Có dân chủ thực sự thì dân mới giàu
và quốc gia mới mạnh. "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng
xong" [2, tr. 554]. Đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng và dân chủ là những yếu tố
không thể thiếu được của một nền văn minh. Với mục tiêu phấn đấu như vậy, việc phát
huy dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở, được coi là chủ trương, biện pháp và là hành động
tất yếu của nhân dân và CQ trong quá trình phát triển của đất nước ta.
Dân chủ được đảm bảo và phát huy bằng nhiều biện pháp. Việc thực thi dân chủ
luôn gắn liền với mối quan hệ giữa NN và nhân dân. ở nước ta hiện nay, HTCT dựa trên
thiết chế "Đảng lãnh đạo, NN quản lý, nhân dân làm chủ". Việc phát huy, thực hiện dân
chủ được tiến hành không tách rời thiết chế này.
Dân chủ mang lại những lợi ích to lớn cho xã hội. Phát huy dân chủ là phát huy
sức mạnh vật chất và tinh thần trong dân vì sự phát triển và giảm nghèo. Khi nhân dân
thực hiện quyền quyết định các công việc của làng, xã, ý thức làm chủ của dân được
khẳng định rõ rệt. Với ý thức làm chủ, mọi sáng kiến, nguồn lực của mỗi người dân,
mỗi gia đình trong cộng đồng làng, xã được phát huy một cách tốt nhất để vượt qua
những thách thức và khó khăn nhằm đạt tới sự phồn thịnh, phát triển của cộng đồng. ý
thức làm chủ sẽ là động lực quan trọng giúp họ gìn giữ bảo quản tốt hơn thành quả đạt
được. Một ví dụ minh chứng là trường hợp xây dựng hệ thống thủy lợi nhỏ nội đồng.
Các hộ sử dụng nước được quyền tự quyết định đóng góp, tự quyết định mức thu thủy
lợi phí, tự tiến hành bảo quản và duy trì hệ thống công trình tưới tiêu nội đồng. Với
QLC trong việc khai thác và quản lý việc sử dụng nước cho nông nghiệp như vậy, bà
con nông dân thực sự thực hiện QLC của mình, nhiệt tình đóng góp kinh phí, tổ chức
quản lý hệ thống tưới tiêu một cách hiệu quả nhất, giảm thiểu tối đa những chi phí
không cần thiết. Với ý thức làm chủ thực sự, bà con nông dân cùng nhau gìn giữ, bảo
tỉnh và cấp huyện) và với cấp TW. CQ cơ sở là CQ cấp xã. Bởi vì, căn cứ vào việc phân
bổ dân cư và lãnh thổ thành đơn vị hành chính thì CQ cấp xã và cấp tương đương là cấp
CQ cơ sở. Vì đây là cấp CQ cuối cùng, gần và sát dân nhất. Còn thôn, làng, ấp, bản, tổ
dân phố và tương đương là theo đơn vị dân cư - với tư cách là những cộng đồng người
nhỏ nhất sinh sống cùng nhau. ở đây, đời sống dân cư diễn ra tự quản là chính. Dân chủ
ở cơ sở là dân chủ ở cấp xã, phường, thị trấn và thôn, làng, ấp, bản, khóm, tổ dân phố
(là các hình thức cộng đồng dân cư như đã nêu). Dân chủ ở cơ sở chủ yếu là thực hiện
hình thức dân chủ trực tiếp (mặc dù có cả dân chủ đại diện), và các hình thức tự quản
Footer Page 10 of 166.
Header Page 11 of 166.
của cộng đồng dân cư. Dân chủ cơ sở có ý nghĩa vô cùng to lớn, vì cơ sở là nơi trực tiếp
thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của NN, là nơi cần thực
hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Trải qua 60 năm xây dựng NN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh đạo của
Đảng, nhân dân ta đã đạt được nhiều thành quả quan trọng: đất nước đã được độc lập tự
do, thống nhất và ngày nay toàn Đảng, toàn dân đang ra sức phấn đấu xây dựng một nước
Việt Nam dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Tuy nhiên, trong quá
trình xây dựng cũng bộc lộ những yếu kém, khuyết điểm. Về tình hình đó, đồng chí Đỗ
Mười đã nêu rõ: "... trong nội bộ Đảng và NN ta, tình hình tiêu cực, suy thoái phẩm chất
vẫn có chiều hướng phát triển, nhất là tệ quan liêu và nạn tham nhũng, tác hại không nhỏ
đến việc củng cố NN, làm nhân dân lo lắng, đang thực sự là một nguy cơ đối với chế độ
XHCN, đối với con đường mà nhân dân ta đã lựa chọn" [3, tr. 4]. Tháng 3/1998, đồng
chí Lê Khả Phiêu, cũng đã nêu bật tính cấp thiết của việc xây dựng QCDC cơ sở, đồng
chí chỉ rõ:
... QLC của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi, trên nhiều lĩnh
vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách nhiễu, gây phiền
Thực tiễn cho thấy, muốn phát huy được QLC trực tiếp của dân ở cơ sở, Đảng
phải lãnh đạo, phải có quan điểm chính sách lớn để định hướng, đồng thời phải xây
dựng được thiết chế dân chủ ở cơ sở một cách cụ thể, phù hợp với từng đối tượng dân
cư. Đó là những quy định có giá trị pháp lý do NN ban hành mang tính bắt buộc mọi
người, mọi tổ chức nghiêm chỉnh thực hiện. Do vậy, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra
Chỉ thị số 30/CT-TW về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở nhằm "giữ vững và phát
huy QLC của dân, thu hút nhân dân tham gia quản lý NN, tham gia kiểm kê, kiểm soát
NN, khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng" [6, tr.
3]. Chỉ thị nhấn mạnh: khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy QLC của
nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và
NN, là nơi cần thực hiện QLC của dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất. Vì cơ sở là
nơi đông đảo nhân dân (bao gồm nông dân, công nhân, cán bộ, công chức, viên chức,
quân nhân và các thành phần lao động khác) sinh sống hàng ngày. Cơ sở là nơi sản xuất,
kinh doanh, lao động, học tập, nơi nảy sinh nhiều yêu cầu bức xúc hàng ngày về đời
sống kinh tế, xã hội, chính trị, nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương chính sách của
Đảng và NN. Cơ sở là nơi nhân dân đang có nhiều đòi hỏi về làm chủ và cũng là nơi có
điều kiện thực hiện quyền dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhất. Bộ Chính trị
cũng chỉ rõ, thực hiện dân chủ ở cơ sở sẽ thúc đẩy cải cách hành chính, sửa đổi những
Footer Page 12 of 166.
Header Page 13 of 166.
cơ chế chính sách và thủ tục hành chính không phù hợp với cuộc sống. Nhân dân ở cơ
sở thực hiện QLC, tham gia kiểm kê, kiểm soát sẽ tích cực xây dựng Đảng, CQ, đoàn
thể trong sạch, vững mạnh, tích cực đấu tranh bài trừ tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí,
thực hành tiết kiệm. Muốn vậy, cần ban hành QCDC ở cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu
mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải nghiêm chỉnh thực hiện.
Thực hiện Chỉ thị 30/CT-TW, UBTV Quốc hội (khóa X) ra Nghị quyết số 451998/NQ-UBTVQH 26/2/1998 về việc ban hành QC thực hiện dân chủ ở xã. Nghị
quyết giao Chính phủ ban hành QC thực hiện dân chủ với các định hướng nội dung cụ
thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh, theo
định hướng XHCN. QC thực hiện dân chủ ở xã, vì vậy, thực chất là một định chế pháp
lý bảo đảm QLC của dân.
QC thực hiện dân chủ ở xã có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, khác với các QC thông thường, QC thực hiện dân chủ là một văn bản
quy phạm pháp luật, cụ thể hóa và luật hóa phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra" bằng một NĐ của chính phủ căn cứ vào Nghị quyết của UBTV Quốc hội
(Nghị quyết số 45-1998/NQ-UBTVQH 26/2/1998 về việc ban hành QC thực hiện dân
chủ ở xã, phường, thị trấn).
Thứ hai, QC thực hiện dân chủ ở cơ sở là sự cụ thể hóa dân chủ XHCN ở cơ sở,
phát huy QLC của nhân dân gắn liền với cơ chế "Đảng lãnh đạo, NN quản lý, nhân dân
làm chủ".
Thứ ba, QC thực hiện dân chủ ở cơ sở phát huy chế độ dân chủ đại diện, nâng cao
chất lượng và hiệu lực hoạt động của CQĐP, cơ sở, quy định những nghĩa vụ cụ thể của
CQ trong việc bảo đảm quyền dân chủ của người dân ở cơ sở.
Thứ tư, QC thực hiện dân chủ ở cơ sở thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp ở cơ sở
để nhân dân bàn bạc và trực tiếp quyết định những công việc quan trọng, thiết thực, gắn
với quyền lợi và nghĩa vụ của nhân dân
Thứ năm, có sự tham gia của MT và các đoàn thể nhân dân ở mọi khâu trong
thực hiện QC ở cơ sở để phát huy mạnh mẽ vai trò làm chủ của nhân dân trong việc
thực thi nền dân chủ XHCN.
Thứ sáu, mục đích của việc ban hành QC thực hiện dân chủ ở xã là nhằm phát
huy QLC, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to
lớn của nhân dân trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí,
ổn định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng Đảng bộ, CQ và các đoàn thể ở xã
Footer Page 14 of 166.
Header Page 15 of 166.
Footer Page 15 of 166.
Header Page 16 of 166.
1. Chủ trương, chính sách, pháp luật của NN liên quan trực tiếp đến quyền và lợi
ích của nhân dân trong xã, bao gồm: a) Các nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND
xã và của cấp trên liên quan đến ĐP; b) Các quy định của pháp luật về thủ tục hành chính,
giải quyết các công việc liên quan đến dân; c) Những quy định của NN và CQĐP về đối
tượng, mức thu các loại thuế, phí, lệ phí và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân theo quy
định của pháp luật hiện hành;
2. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của xã;
3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai;
4. Dự toán và quyết toán ngân sách xã hàng năm;
5. Dự toán, quyết toán thu chi các quỹ, chương trình, dự án, các khoản huy
động nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi công cộng của
xã, thôn và kết quả thực hiện;
6. Các chương trình, dự án do NN, các tổ chức và cá nhân đầu tư, tài trợ trực
tiếp cho xã;
7. Chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo;
8. Điều chỉnh địa giới hành chính xã và các đơn vị hành chính liên quan đến xã;
9. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham nhũng của
cán bộ xã, thôn;
10. Công tác văn hóa, xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an ninh, trật
tự, an toàn xã hội của xã;
11. Sơ kết, tổng kết hoạt động của HĐND, UBND xã;
12. Phương án dồn điền, đổi thửa phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển
nông nghiệp, kinh tế trang trại, hợp tác xã;
13. Bình xét các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất và xây dựng nhà
tình thương; thực hiện chính sách đối với gia đình có công với cách mạng, gia đình liệt
sĩ, thương binh, bệnh binh được tặng nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm, thể bảo hiểm y tế;
Footer Page 17 of 166.
Header Page 18 of 166.
2. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm
của xã, phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và phương án phát triển
ngành nghề;
3. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương và việc quản lý,
sử dụng có hiệu quả quỹ đất công ích của xã;
4. Phương án quy hoạch khu dân cư; đề án định canh, định cư, vùng kinh tế
mới; kế hoạch, dự án huy động và sử dụng các khoản đóng góp của nhân dân để đầu tư
xây dựng cơ sở hạ tầng do xã quản lý;
5. Dự thảo đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính xã, đề án chia tách,
thành lập thôn;
6. Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn
xã;
7. Chủ trương, phương án đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng cơ sở,
tái định cư;
8. Giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn xã;
9. Những công việc khác mà CQ xã thấy cần thiết.
Về dân giám sát, kiểm tra QC quy định dân giám sát, kiểm tra các loại công
việc từ hoạt động của HĐND, UBND đến các việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của công
dân, kết quả quyết toán công trình do dân đóng góp, việc quản lý sử dụng đất đai, thu
chi các quỹ, việc thực hiện chính sách đối với người có công với nước...Dân giám sát,
kiểm tra tức là thực hiện quyền lực của mình trong quá trình quản lý đất nước. Lênin đã
từng nói: nếu nhà nước không tiến hành kiểm kê, kiểm soát toàn dân đối với việc sản
xuất và phân phối các sản phẩm thì CQ của những người lao động, nền tự do của họ sẽ
không thể duy trì được. Những việc nhân dân ở xã giám sát, kiểm tra được quy định
trong QC gồm có 11 điểm sau:
thành viên của MTTQ cùng cấp và Trưởng thôn cung cấp các thông tin để nhân dân biết
bằng các hình thức cụ thể tại Điều 6 QC; b) Đối với những việc dân bàn và quyết định
trực tiếp QC quy định các phương thức cụ thể thực hiện những việc nhân dân quyết định
trực tiếp tại Điều 9; c) Đối với những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến, CQ xã quyết
định QC quy định phương thức thực hiện tại Điều 11; d) Đối với những việc nhân dân
Footer Page 19 of 166.
Header Page 20 of 166.
giám sát, kiểm tra QC quy định phương thức thực hiện tại Điều 13 và quy định trách
nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với việc giám sát và kiểm tra của nhân
dân tại Điều 14.
QC dành hẳn một chương (chương VI) về việc xây dựng cộng đồng dân cư
thôn, làng, ấp, bản, khóm, tổ dân phố (gọi chung là thôn) quy định các hình thức hoạt
động tự quản của cộng động dân cư, việc tổ chức hội nghị nhân dân thôn (Điều 16),
nhiệm vụ và quyền hạn của Trưởng thôn (Điều 17), việc xây dựng hương ước, quy ước
về công việc thuộc nội bộ cộng đồng dân cư (Điều 18), việc thành lập các tổ chức của
thôn như: các tổ hòa giải, an ninh, bảo vệ sản xuất, kiến thiết (Điều 19).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Trong bầu trời không gì quí bằng nhân
dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân" [8, tr.125].
Lấy dân làm gốc là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được quán triệt
trong QC. Việc thực hiện QC sẽ thúc đẩy việc phát huy QLC của nhân dân, thực hiện
quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân; nâng cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ của
công dân; khơi dậy tiềm năng, trí sáng tạo, sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân
để phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống cộng đồng; giữ vững kỷ cương phép
nước, ngăn chặn tiêu cực, nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy CQ; xây dựng niềm tin
và mối quan hệ chặt chẽ giữa dân với Đảng và CQ.
1.1.4. Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở ở xã
Nước ta quá độ đi lên CNXH từ một chế độ phong kiến nửa thuộc địa, ở đó
niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng bị giảm sút. QLC của nhân dân bị vi
phạm ở nhiều nơi trên nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực quản lý kinh tế, đất đai, thu chi
ngân sách, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, huy động vốn đóng góp của dân...có nhiều
biểu hiện tiêu cực. Một bộ phận cán bộ đảng viên thoái hóa, biến chất, lợi dụng chức
quyền, lợi dụng những kẽ hở trong quản lý của NN để tham ô, tham nhũng. ở nông thôn
là tình trạng cán bộ cơ sở bất chấp pháp luật, cấp bán đất trái thẩm quyền, chi tiêu tài
chính sai mục đích và lãng phí. Mâu thuẫn nội bộ ngày một tăng dẫn đến hiện tượng
khiếu kiện tập thể, gây ra không khí rất căng thẳng phức tạp. Trong khi nhân dân đấu
tranh chống tiêu cực, tham nhũng, đòi quyền tự do dân chủ, đòi đảm bảo công bằng xã
hội thì kết quả khiếu kiện lại chậm được giải quyết và giải quyết không thỏa đáng làm
cho xuất hiện các điểm nóng, như ở Thái Bình năm 1996 - 1997 có 208/285 xã dân tổ
chức khiếu kiện tập thể. ở những điểm nóng đó, tổ chức Đảng mất vai trò lãnh đạo, bộ
máy CQ bị tê liệt, sản xuất bị đình trệ, các nghĩa vụ đóng góp với NN không hoàn
Footer Page 21 of 166.
Header Page 22 of 166.
thành. Nội bộ nhân dân bị chia rẽ, mất đoàn kết, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội
mất ổn định.
Đảng và NN ta đã nhận thấy những yếu kém của dân chủ ở cơ sở và nhận thức
được vai trò quyết định của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong sự ổn định chính trị và
phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Và, khi QCDC được ban hành dưới hình thức là
một văn bản có tính pháp lý thì hiệu lực của nó sẽ cao hơn. Sự ra đời của QC là một
bước đột phá quan trọng trong việc hiện thực hóa bản chất dân chủ của NN ta. Nó đã cụ
thể hóa QLC của nhân dân ở cơ sở - nơi thực thi dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi
nhất, nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và NN. QCDC ở cơ
sở là nội dung cơ bản nhất của dân chủ trực tiếp có ý nghĩa thiết thực và quan trọng đối
với toàn bộ nền dân chủ XHCN ở nước ta bởi đó là một phần của tiến trình mở rộng và
thực hiện quyền dân chủ trên cả hai hình thức: dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp.
Vậy là, nhân dân đã không chỉ tồn tại với tư cách là một người công dân thông
thường mà còn với tư cách là người chủ thực sự về tư liệu sản xuất, người chủ thực sự
về chính trị và quyền lực chính trị. QLC của nhân dân biểu hiện trong việc thực thi
chính trị, quản lý NN, quản lý kinh tế - xã hội ở từng cấp, từng ngành, từng ĐP và của
mỗi cá nhân cụ thể. Người dân vừa là khách thể vừa là chủ thể của quyền lực NN. Lợi
ích của mỗi thành viên, của từng tổ chức xã hội, giai cấp, tầng lớp đều nằm trong lợi ích
của toàn xã hội. Chính thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở tạo ra một cơ chế phát huy QLC
cho mọi công dân nhằm bảo đảm quyền lực chính trị của nhân dân lao động và góp phần
làm phong phú hơn hình thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động. Rõ
ràng không thể chỉ nâng cao chất lượng của dân chủ đại diện là đủ mà còn phải thực
hiện chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực và có hiệu quả mới bảo đảm tốt cho
nhân dân lao động làm chủ đích thực quyền lực của mình.
Mặc dù cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp đều phản ánh nguyện vọng, ý
chí, quyền lực của nhân dân, là phương thức thể hiện dân chủ XHCN, nhưng mỗi
phương thức lại có những ưu, nhược điểm khác nhau. Dân chủ đại diện dễ tổ chức thực
hiện, dễ tập trung thống nhất, nhưng lại khó bao quát hết thực tiễn đời sống cũng như ý
chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Dân chủ trực tiếp thì ngược lại, khó tổ
chức một cách tập trung, khái quát nhưng lại bao quát được mọi khía cạnh của thực tiễn
cũng như ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Do đó dân chủ trực tiếp có khả
năng thể hiện một cách khách quan ý chí nguyện vọng của nhân dân không qua một
hình thức trung gian nào, thể hiện một cách ưu việt nhất quyền lực của nhân dân lao
động trong việc quản lý xã hội, đúng theo quan điểm của Mác là khi đó quyền lực thực
Footer Page 23 of 166.
Header Page 24 of 166.
tế mới thuộc về dân, nhân dân tự quản lý xã hội của mình và xã hội được quản lý bởi
nhân dân và vì nhân dân.
Hai là, thực hiện dân chủ ở cơ sở là một giải pháp hạn chế sự tha hóa của quyền
Header Page 25 of 166.
dân mà còn làm chuyển biến một bước về phương thức lãnh đạo của cấp ủy đảng,
phương thức điều hành và lề lối làm việc của các cấp CQ, nhất là ở cơ sở. Nhân dân đã
mạnh dạn thẳng thắn, cởi mở, chân thành phê bình cán bộ, đảng viên, đóng góp xây
dựng tổ chức đảng, giúp tổ chức đảng loại được nhiều cán bộ, đảng viên kém phẩm
chất, năng lực, thoái hóa, biến chất. Nhiều tổ chức đảng biết gắn với việc xây dựng
chỉnh đốn đảng (theo tinh thần Nghị quyết TW sáu lần hai) làm cho mối quan hệ giữa
đảng viên và dân gắn bó với nhau hơn, Đảng và dân gần nhau hơn, tin nhau hơn, nhờ
vậy tổ chức đảng thêm vững mạnh.
Nhiều cấp CQĐP đã rà soát, loại bỏ các văn bản quy định không còn phù hợp
với QCDC, cản trở QLC của dân và công tác quản lý của cơ quan NN, công khai hóa
các văn bản thủ tục hành chính, phí, lệ phí, thời gian giải quyết công việc, lịch tiếp
dân...Tăng cường xuống cơ sở để nghe trực tiếp ý kiến dân, đối thoại, tháo gỡ những
vướng mắc của dân một cách kịp thời, làm cho mối quan hệ của dân với CQ ngày một
gắn bó, uy tín của CQ cơ sở được nâng lên và hoạt động của bộ máy CQ có hiệu quả
hơn trước.
Có thể nói, thực hiện dân chủ ở cơ sở là một cuộc cách mạng có tác dụng sâu
sắc đến ý thức và phong cách, phương thức lãnh đạo của cấp ủy, sự điều hành của CQ
cơ sở đối với sự tôn trọng QLC của người dân. Từ đó cán bộ sát dân hơn, bớt đi thái độ
hống hách, cửa quyền, nhũng nhiễu dân. Không những thế, cán bộ còn chăm lo giữ gìn
phẩm chất đạo đức của mình, từ đó làm cho mối quan hệ giữa dân với CQ cởi mở hơn,
góp phần làm cho CQ hoạt động có hiệu quả hơn.
Ba là, thực hiện dân chủ ở cơ sở khơi dậy sức mạnh tiềm tàng của nhân dân lao
động, phát huy cao độ mọi tiềm năng, trí tuệ của nhân dân trong quá trình xây dựng NN
và xã hội, giải quyết những vấn đề lớn từ quốc kế dân sinh đến những việc của đời sống
cộng đồng, đời sống dân cư. Thông qua hình thức hoạt động dân chủ trực tiếp tại cơ sở,
người dân có điều kiện tham gia ý kiến, có điều kiện tập dượt, trưởng thành trong vai trò
của người làm chủ đích thực. Khi Đảng và NN quan tâm, biết lắng nghe và học hỏi dân,
biết bồi dưỡng và nâng cao đời sống của dân thì nhân dân không chỉ nói lên điều mình
mong muốn mà còn gợi ý, kiến nghị và chỉ ra rằng Đảng và NN cần phải hành động như