Thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở từ thực tiễn các trường phổ thông dân tộc nội trú của tỉnh bình thuận - Pdf 33

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH VĂN THÔNG

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TỪ THỰC TIỄN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG
DÂN TỘC NỘI TRÚ CỦA TỈNH BÌNH THUẬN

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC

HÀ NỘI, 2016


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH VĂN THÔNG

THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
TỪ THỰC TIỄN CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG
DÂN TỘC NỘI TRÚ CỦA TỈNH BÌNH THUẬN
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số

: 60 31 02 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH TRỊ HỌC


GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM THỰC HIỆN CÓ HIỆU QUẢ QUY CHẾ
DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRONG CÁC TRƯỜNG PHỔ THÔNG DÂN TỘC NỘI
TRÚ

TRÊN

ĐỊA

BÀN

TỈNH

BÌNH

THUẬN

HIỆN

NAY..........................................................................................................................54
3.1. Một số giải pháp chủ yếu...................................................................................54
3.2. Một số kiến nghị................................................................................................65
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................70
PHỤ LỤC.................................................................................................................73


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ là một giá trị mang tính toàn cầu. Tuy nhiên, cách thức thực hiện mỗi
nơi mỗi khác, tuỳ theo dân trí, văn hóa và thể chế chính trị của mỗi nước. Nhưng dù
khác nhau thế nào cũng tuân theo nguyên tắc căn bản là phải có sự tham gia của dân

Ở trường Phổ thông dân tộc nội trú Bình Thuận (PT.DTNT BT) thực hiện
nhiệm vụ giảng dạy cho đối tượng là con em vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cho
nên việc thực hiện có hiệu quả Quy chế dân chủ ở cơ sở, phát huy được quyền làm
chủ của cán bộ giáo viên - công nhân viên (CBGV-CNV) trong nhà trường chẳng
những vẫn là một đòi hỏi, một yêu cầu cấp bách của sự nghiệp đổi mới trong ngành
GD&ĐT mà còn có tác dụng tuyên truyền đến học sinh, phụ huynh phát huy được
quyền làm chủ của mình, thu hút nhân dân tham gia quản lý, kiểm soát nhà nước,
khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng...vì mục
tiêu chiến lược của cách mạng nước ta trong thời kỳ mới là thực hiện dân giàu, nước
mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Bác Hồ nói rất giản dị rằng dân chủ là
dân là chủ, dân làm chủ, là dân tin, dân muốn nói. Vậy đề tài "Thực hiện Quy chế
dân chủ ở cơ sở từ thực tiễn các trường phổ thông dân tộc nội trú của tỉnh Bình
Thuận" là nhằm góp sức vào việc nghiên cứu luận giải vấn đề có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn cấp thiết đó.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Dân chủ ở cơ sở là vấn đề được nhiều nhà khoa học, những người làm công
tác lý luận quan tâm ở những góc độ khác nhau. Đề tài khoa học cấp Nhà nước về
"Củng cố và tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát
triển của nước ta hiện nay" do PGS.TS Hoàng Chí Bảo - Học viện Chính trị Quốc gia
Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm, nghiệm thu 2002. Trong đề này, tác giả tập trung
nghiên cứu cách thức và giải pháp nhằm tăng cường hệ thống chính trị ở cơ sở, phát
huy dân chủ ở xã, phường, trị trấn với các quyền "Dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra", tác giả cũng chỉ ra việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở còn gặp nhiều
khó khăn, những bức xúc của nhười dân vẫn còn nhiều. trình độ chuyên môn của cán
bộ cấp xã còn nhiều hạn chế, tệ quan liêu, xa rời nhân dân, tham nhũng vẫn còn
nhiều. vai trò giám sát của nhân dân chưa được phát huy. nguyên nhân của tình trạng
này bắt nguồn từ ý thức làm chủ chưa cao, người dân thiếu thông tin về các vấn đề
quan trọng của địa phương. Do vây muốn "củng cố và tăng cường hệ thống chính trị
ở cơ sở trong sự nghiệp đổi mới và phát triển của nước ta hiện nay" đòi hỏi phải khắc
phục tình trạng trên. Đề tài "Thực hiện Quy chế dân chủ và xây dựng chính quyền

văn gồm 3 chương, 6 tiết.


Chương 1
DÂN CHỦ TRONG TRƯỜNG HỌC - MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ
THỰC TIỄN HIỆN NAY
1.1. DÂN CHỦ, DÂN CHỦ CƠ SỞ, DÂN CHỦ Ở TRƯỜNG HỌC - MỘT SỐ
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
1.1.1. Khái niệm về dân chủ
Từ thời cổ đại thuật ngữ democratia, nghĩa là quyền lực thuộc về nhân dân
(democratia là từ ghép của hai từ demos là nhân dân, cratos là quyền lực). Người đầu
tiên đưa ra khái niệm dân chủ là nhà sử học, nhà chính trị học người Hy Lạp là
Herodotos (484 - 425 trước Công nguyên) dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân.
Nhân dân là chủ thể của quyền lực, sử dụng quyền lực để tổ chức, quản lý xã hội,
phát triển xã hội, phát triển con người. Theo ông, dân chủ là thể chế chính trị do
nhân dân nắm quyền lực thông qua con đường bầu cử. Như vậy, với ý nghĩa đó, dân
chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển xã hội - nhất là xã hội có giai
cấp.
Thời kỳ cộng sản nguyên thủy con người đã biết sống gắn bó với nhau để tồn
tại và phát triển. Họ biết sử dụng sức mạnh của cộng đồng để thực hiện quyền sống,
quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. Sự phát triển của sản xuất và phân công
lao động xã hội, phân hóa giai cấp và đấu tranh giai cấp đã làm cho xã hội cộng sản
nguyên thủy tan rã, hình thành nên Nhà nước chiếm hữu nô lệ. Giai cấp chủ nô đã
biến Nhà nước thành công cụ thực hiện quyền lực chính trị, phục vụ lợi ích của
mình, đó hình thức đầu tiên của chế độ dân chủ trong xã hội có giai cấp - dân chủ
của giai cấp chủ nô.
Nền dân chủ sơ khai của xã hội loài người không được tiếp tục phát triển ở
thời kỳ lịch sử tiếp theo mà lại bị thủ tiêu bởi chế độ chuyên chế phong kiến. Đây
chính là một trong những nguyên nhân khiến cho cuộc đấu tranh giành quyền dân
chủ trở thành một trong những nội dung của cuộc đấu tranh giai cấp.Nhà nước phong

nhân đó trước hết nhằm làm cho nó làm chủ được vận mệnh của mình trong đời sống
xã hội và chống lại sự lạm quyền của nhà nước và pháp luật. Cơ sở bảo vệ lợi ích của
nền dân chủ tư sản là bảo vệ, bênh vực và tạo mọi cơ hội cho giai cấp tư sản ngày
càng giàu có. Điều đó được thể hiện tập trung trong các quy định pháp luật của Nhà
nước tư sản. Chẳng hạn, các quy định về kiểm soát tài sản, nơi cư trú, quy định về
vận động tài chính cho các cuộc bầu cử v.v... Đó là một trong những nguyên nhân
dẫn đến cách mạng vô sản để giải quyết mâu thuẫn trên bằng việc thiết lập chế độ
dân chủ Xã Hội Chủ Nghĩa (XHCN). Trong tác phẩm Tuyên ngôn của Đảng cộng
sản, C.Mác và Ph.Ăngghen đã chỉ rõ: "Giai cấp vô sản mỗi nước trước hết phải tự
giành lấy chính quyền, phải tự mình vươn lên thành giai cấp dân tộc" [21, tr. 623624], phải giành lấy dân chủ với ý nghĩa trực tiếp là giành lấy quyền lực Nhà nước


(quyền làm chủ về chính trị), thiết lập Nhà nước dân chủ vô sản, chế độ dân chủ vô
sản. tiến tới "hoàn toàn xây dựng một chế độ dân chủ cho nhân dân" [22, tr. 135].
Chế độ dân chủ XHCN là chế độ chính trị mà ở đó những giá trị dân chủ,
quyền lực của nhân dân được thể chế hóa thành pháp luật, thành những nguyên tắc tổ
chức và hoạt động của hệ thống chính trị, thành nguyên tắc mục tiêu của sự phát
triển kinh tế - xã hội, các giá trị và chuẩn mực dân chủ chi phối hoạt động của mọi
lĩnh vực xã hội. Nền dân chủ XHCN với tư cách là chế độ chính trị, đồng thời với tư
cách là quyền lực của nhân dân sẽ từng bước hoàn thiện và phát huy vai trò to lớn
trong tiến trình cách mạng. Sự thống nhất giữa dân chủ về chính trị - pháp lý và dân
chủ trong kinh tế, làm chủ trong kinh tế và xã hội sẽ tạo điều kiện để dân chủ XHCN
ra đời, tồn tại và phát triển vì lợi ích của nhân dân lao động. Với ý nghĩa đó, chế độ
dân chủ XHCN đóng vai trò to lớn trong các cuộc đấu tranh giải phóng giai cấp, giải
phóng xã hội và con người, trở thành mục tiêu và động lực của cuộc cách mạng vô
sản.
Sau thắng lợi của cách mạng Tháng mười Nga 1917, Nhà nước Xô viết - chế
độ dân chủ XHCN đầu tiên trên thế giới ra đời đã từng bước hiện thực hóa quyền dân
chủ của nhân dân trên thực tế, hiện thực hóa sự bình đẳng của quần chúng trong việc
tham gia vào tổ chức và hoạt động chính quyền Nhà nước. Theo Lênin: "Chế độ Xô

Đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước có đi vào cuộc sống hay không
tùy thuộc chủ yếu vào sự quán triệt và thực hiện như thế nào ở cấp cơ sở. Cơ sở xã,
phường, cơ quan, doanh nghiệp v.v.. là nơi trực tiếp thực hiện đường lối chính sách
của Đảng và Nhà nước; là nơi diễn ra các mối quan hệ nhiều mặt giữa các tầng lớp
nhân dân với các cấp ủy Đảng và chính quyền, cán bộ, đảng viên, viên chức điều
hành và xử lý công việc hàng ngày. Nhân dân đòi hỏi được biết, được bàn và được
tham gia giải quyết những vấn đề đặt ra ở cơ sở, đồng thời có yêu cầu kiểm tra, giám
sát hoạt động hàng ngày của cấp ủy, chính quyền và cán bộ lãnh đạo.
Theo Lênin "Phát triển dân chủ đến cùng, tìm ra những hình thức của sự phát
triển ấy, đem thử nghiệm những hình thức ấy trong thực tiễn v.v... đó là một trong
những nhiệm vụ cấu thành của cuộc đấu tranh cách mạng xã hội" [15, tr.97]
Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Nhà nước ta phải phát triển quyền dân chủ và
sinh hoạt chính trị của toàn dân, để phát huy tính tích cực và sáng tạo của nhân dân,
làm cho mọi người công dân Việt Nam thực sự tham gia công việc quản lý của Nhà
nước" [27, tr. 590]. "Có lực lượng dân chúng việc to tát mấy, khó khăn mấy làm
cũng được. Không có, thì việc gì làm cũng không xong " [24, tr. 295].
Người yêu cầu: "Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh
nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực với hoàn cảnh địa phương"
[24, tr. 698-699].
Như vậy, nhằm xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước và các đoàn thể nhân dân
thật sự vững mạnh, trong sạch; bảo vệ lợi ích chính đáng, hợp pháp của nhân dân.
Việc đấu tranh chống tham ô, lãng phí, quan liêu, cậy thế trái phép v.v... chỉ có thể
thực hiện có hiệu quả nếu thật sự dựa vào sự kiểm tra, giám sát của quần chúng nhân
dân. Dân chủ ở cơ sở - trước hết là dân chủ trực tiếp - là hình thức nhân dân thực
hiện quyền làm chủ của mình bằng cách trực tiếp thể hiện ý chí (qua ý kiến) nguyện
vọng của mình đối với tổ chức và hoạt động của cơ quan chính quyền ở cơ sở.
1.1.3. Khái niệm về dân chủ ở trường học


Giáo dục và đào tạo có vị trí, vai trò hết sức quan trọng đối với sự phát triển

lời Bác dạy luôn soi sáng sự nghiệp trồng người ở Việt Nam, nó không chỉ là cơ sở
lý luận cho việc xác định chiến lược đào tạo con người, chủ trương, đường lối chỉ
đạo phát triển nền giáo dục Việt Nam của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng, mà
còn là những bài học, những kinh nghiệm thực tiễn giáo dục hết sức sinh động, thiết
thực và hiệu quả đối với người làm công tác giáo dục nói riêng, ngành giáo dục nói
chung hiện nay. Bài học này nhắc chúng ta luôn quán triệt rằng một nền giáo dục
mới nhất thiết phải thực hiện tốt dân chủ mới; một nhà trường phát triễn vững mạnh
nhất thiết phải có dân chủ và thực hiện tốt dân chủ trong hoạt động giáo dục. Dân
chủ đó nhất thiết phải gắn liền kỷ cương, vì thế song song với việc phát huy dân chủ
cần nghiêm khắc đối với những trường hợp vi phạm hoặc mất dân chủ trong hoạt
động giáo dục bằng những chế tài nhất định.
1.2. DÂN CHỦ TRONG TRƯỜNG HỌC Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
1.2.1. Tầm quan trọng của việc đưa Quy chế dân chủ ở cơ sở vào trường học
hiện nay
Trong những năm đổi mới vừa qua, quyền làm chủ của nhân dân lại được
nâng lên một bước, tuy nhiên quyền làm chủ của nhân dân trong thực tế còn bị vi
phạm ở nhiều nơi, ở nhiều lĩnh vực, tệ quan liêu sách nhiễu, cửa quyền, tham nhũng
gây phiền hà cho dân vẫn đang tồn tại, chưa đẩy lùi được:
Tình trạng mất dân chủ, quan liêu, quản lý lỏng lẻo để thất thoát lớn trong một
số ngân hàng hoặc gây lãng phí lớn trong xây dựng v.v... chẳng những làm suy giảm


lòng tin của dân đối với Đảng và Chính quyền mà còn triệt tiêu nguồn động lực của
nhân dân và xâm phạm vào bản chất tốt đẹp của chế độ [36, tr. 3-4].
Tình trạng mất dân chủ kéo dài không giải quyết kịp thời đã biến một số nơi
thành "điểm nóng", có quy mô phức tạp hơn. Có nơi, dân ở thôn, xã tập trung hàng
trăm người kéo lên trụ sở UBND xã, huyện khiếu kiện. Hay ở Bình Thuận vào tháng
4/2015 có hàng nghìn người đổ ra quốc lộ 1A để phản đối về ô nhiễm mà chưa được
giải quyết của nhà máy nhiệt điện Vĩnh Tân đã gây ra tắt nghẽn giao thông kéo dài...
Hơn lúc nào hết, Đảng ta một mặt phải xây dựng được đường lối chính sách

quan hệ chặt chẽ giữa CBGV-CNV với cấp ủy Đảng và Chính quyền, với học sinh
và phụ huynh học sinh. Trong đó, người dạy và người học được biết, được bàn, được
làm những gì và kiểm tra những gì? Điều đó góp phần quan trọng ngăn chặn được
những hành vi quan liêu, hách dịch, của cán bộ, tạo ra niềm tin của CBGV-CNV với
lãnh đạo nhà trường.
1.2.2. Nội dung quy chế dân chủ cơ sở trong trường học ở nước ta hiện nay
Với mục đích phát huy quyền làm chủ của cán bộ, giáo viên, góp phần xây
dựng cơ quan trong sạch, vững mạnh, xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên có đủ
phẩm chất năng lực, làm việc có năng suất, chất lượng, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu
phát triển và đổi mới của nhà trường, của ngành; ngăn chặn và chống tham nhũng,
lãng phí, quan liêu, phiền hà, sách nhiễu mọi người Phải làm cho mỗi cán bộ, giáo
viên thông suốt và nắm vững tinh thần nội dung các văn bản nói trên để tạo ra sự
đồng tình, nhất trí cao trong nhận thức, hành động và tăng cường trách nhiệm của
mình trong việc thực hiện Quy chế.
Phát huy quyền làm chủ của cán bộ, giáo viên gắn liền với việc đảm bảo sự
lãnh đạo của cấp uỷ cơ quan, chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, thực hiện chế
độ thủ trưởng và phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể quần chúng. Dân chủ phải
trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật; phát huy dân chủ đồng thời phải kiên quyết
xử lý những hành vi lợi dụng dân chủ vi phạm Hiến pháp, pháp luật và xâm phạm
quyền tự do dân chủ của nhân dân, cản trở việc thi hành công vụ ở cơ quan.
Việc đưa Quy chế dân chủ ở cơ sở vào trường học, cần dựa trên những văn
bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT về việc triển
khai thực hiện Quy chế dân chủ. Trước hết là các văn bản sau đây:
- Chỉ thị số 30/CT-TW ngày 18/2/1998 của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây
dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở.
- Nghị quyết số 55/1998/NQ-UBTVQH khóa X, ngày 30/8/1998 của ủy ban
Thường vụ Quốc hội về việc ban hành quy chế thực hiện dân chủ trong hoạt động
của cơ quan.



viên và toàn thể cán bộ công nhân viên cơ quan các Chỉ thị, Nghị quyết, Quy chế,
Quy định của Đảng và Nhà nước về dân chủ ở cơ sở. Trên cơ sở đó mỗi CBGVCNV trong các nhà trường phát huy quyền làm chủ của mình.


Hai là, Ban Giám hiệu các trường học cần bảo đảm cho CBGV-CNV biết đầy
đủ, chính xác những thông tin cần thiết để CBGV-CNV tham gia xây dựng, phát
triển nhà trường.
Bằng nhiều cách, Ban Giám hiệu các cơ sở trường học mở rộng thông tin để
người dạy và người học trong nhà trường biết đầy đủ, chính xác các vấn đề chính
như những điều trong Quy chế đã ghi. Trên cơ sở hiểu biết các chủ trương, chính
sách, pháp luật, CBGV-CNV và học sinh nhà trường có quyền dân chủ bàn bạc quyết
định những công việc thiết thực trong nhà trường như cách quản lý của Ban Giám
hiệu, sử dụng tài sản, tài chính; thi cử, đánh giá; cách đánh giá, thi đua, khen thưởng;
việc dạy thêm học thêm v.v...Có như vậy, nhà trường mới thực sự phát huy hết tài
năng, trí sáng tạo của mọi thành viên trong nhà trường.
Ba là, CBGV-CNV trong nhà trường trực tiếp kiểm tra, giám sát thúc đẩy các
hoạt động của nhà trường.
CBGV-CNV trong nhà trường được giám sát, kiểm tra những việc liên quan
đến thực hiện chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước và kế hoạch công tác năm
học, những việc liên quan đến quyền và lợi ích của CBGV-CNV. Điều này sẽ góp
phần khắc phục các hạn chế, yếu kém, mở rộng phát huy các kinh nghiệm tốt tạo
điều kiện cho nhà trường phát triển.
Kết luận chương 1
Thực tế khẳng định: thực hiện dân chủ ở cơ sở là một chủ trương đúng đắn,
trực tiếp thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, củng cố hệ thống chính trị, trở thành
động lực thúc đẩy phong trào thi đua yêu nước của các tầng lớp nhân dân, góp phần
xây dựng và bảo vệ Tổ quổc trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá
đất nước.
Với dân chủ ở cơ sở trong trường học được thể hiện trong toàn bộ hệ thống
giáo dục, cho đến từng cơ sở trường học. Trong trường học, dân chủ được thể hiện ở

giáp biển Đông với đường bờ biển dài 192 km. Bình Thuận là một tỉnh bao gồm một
vùng rừng núi khá lớn, là đoạn cuối cùng của khối núi Trường Sơn Nam tiếp giáp


với vùng đồi núi của miền Đông Nam bộ và Nam Tây Nguyên, đây là địa bàn sinh tụ
lâu đời của nhiều dân tộc thiểu số.
Khí hậu nằm trong khu vực khô hạn nhất cả nước, nắng, gió nhiều, nhiệt độ
trung bình trong năm từ 26,50C – 27,50C. Trong năm có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến hết tháng 4 năm sau; lượng mưa
trung bình dao động từ 800- 1.300mm/năm. Đối với các xã vùng cao, vào mùa mưa
thường gây ngập lụt, xói lở; nhưng sang mùa nắng hầu hết các sông, suối đều không
có nước, nước ngầm khan hiếm, giếng khô cạn và nhiều phèn; do đó không thuận lợi
cho việc sản xuất và sinh hoạt của đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã vùng cao.
Toàn tỉnh hiện có 10 huyện, thị xã, thành phố, với 127 xã, phường, thị trấn;
tổng dân số 229.453 hộ/1.140.429 khẩu, với 27 dân tộc anh em sinh sống; trong đó
có 26 dân tộc thiểu số, với 14.647 hộ/79.320 khẩu, chiếm tỉ lệ trên 7% so với dân số
của tỉnh; trong đó dân tộc Chăm 5.229 hộ/29.352 khẩu, dân tộc K’Ho 2.028
hộ/10.610 khẩu, dân tộc Raglay 1.384 hộ/7.083 khẩu, dân tộc Giarai 922 hộ/4.802
khẩu, dân tộc Châuro 496 hộ/ 2.711 khẩu, còn lại là các dân tộc khác: Khơme, Êđê,
Bana…
Những năm sau đổi mới, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc ở tỉnh Bình Thuận
đã có nhiều nỗ lực trong việc xây dựng và phát triển toàn diện dân sinh, kinh tế - xã
hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, bước đầu đã đạt được một số kết quả đáng kể,
tạo được sự chuyển biến tích cực trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhằm không
ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho đồng bào các dân tộc thiểu số nói
chung và đồng bào các xã vùng cao nói riêng.
Tuy nhiên, tình hình các mặt ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số hiện nay vẫn
còn gặp nhiều khó khăn chậm phát triển. , đặc biệt ở các xã vùng cao. Hệ thống
chính trị cơ sở còn yếu, cấp ủy, chính quyền một số nơi chưa phát huy tốt vai trò lãnh
đạo, quản lý xã hội, xây dựng đội ngũ cán bộ trong vùng dân tộc thiểu số còn nhiều

của trường là phổ thông, dân tộc, đặc điểm nổi bật của trường là nội trú. trong một
năm học bổng được cấp đủ 12 tháng. Mức học bổng chính sách sẽ được điều chỉnh
theo tỷ lệ tương ứng với các quyết định điều chỉnh mức lương tối thiểu chung của
Nhà nước, bảo đảm bằng 80% mức lương tối thiểu được thực hiện theo Thông tư liên
tịch số 109/2009/TTLT/BTC-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo-Bộ Tài chính.
Tuy nhà nước có quan tâm đầu tư cho học sinh trường dân tộc, nhưng tình
trạng học sinh bỏ học vẫn còn khá cao, để động viên và vận động các em trở lại học
tập đòi hỏi các thầy cô giáo phải có tâm và tấm lòng yêu thương, bởi quảng đường đi
đến gia đình các em là vô cùng xa xôi, phải trèo đèo lội suối, đồng thời ít nhận được
sự hợp tác từ gia đình. Do đó, có thể xem có thể xem nhiệm vụ trọng tâm là đưa và
giữ được học sinh ở lại trường được đặt lên hàng đầu. Chính vì vậy việc thực hiện
quy chế dân chủ đối với CBGV-CNV, học sinh chưa được quan tâm đúng mức.
2.1.2. Các nội dung và hình thức triển khai Quy chế dân chủ ở trường dân tộc
nội trú Bình Thuận


2.1.2.1. Các nội dung triển khai
Những việc mà Hiệu trưởng nhà trường phải cho CBGV-CNV biết, phải
trưng cầu ý kiến của CBGV-CNV trước khi quyết định:
Hiệu trưởng trong các trường DTNT ở Bình Thuận có vai trò đặc biệt quan
trọng. Việc xây dựng một tập thể đoàn kết, phát huy được khả năng sáng tạo, ý thức
tập thể của từng CBGV-CNV trong nhà trường phụ thuộc rất nhiều vào năng lực
lãnh đạo và tư cách đạo đức của Ban Giám hiệu đặc biệt là Hiệu trưởng - người quản
lý điều hành mọi hoạt động của nhà trường, người chịu trách nhiệm trước pháp luật
và cấp trên về toàn bộ hoạt động của nhà trường, trong đó có hoạt động ăn, ở nội trú
của học sinh.
Với cương vị lãnh đạo quản lý cao nhất trong nhà trường Hiệu trưởng là
người chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức thực hiện những quy định về trách
nhiệm của nhà trường, của CBGV-CNV, của người học trong Quy chế dân chủ. Với
vai trò lãnh đạo, Hiệu trưởng nhà trường phải gương mẫu, đi đầu trong việc đấu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status