BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG VĨNH TỪ
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ TRONG
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CẨM XUYÊN, TỈNH HÀ TĨNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Nghệ An - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRƯƠNG VĨNH TỪ
THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂNCHỦ Ở CƠ SỞ TRONG
XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN CẨM XUYÊN,TỈNH HÀ TĨNH
CHUYÊN NGÀNH: CHÍNH TRỊ HỌC
Mã số: 60.31.02.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
Người hướng dẫn khoa học: TS. ĐINH TRUNG THÀNH
Nghệ An - 2014
2
Lời cảm ơn
Xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, Khoa Giáo dục Chính trị, phòng
Đào tạo Sau đại học cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo Trường Đại học
Vinh đã nhiệt tình giảng dạy, truyền đạt cho tôi những kiến thức về lý luận
chính trị, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong qúa trình học tập, nghiên cứu.
Tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc đến thầy giáo TS. Đinh Trung Thành,
Phó trưởng Phòng đào tạo Sau đại học đã trực tiếp hướng dẫn, chỉ bảo, giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn.
Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Huyện ủy, Ủy ban nhân dân
huyện, các xã Cẩm Bình, Cẩm Thành, Cẩm Thăng, Cẩm Yên, đồng nghiệp,
cuộc sống và thực hiện thắng lợi thì cần phải dựa vào sức mạnh vật chất từ
quần chúng nhân dân, phải phát huy năng lực làm chủ đất nước của nhân dân
hay nói khác hơn chính là thực hiện tốt Chỉ thị số 30-CT/TW ngày 18-02-1998
của Bộ Chính trị (khoá VIII) về xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
(QCDCCS). Chỉ thị này chỉ có thể thực hiện tốt khi mỗi đảng viên, từ đảng viên là
cán bộ lãnh đạo đến đảng viên ở cơ sở đều phải tôn trọng và phát huy quyền làm chủ
của dân, chăm lo đời sống hằng ngày của dân, gần dân, lắng nghe ý kiến của dân,
phục vụ giúp đỡ dân khi gặp khó khăn,… có như vậy QCDCCS mới được thực hiện
triệt để.
Trong những năm qua, nhất là trong hơn 3 năm thực hiện xây dựng
NTM ở huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh, quy chế dân chủ cơ sở
(QCDCCS) đã được phát huy, tạo động lực, kích thích tinh thần tự do sáng
tạo của người dân làm giàu cho bản thân gia đình và quê hương, đóng góp
ý kiến xây dựng hệ thống chính trị ngày càng vững mạnh. Thực tiễn cho
thấy, việc mở rộng dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà
Tĩnh đã đạt được những kết quả rất tích cực, thực sự góp phần tạo động lực
thúc đẩy và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, thu hút nhân dân tham
6
gia quản lý nhà nước, tham gia giám sát các hoạt động của Nhà nước. Việc
phát huy dân chủ ở nông thôn góp phần khắc phục một phần tệ quan liêu,
tham nhũng, mất dân chủ, xa rời quần chúng nhân dân của một bộ phận cán
bộ, công chức ở cơ sở; đóng góp tích cực vào việc cải cách hành chính;
tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với nhân dân; đóng góp tích
cực vào thành tựu chung của cả nước
Tuy nhiên, trong quá trình xây dựng NTM ở huyện Cẩm Xuyên, việc
thực hiện qui chế DCCS vẫn tồn tại nhiều hạn chế. Một số cấp uỷ cơ sở còn
chưa quan tâm chỉ đạo đúng mức, chưa thể hiện rõ vai trò, trách nhiệm trong
chỉ đạo, thực hiện quy chế dân chủ, đặc biệt trên một số lĩnh vực như quản lý
đất đai; công tác tuyên truyền tại một số đơn vị chưa thường xuyên; một bộ
phận người dân chưa nhận thức đầy đủ về thực hiện dân chủ ở cơ sở; hoạt
QCDCCS được triển khai.
Ngày 18/02/1998 Bộ Chính trị ra “Chỉ thị 30-CT/TW về xây dựng và
thực hiện QCDC ở cơ sở”, chỉ thị đã khẳng định: “Mở rộng dân chủ
XHCN, phát huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu, đồng thời là
động lực bảo đảm cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới”.
Thực hiện Chỉ thị 30-CT/TW và các quy định, hướng dẫn của Trung ương,
trong những năm qua, các địa phương trong cả nước đã tích cực đưa QCDC
ở cơ sở vào cuộc sống, góp phần tạo nên những bước chuyển biến mạnh mẽ
trên tất cả các lĩnh vực.
Ngày 4-3-2010, thay mặt Ban Bí thư Trung ương Đảng, đồng chí
Trương Tấn Sang đã ký ban hành Kết luận số 65-KL/TW của Ban Bí thư về
tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 30-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa VIII) về xây
dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở.
8
Do tính cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn của thực hiện quy chế dân
chủ cơ sở, đã có nhiều công trình nghiên cứu đăng tải trên các tạp chí của
Trung ương và địa phương, đề cập đến vấn đề này ở những góc độ khác nhau.
Để phục vụ cho việc nghiên cứu, quán triệt, học tập và thực hiện Nghị
quyết Đại hội XI của Đảng, tháng 5/2011, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia -
Sự thật xuất bản cuốn sách "Về quá trình dân chủ hóa XHCN ở Việt Nam hiện
nay". Sách do PGS, TS Lê Minh Quân, Viện Chính trị học, Học viện Chính
trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh biên soạn. Ngoài lời mở đầu và kết
luận, cuốn sách gồm 9 chương. Trên cơ sở tìm hiểu các quan niệm và khái
niệm lý thuyết và mô hình dân chủ hóa, những yếu tố tác động và quá trình
dân chủ hóa trên thế giới, cuốn sách phân tích nhiều vấn đề lý luận và thực
tiễn của quá trình dân chủ hóa XHCN ở nước ta hiện nay. Tác giả đã phân
tích làm rõ dân chủ luôn là ước vọng của con người trong mọi thời đại. Nó
cần như cơm ăn, áo mặc, nước uống hằng ngày. Dân chủ là thước đo chất
lượng cuộc sống văn minh xã hội và năng lực quản lý của một nhà nước. Dân
chủ không phải tự nhiên mà có. Nhận thức về vấn đề dân chủ đã khó khăn và
Đảng chẳng những làm tăng sức mạnh của Đảng, mà còn nêu gương, thúc đẩy
dân chủ trong xã hội.
Tác giả Nguyễn Thanh Minh với bài viết: “Tìm hiểu việc thực hiện
QCDCCS tại TP. Hồ Chí Minh”, Tạp chí Khoa học Pháp luật số 6/2002,
trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh đánh giá, không ít người dân tại
TP.HCM mới chỉ biết khẩu hiệu mang nội dung dân chủ “dân biết, dân bàn,
dân làm, dân kiểm tra”; còn nội hàm của từng khái niệm thì họ chưa hiểu
tường tận. Vì vậy, phải tiếp tục tuyên truyền, phổ biến nội dung QCDCCS,
10
làm cho nhân dân ý thức được việc thực hiện Quy chế là vì mình, vì một xã
hội tốt đẹp; hạn chế tới mức tối đa việc hiểu và vận dụng sai tinh thần Quy
chế, huy động quá khả năng đóng góp về vật chất và tinh thần của nhân dân.
Tác giả Nguyễn Văn Quang, Khoa Giáo dục Chính trị - Trường Đại
học Sư phạm Huế có bài viết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ trong
chính trị”, Tạp chí Xây dựng Đảng số ra ngày 01 tháng 3 năm 2011, tác giả
bài viết nhấn mạnh, trong suốt quá trình hoạt động lý luận và thực tiễn chỉ đạo
cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác lập và hiện thực hóa hệ
thống quan điểm về dân chủ trong tổ chức xây dựng xã hội mới trên tất cả các
lĩnh vực. Tư tưởng của Người về dân chủ trong chính trị đã trở thành một bộ
phận văn hóa của dân tộc Việt Nam.
Đồng chí Huỳnh Đảm, Chủ tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận tổ quốc
Việt Nam trên Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 9/7/2008 với bài viết: “Nhìn
lại 10 năm thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn” đã làm rõ thực trạng 10
năm thực hiện QCDC ở xã, phường, thị trấn, quyền làm chủ của nhân dân ở
các địa phương trong cả nước được phát huy mạnh mẽ.
Ngày 16/9/2010 Bộ NN&PTNT phối hợp với Quỹ Quốc tế phát triển
nông nghiệp tổ chức hội thảo về “Xây dựng NTM giai đoạn 2010 – 2020 và
tầm nhìn đến năm 2030”. Tại hội thảo, các chuyên gia trong và ngoài nước về
lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đều có cùng quan điểm, nông thôn Việt Nam
do có những đặc thù riêng vì vậy xây dựng NTM phát triển bền vững và mang
cách toàn diện vấn đề “Thực hiện QCDC ở cơ sở trong xây dựng NTM
trên địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh”. Công trình nghiên cứu của
tác giả không trùng lắp với các công trình khoa học đã được công bố.
12
3. Mục đích, nhiệm vụ
3.1. Mục đích
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu
quả thực hiện QCDC ở cơ sở trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện Cẩm
Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh.
3.2. Nhiệm vụ
- Làm rõ những vấn đề lý luận về dân chủ, QCDC CS và các quan điểm,
chủ trương của Đảng, Nhà nước ta về thực hiện QCDC ở cơ sở trong quá trình
xây dựng NTM hiện nay.
- Làm rõ tình hình thực hiện QCDCCS trong xây dựng NTM trên địa
bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh trong những năm qua.
- Đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện tốt QCDCCS trên
địa bàn huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh trong xây dựng NTM thời gian tới.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở vận dụng lý luận chủ nghĩa Mác –
Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà
nước ta về vấn đề dân chủ và thực hiên QCDC ở cơ sở trong quá trình CNH,
HĐH nông nghiệp, nông thôn.
Để thực hiện mục đích, nhiệm vụ của đề tài Luận văn, trong quá trình
thực hiện luận văn tác giả sử dụng phối hợp các nhóm phương pháp nghiên
cứu sau: Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận như: phân tích, tổng hợp, hệ
thống hoá; Nhóm phương pháp nghiên cứu thực nghiệm như: phương pháp
quan sát, phân tích kinh nghiệm, điều tra phỏng vấn.
5. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu việc thực hiện QCDCCS trong những năm
gần đây (2010 - 2013) để làm cơ sở trong xây dựng NTM trên địa bàn huyện
quyền", hướng tới một xã hội trong tương lai - xã hội không có người bóc lột
người. Trải qua các thời kì lịch sử, khái niệm “dân chủ” có những hình thức
và tên gọi khác nhau như: Dân chủ chủ nô; Dân chủ quân sự; Dân chủ lập
hiến; Dân chủ tư sản; Dân chủ nhân dân; Dân chủ XHCN. Dù có các trạng
thái khác nhau, song khái niệm "dân chủ" được dùng để chỉ tính chất chế độ
xã hội mà trong đó người dân được thể hiện quyền làm chủ của mình.
Trong học các thuyết chính trị, dân chủ dùng để mô tả cho một số ít
hình thức nhà nước và cũng là một loại triết học chính trị. Mặc dù chưa có
15
một định nghĩa thống nhất về dân chủ, nhưng có hai nguyên tắc mà bất kỳ
một định nghĩa dân chủ nào cũng đưa vào:
Thứ nhất là tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền
tiếp cận đến quyền lực một cách bình đẳng;
Thứ hai là tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền
tự do được công nhận rộng rãi.
Với C.Mác và Ph.Ăngghen thì cách mạng XHCN lấy việc giải phóng
con người khỏi mọi sự tha hoá, bất công, giành trở lại cho con người cái bản
chất vốn có của nó - lao động và hoà bình - làm mục tiêu cơ bản của mình.
Muốn vậy, trong giai đoạn thứ nhất của cuộc cách mạng đó, giai cấp vô sản
phải trở thành giai cấp thống trị, phải "giành lấy dân chủ". Chỉ bằng việc thiết
lập Nhà nước XHCN, sử dụng Nhà nước ấy như là một công cụ đắc lực để
phát triển toàn diện xã hội mới, trong đó, phát triển triệt để nền dân chủ
XHCN là trọng tâm, giai cấp vô sản mới hoàn thành thắng lợi sứ mệnh lịch sử
của mình: nhân dân trở thành người chủ đích thực của xã hội, là chủ thể tối
cao và duy nhất của mọi quyền lực. Tư tưởng này nói lên bản chất dân chủ
của xã hội mới mà giai cấp công nhân và nhân dân lao động đang hướng tới.
Phát triển những tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăngghen về dân chủ,
V.I.Lênin đã khẳng định sự cần thiết phải kết hợp giữa cuộc đấu tranh cho
dân chủ với thắng lợi của CNXH. Đấu tranh cho dân chủ, theo ông, cũng
không thể dừng lại ở dân chủ tư sản. Sau khi thiết lập chính quyền, việc phát
Chí Minh, Đảng ta đang lãnh đạo nhân dân hướng tới xây dựng chế độ xã hội
XHCN, với mục tiêu "Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh".
Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, cùng với
những trải nghiệm lịch sử hàng ngàn năm dựng nước và giữ nước, nhân dân ta
ngày càng nhận thức sâu sắc hơn về “dân chủ”.
Những yêu cầu dân chủ của nhân dân được thể chế hoá thành các chuẩn
17
mực mang tính nhà nước và pháp quyền, thành nguyên tắc tổ chức và vận
hành của Nhà nước cũng như các thiết chế chính trị khác, tạo thành chế độ
dân chủ.
Vấn đề dân chủ và phát huy dân chủ được Đảng ta nhận thức và thực
hiện ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn
Trước đổi mới, Đảng ta đã dày công nghiên cứu lý luận và đến Đại hội
IV xác lập quan điểm về chế độ làm chủ tập thể XHCN. Song sự biến đổi của
thực tiễn đã và đặt ra nhiều vấn đề mới cần bổ sung, phát triển. Văn kiện Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng ta xác định: “Dân chủ XHCN là bản
chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất
nước”[13;47]
Đảng ta đã tiếp thu, phát triển những giá trị tư tưởng về dân chủ của
nhân loại, đặc biệt là quán triệt sâu sắc quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ và dân chủ XHCN. Dân chủ XHCN là một
hình thức chính trị - nhà nước thừa nhận quyền tự do, bình đẳng của công
dân, xác định nhân dân là chủ thể của quyền lực. Quyền làm chủ của nhân dân
được thể chế hóa thành quy định, nguyên tắc tổ chức, vận hành của nhà nước
và thể chế chính trị tạo nên chế độ dân chủ.
Qua gần 30 năm đổi mới, Đảng ta đã có những phát triển mới, quan
trọng trong nhận thức về dân chủ . Quan niệm về dân chủ được mở rộng. Dân
chủ được xem xét nhiều khía cạnh: Dân chủ là chế độ chính trị; dân chủ là giá
trị; dân chủ là phương thức và nguyên tắc tổ chức xã hội; dân chủ chung đối
với xã hội và dân chủ với mỗi cá nhân; dân chủ trên tất cả các lĩnh vực chính
thẩm quyền trong một phạm vi nhất định, được ban hành có văn bản và có
hiệu lực thi hành trong phạm vi cơ quan, đơn vị tổ chức đó.
19
Quy chế cũng chính là quy phạm điều chỉnh liên quan đến chế độ chính
sách, các tổ chức hoạt động, công tác nhân sự, phân công và phân cấp nhiệm
vụ, quyền hạn, định mức, đơn giá áp dụng. Đồng thời quy chế đưa ra yêu cầu
cần đạt được và có tính đính khung mang tính nguyên tắc.
Quy chế dân chủ là những quy định thuộc phạm vi ngành pháp luật
hành chính do người đứng đầu các cơ quan nhà nước, các cấp, các ngành ban
hành để làm công cụ chỉ dẫn, đồng thời là cơ sở pháp lý để giám sát, kiểm tra
đối với các cơ quan và cán bộ viên chức thuộc quyền trong việc thực hiện mỡ
rộng dân chủ với nhân dân, quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý
nhà nước ngành mình, cấp mình, địa phương mình. Quy chế dân chủ được
ban hành và áp dụng là sự thế hiện bằng việc làm cụ thể nhằm bảo vệ và phát
triển bản chất dân chủ của chế độ xã hội chủ nghĩa làm cho phương châm
“dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” được thể chế hóa, pháp luật hóa
thành những quy phạm hành động cụ thể trong đời sống.
Khái niệm quy chế thực hiện dân chủ cơ sở là quyền dân chủ của công
dân được quy quy định trong Hiến pháp (2013), luật và các văn bản dưới luật,
để thực hiện quyền dân chủ của công dân đòi hỏi các cơ quan Nhà nước, tổ
chức xã hội, các nhân viên nhà nước, các cán bộ công chức và mọi công dân
phải triệt để tuân thủ pháp luật. Nói cách khác, thực hiện quyền dân chủ là tất
cả các quyền dân chủ do pháp luật quy định được tôn trọng và thực hiện trên
thực tế. Thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở là việc của chính quyền (hội đồng
nhân dân, ủy ban nhân dân) và các đoàn thể ở xã, phường, thị trấn phải thực
hiện một số hành vi nhất định để công dân thực hiện được các quyền dân chủ
của mình. Việc thực hiện quyền dân chủ ở cơ sở được tiến hành trên cơ sở các
quy định của pháp luật hiện hành. Hiện nay các văn bản quy phạm về thực
hiện dân chủ ở cơ sở là quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở (ban hành kèm theo
Nghị định 79/2003/NĐ – CP, ngày 07/7/2003 của Chính phủ): Quy chế thực
Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội
nghị lần thứ 7 Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X về nông nghiệp, nông
dân, nông thôn; xác định “Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM”,
đồng thời Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04-6-
2010 phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2010 –
2020 nhằm khai thác tiềm lực trong nông thôn, đưa nông thôn nước ta hiện nay trở
thành NTM.
Theo thông tư số 54/TT-NNPTNT, ngày 21-8-2009 của Bộ Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn quy định: “vùng/khu vực NTM Việt
Nam XHCN là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị
xã, thị trấn; được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã". Như vậy,
NTM trước hết phải là nông thôn, chứ không phải là thị tứ, thị trấn NTM
vừa bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn là vùng nông dân quần
tụ trong đơn vị làng xã và chủ yếu làm nông nghiệp, vừa có những thuộc tính
khác với nông thôn truyền thống, đó là: làng xã văn minh, sạch đẹp, hạ tầng
hiện đại; sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hoá; đời sống
vật chất và tinh thần của người dân nông thôn ngày càng được nâng cao; giá
trị văn hoá truyền thống được bảo tồn, phát triển; xã hội nông thôn có an ninh
tốt, quản lý dân chủ,… thể hiện rõ bản chất ưu việt, tốt đẹp của chế độ xã hội
chủ nghĩa mà Bác Hồ, Đảng và nhân dân ta đã lựa chọn.
Xây dựng NTM là làm cho nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn
nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy
hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được
nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn
dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân,
22
củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng
kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp CNH, HĐH, xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc.
của mô hình NTM như sau:
+ Về kinh tế: Nông thôn có nền sản xuất hàng hoá mở, hướng đến thị
trường và giao lưu, hội nhập. Để đạt được điều đó, kết cấu hạ tầng của nông
thôn phải hiện đại, tạo điều kiện cho mở rộng sản xuất giao lưu buôn bán;
thúc đẩy nông nghiệp, nông thôn phát triển nhanh, khuyến khích mọi người
tham gia vào thị trường, hạn chế rủi ro cho nông dân, điều chỉnh, giảm bớt sự
phân hoá giàu nghèo, chênh lệch về mức sống giữa các vùng, giữa nông thôn
và thành thị; hình thức sở hữu đa dạng, trong đó chú ý xây dựng mới các hợp
tác xã theo mô hình kinh doanh đa ngành; hỗ trợ các hợp tác xã ứng dụng tiến
bộ khoa học công nghệ phù hợp với các phương án sản xuất kinh doanh, phát
triển ngành nghề ở nông thôn; sản xuất hàng hoá có chất lượng cao, mang nét
độc đáo, đặc sắc của từng vùng, địa phương. Tập trung đầu tư vào những
trang thiết bị, công nghệ sản xuất, chế biến bảo quản, chế biến nông sản sau
thu hoạch.
+ Về chính trị: Phát huy dân chủ với tinh thần thượng tôn pháp luật,
gắn lệ làng, hương ước, quy ước với pháp luật để điều chỉnh hành vi con
người, đảm bảo tính pháp lý, tôn trọng kỷ cương phép nước, phát huy tính tự
chủ của làng xã; phát huy tối đa QCDCCS, tôn trọng hoạt động của các hội,
đoàn thể, các tổ chức hiệp hội vì lợi ích cộng đồng, nhằm huy động tổng lực
vào xây dựng NTM.
+ Về văn hoá xã hội và con người: Xây dựng đời sống văn hoá ở khu
dân cư, giúp nhau xoá đói giảm nghèo, vươn lên làm giàu chính đáng. Xây
24
dựng hình mẫu người nông dân sản xuất hàng hoá khá giả, giàu có; kết tinh
các tư cách: công dân, thể nhân, dân của làng, người con của các dòng họ,
gia đình.
+ Về môi trường: Xây dựng, củng cố, bảo vệ môi trường, du lịch sinh
thái. Bảo vệ rừng đầu nguồn, chống ô nhiễm nguồn nước, ô nhiểm đất, môi
trường không khí và chất thải từ các khu công nghiệp để nông thôn phát triển
bền vững.