BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
……… ***………
HOÀNG THỊ THU HOÀIPHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM TỈNH NGHỆ AN TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
NGHỆ AN - 2014
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
……… ***……… HOÀNG THỊ THU HOÀIPHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM TỈNH NGHỆ AN TRONG XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI
ngày 14 tháng 6 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 491/QĐ-
TTg về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Bộ tiêu
chí này là cơ sở để các địa phương làm căn cứ để xây dựng, phát triển nông
thôn. Ngày 2 tháng 2 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 193/QĐ-
TTg phê duyệt chương trình rà soát quy hoạch xây dựng nông thôn mới. Ngày 4
tháng 6 năm 2010, Thủ tướng Chính phủ ra quyết định số 800/QĐ-TTg về phê
duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010 -
2020, với mục tiêu đến năm 2015 có 20% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới,
2
đến năm 2015 có 50% số xã đạt tiêu chuẩn nông thôn mới. Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn cũng ban hành Thông tư số 54/2009/BNNPTNT ngày 21
tháng 8 năm 2009 về việc hướng dẫn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng
nông thôn mới.
Xây dựng nông thôn mới được tích cực triển khai và “cả nước chung tay
xây dựng nông thôn mới” đã trở thành phong trào rộng khắp.
Thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới;
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An ban hành Nghị quyết 03-NQ/TU về đẩy mạnh
thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới và Quyết định số 3875/QĐ-
UBND ngày 31/8/2010 của Uỷ ban nhân dân tỉnh về kế hoạch thực hiện Chương
trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2011 - 2020. Căn cứ
hướng dẫn của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Ban Thường trực Ủy ban
Mặt trận Tổ quốc tỉnh đã kịp thời xây dựng chương trình, kế hoạch, hướng dẫn
Mặt trận Tổ quốc các huyện, thành, thị quán triệt triển khai Nghị quyết một cách
đầy đủ, kịp thời.
Ngày 10/2/1011 Ban thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Nghệ An
đã ban hành kế hoạch số 67KH/MT.NA và ngày 25/2/2011 đã tổ chức lễ phát
động phong trào thi đua để thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng
nông thôn mới giai đoạn 2011-2020. Sau hơn 2 năm thực hiện, Mặt trận và các
đoàn thể trong tỉnh đã chủ động phối hợp với Ban chỉ đạo xây dựng nông thôn
mới và các tổ chức trong hệ thống chính trị đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận
đoạn khác nhau của cách mạng, vấn đề này lại được đặt ra một cách khác nhau,
mặc dù chúng đều có những mục tiêu chung là làm thay đổi diện mạo nông thôn,
thúc đẩy nông nghiệp phát triển, đưa lại cuộc sống ấm no, hạnh phúc, văn minh
cho người nông dân. Vì thế đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về nông
thôn và vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong xây dựng nông thôn mới:
4
- Trên thế giới, trước hết phải kể đến công trình khoa học: “Chính sách
nông nghiệp trong các nước đang phát triển” của tác giả Frans Ellits do Nhà
xuất bản Nông nghiệp xuất bản năm 1994. Trong tác phẩm này, tác giả đã nêu
lên những vấn đề cơ bản của chính sách nông nghiệp ở các nước đang phát triển
thông qua việc nghiên cứu lý thuyết và khảo cứu thực tiễn ở nhiều nước châu Á,
châu Phi và châu Mỹ La Tinh. Cuốn sách đã đề cập những vấn đề chính sách
phát triển vùng, chính sách hỗ trợ đầu vào, đầu ra cho sản xuất nông nghiệp,
chính sách thương mại nông sản, những vấn đề phát sinh trong quá trình đô thị
hoá. Điều đặc biệt cần lưu ý là công trình này đã xem xét nền nông nghiệp của
các nước đang phát triển trong quá trình chuyển sang sản xuất hàng hoá gắn liền
với thương mại nông sản trên thế giới, đồng thời cũng nêu lên những mô hình
thành công và thất bại trong việc phát triển nông nghiệp, nông thôn và giải quyết
vấn đề nông dân.
Công trình khoa học: “Một số vấn đề về nông nghiệp, nông dân ở các nước
và Việt Nam” của các tác giả Benedict J.tria kerrkvliet, Jamesscott, Nguyễn Ngọc
và Đỗ Đức Định sưu tầm và giới thiệu, Nhà xuất bản Hà Nội xuất bản năm 2000.
Các tác giả đã nghiên cứu về vai trò, đặc điểm của nông dân, thiết chế nông thôn ở
một số nước trên thế giới và những kết quả bước đầu trong nghiên cứu làng nghề
truyền thống ở Việt Nam. Công trình này có giá trị tham khảo cho việc giải quyết
những vấn đề của chính sách phát triển nông thôn nước ta hiện nay như tương lai
của các trang trại nhà, nông dân với khoa học.
- Nhóm những công trình nghiên cứu trong nước:
+ Nhóm các văn bản của Trung ương và của các Bộ, ngành liên quan đến
vấn đề xây dựng nông thôn mới:
6
20 năm. Công trình còn cung cấp hệ thống tư liệu về phát triển nông nghiệp,
nông thôn nước ta như một niên giám thu nhỏ. Tác giả này đã luận giả rõ quá
trình đổi mới, hoàn thiện chính sách nông nghiệp, nông thôn nước ta trong
những năm đổi mới, những thành tựu và những vấn đề đặt ra trong quá trình
phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam. Những gợi mở về những vấn đề
cần giải quyết của phát triển nông nghiệp, nông thôn nước ta được tác giả lý giải
với nhiều luận cứ có tính thuyết phục.
Công trình nghiên cứu: Chính sách nông nghiệp, nông thôn sau Nghị
quyết X của Bộ chính trị do PGS.TSKH Lê Đình Thắng chủ biên, Nhà xuất bản
Chính trị Quốc gia ấn hành năm 1998 đã đề cập nhiều nội dung quan trọng liên
quan đến quá trình phát triển nông nghiệp của Việt Nam dưới sự tác động của hệ
thống chính sách, đi sâu phân tích một số chính sách cụ thể như chính sách đất
đai, chính sách phân phối trong phát triển nông nghiệp, nông thôn Việt Nam.
Đề tài khoa học cấp nhà nước do GS.TS Hoàng Chí Bảo (chủ nhiệm đề
tài): Hệ thống chính trị ở cơ sở nông thôn nước ta hiện nay, đề tài khoa học cấp
nhà nước, Hà Nội, 1992.
Vũ Oanh: Nông nghiệp và nông thôn trên con đường công nghiệp hoá,
hiện đại hoá và hợp tác hoá, dân chủ hoá, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội, 1998.
Phan Đại Doãn, Nguyễn Quang Ngọc: Quản lý xã hội nông thôn nước
ta hiện nay - Một số vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia,
Hà Nội 2001.
+ Nhóm công trình nghiên cứu về vai trò của Mặt trận Tổ quốc trong việc
thực hiện các nhiệm vụ khác như Tác giả Phan Xuân Sơn (chủ biên), Vai trò của
các đoàn thể nhân dân trong việc đảm bảo dân chủ ở cơ sở, Nhà xuất bản Chính
trị Quốc gia, Hà Nội, năm 2002. Cuốn sách là một công trình góp phần trình bày
tương đối hệ thống quá trình hình thành, phát triển, nội dung, phương thức hoạt
động của các đoàn thể nhân dân nhằm thực hiện chức năng chính trị là cầu nối
7
Tạp chí Mặt trận số 115; Hồng Chương (2013), Lồng ghép phong trào xây dựng
nông thôn mới với cuộc vận động "toàn dân xây dựng đời sống văn hoá ở khu
dân cư", Tạp chí Mặt trận, số 117, 118; Trần Vương Việt (2013), “Mặt trận và
các đoàn thể phối hợp xây dựng nông thôn mới”, Tạp chí Mặt trận số 121,122;
Nguyễn Thị Lan (2014), “Sự đồng thuận của nhân dân - bài học từ quá trình xây
dựng nông thôn mới ở xã Sơn Thành”, Tạp chí Mặt trận số 129, 130 v.v…
Những công trình đó cung cấp những luận cứ, luận chứng, những dữ liệu
rất quan trọng cho việc hoạch định chính sách phát triển nông nghiệp, nông thôn
và giải quyết vấn đề nông dân trong thời kỳ mới ở nước ta. Cho đến nay chưa có
công trình nghiên cứu khoa học nào trực tiếp nghiên cứu về vai trò của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An trong xây dựng nông thôn mới. Những công
trình khoa học nói trên là tài liệu tham khảo quý báu cho bản thân khi thực hiện
luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Trên cơ sở đánh giá vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An
trong xây dựng nông thôn mới thời gian từ 2011 - 2013, từ đó đề xuất một số
phương hướng và giải pháp nhằm phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam tỉnh Nghệ An trong xây dựng nông thôn mới.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong xây dựng nông thôn mới.
- Đánh giá thực trạng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh
Nghệ An trong xây dựng nông thôn mới từ 2011 - 2013.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh Nghệ An trong xây dựng nông thôn mới.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
9
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN
TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
1.1. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
trong hệ thống chính trị
1.1.1. Vị trí, vai trò
Vị trí, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định rõ trong
Hiến pháp và các văn bản luật khác.
Điều 9 của Hiến pháp năm 1992 đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền
thống đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong
nhân dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước
11
chăm lo và bảo vệ lợi ích chính đáng của nhân dân, động viên nhân dân thực
hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát
hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, viên chức, nhà
nước tạo điều kiện để Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên hoạt động có
hiệu quả”, điều đó càng khẳng định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận
không thể thiếu được của hệ thống chính trị nước ta.
Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, ngày 12/6/1999 Quốc hội nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa X, kỳ họp thứ 5 đã thông qua Luật Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó đã khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là
một bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền
nhân dân, nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết toàn dân,
phát huy quyền làm chủ của nhân dân, nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất
hành động của các thành viên, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền
quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện
đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”
(Khoản 2, Điều 1) [41; 9].
Như vậy, vai trò, vị trí của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam do chính nhân
Trong bối cảnh đó, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, một
sự nghiệp đầy khó khăn gian khổ, càng đòi hỏi phải tăng cường khối đại đoàn
kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Do vậy vai trò của Mặt trận
và các đoàn thể càng quan trọng. Nâng cao vai trò, tác dụng của Mặt trận trong
hệ thống chính trị và đời sống xã hội là một yêu cầu của công cuộc đổi mới xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc.
1.1.2. Chức năng, nhiệm vụ
13
Chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định
trong Điều 2 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam [41;10].
Chức năng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tập hợp, đoàn kết rộng rãi
các tầng lớp nhân dân; thực hiện dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường đồng
thuận trong xã hội; đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của
nhân dân.
Nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được quy định trong Điều 2 Luật
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là:
- Tập hợp, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về
chính trị và tinh thần trong nhân dân;
- Tuyên truyền, động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, thực hiện
đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, nghiêm chỉnh thi hành Hiến pháp
và pháp luật.
- Giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công
chức nhà nước; tập hợp ý kiến, kiến nghị của nhân dân để phản ánh, kiến nghị với
Đảng và Nhà nước. Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để Mặt trận Tổ quốc.
- Tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân.
- Cùng Nhà nước chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
nhân dân.
- Tham gia phát triển tình hữu nghị, hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân
dân các nước trong khu vực và trên thế giới.
Từ nhiệm vụ chung của Mặt trận Tổ quốc nêu trên, Ủy ban Mặt trận Tổ
Theo Bách khoa tri thức toàn thư Việt Nam: Nông dân là những người lao
động cư trú ở nông thôn, tham gia sản xuất nông nghiệp. Nông dân sống chủ yếu
bằng ruộng vườn, sau đó đến các ngành nghề mà tư liệu sản xuất chính là đất
đai. Tùy từng quốc gia, từng thời kì lịch sử, người nông dân có quyền sở hữu
khác nhau về ruộng đất. Họ hình thành nên giai cấp nông dân, có vị trí, vai trò
nhất định trong xã hội.
15
Ở Việt Nam, nông dân là lực lượng xã hội đông đảo, trực tiếp thực hiện vai
trò quan trọng của nông nghiệp. Lao động nông thôn không chỉ là nguồn nhân lực
chủ yếu và quyết định trong phát triển sản xuất và kinh tế nông thôn mà còn có
đóng góp quan trọng trong hoạt động kinh tế - xã hội khác của cả nước.
Là một lực lượng xã hội đông đảo, giai cấp nông dân Việt Nam cùng với
giai cấp công nhân và tầng lớp trí thức xã hội chủ nghĩa là những lực lượng cơ bản
của cách mạng. Giai cấp nông dân như Nghị quyết Trung ương 7 khoá X xác định
là chủ thể của quá trình phát triển. Do vậy một trong những vấn đề cần đặc biệt
quan tâm trong quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng
nông thôn mới là thực sự tôn trọng, phát huy tối đa vai trò vị thế chủ thể của nông
dân về chính trị, kinh tế và văn hóa Đây là nhóm dân số đông nhất ở nước ta hiện
nay, là giai cấp cách mạng, đồng hành cùng với giai cấp công nhân trong suốt chiều
dài lịch sử cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhưng lại gặp nhiều khó khăn
trong đời sống và ít được hưởng lợi nhất của thành quả cách mạng. Nhìn chung,
trình độ học vấn của nông dân nước ta hiện nay còn thấp, nặng về kinh nghiệm, nên
cần kiên trì, lâu dài hỗ trợ nông dân về khoa học kỹ thuật, đưa tiến bộ khoa học kỹ
thuật vào nông nghiệp, nông thôn.
Giai cấp nông dân là một bộ phận rất quan trọng trong cơ cấu xã hội,
trong khối liên minh giai cấp, dân tộc và xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết
dân tộc, thúc đẩy và thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới.
- Nông thôn:
Nông thôn được coi là khu vực địa lý nơi đó sinh kế cộng đồng gắn bó, có
quan hệ trực tiếp đến khai thác, sử dụng, bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên
Nông thôn nước ta là khu vực rộng lớn và đông dân nhất, đa dạng về
thành phần tộc người, về văn hóa là nơi bảo tồn, lưu giữ các phong tục, tập
quán của cộng đồng.
Hệ thống xã hội nông thôn được xác định theo ba đặc trưng cơ bản sau:
17
+ Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội: Ở nông thôn, đặc trưng chủ yếu
ở đây là nông dân, ngoài ra ở từng xã hội còn có các nhóm thợ thủ công nghiệp,
buôn bán nhỏ, v.v
+ Về lĩnh vực sản xuất: Đặc trưng rõ nét nhất của nông thôn là sản xuất
nông nghiệp; ngoài ra, còn có thể kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm:
dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực
sản xuất nông nghiệp.
+ Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng: Nông thôn thường rất đặc
trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã. Đặc trưng này bao gồm rất
nhiều khía cạnh như từ hệ thống dịch vụ, sự giao tiếp, đời sống tinh thần, phong
tục, tập quán, hệ giá trị, chuẩn mực cho hành vi, đến khía cạnh dân số, lối sống
gia đình, sinh hoạt kinh tế, ngay cả đến hệ thống đường xá, năng lượng, nhà ở
Đó là những đặc trưng cơ bản nhất về mặt xã hội học để nhận diện nông
thôn. Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hệ
thống xã hội nông thôn.
- Nông thôn mới:
Đã có một số diễn giải và phân tích về khái niệm thế nào là nông thôn
mới. Thông tư số 54/TT- NNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và
Phát triển nông thôn quy định: “Vùng/khu vực nông thôn mới Việt Nam
XHCN là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã,
thị trấn, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã”. Như
vậy, nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn chứ không phải là thị tứ; đó là
nông thôn mới chứ không phải là nông thôn truyền thống. Nếu so sánh giữa
nông thôn mới và nông thôn truyền thống phải bao hàm cơ cấu và chức năng
mới. Nông thôn mới bao hàm chức năng lịch sử vốn có của nông thôn là vùng
hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng
hàng đầu của công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
- Xây dựng nông thôn mới:
19
Có thể nói, xây dựng nông thôn cũng đã có từ lâu tại Việt Nam. Trước đây,
có thời điểm chúng ta xây dựng mô hình nông thôn ở cấp huyện, cấp thôn, nay
chúng ta xây dựng nông thôn mới ở cấp xã. Sự khác biệt giữa xây dựng nông thôn
trước đây với xây dựng nông thôn mới chính là ở những điểm sau:
- Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới là xây dựng nông thôn theo tiêu chí
chung cả nước được định trước.
- Thứ hai, xây dựng nông thôn địa bàn cấp xã và trong phạm vi cả nước,
không thí điểm, nơi làm nơi không, 9111 xã cùng làm.
- Thứ ba, cộng đồng dân cư là chủ thể của xây dựng nông thôn mới,
không phải ai làm hộ, người nông dân tự xây dựng.
- Thứ tư, đây là một chương trình khung, bao gồm 11 chương trình mục
tiêu quốc gia và 13 chương trình có tính chất mục tiêu đang diễn ra tại nông thôn.
1.2.2. Tiêu chí nông thôn mới
Thủ tướng chính phủ đã ký quyết định số 491/QĐ-TTg ngày 16/04/2009
về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới, bao gồm 19 tiêu chí và
được chia thành 5 nhóm cụ thể
- Nhóm I: Quy hoạch (có 1 tiêu chí).
- Nhóm II: Hạ tầng kinh tế - xã hội (có 08 tiêu chí).
- Nhóm III: Kinh tế và tổ chức sản xuất (có 04 tiêu chí).
- Nhóm IV: Văn hóa - xã hội - môi trường (có 04 tiêu chí).
- Nhóm V: Hệ thống chính trị (có 02 tiêu chí).
Theo đó Bộ tiêu chí đưa ra chỉ tiêu chung cả nước và các chỉ tiêu cụ thể theo
từng vùng: Trung du miền núi phía Bắc, Đồng bằng sông Hồng, Bắc Trung Bộ,
Duyên hải Nam Trung Bộ, Tây Nguyên, Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu
Long, phù hợp với đặc điểm, điều kiện kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi vùng.
19 tiêu chí để xây dựng mô hình nông thôn mới bao gồm: Quy hoạch và
trước hết phải khảo sát, đánh giá thực trạng hệ thống cơ sở hạ tầng hiện có và
21
dựa trên các tiêu chí về cơ sở hạ tầng của xã nông thôn mới để xác định những
việc cần làm, những công trình cần xây dựng, đưa ra nhân dân thảo luận, lựa
chọn cách làm và thứ tự ưu tiên làm trước, làm sau theo hướng với những công
trình đã có thì tập trung cải tạo, nâng cấp để đạt chuẩn, chỉ xây dựng mới những
công trình chưa có; chỉ những công trình có yêu cầu kỹ thuật phức tạp, vốn lớn,
mới lập dự án đầu tư và đấu thầu thi công, còn chủ yếu chỉ lập báo cáo kinh tế
kỹ thuật rồi tổ chức để nhân dân trong xã tự làm, có sự giám sát của cộng đồng.
Việc xây dựng hệ thống cơ sở hạ tầng đòi hỏi một lượng vốn lớn, theo quan
điểm phát huy nội lực, vì vậy, cần tuyên truyền vận động, huy động sự tham gia
đóng góp của nhân dân với nhiều hình thức đa dạng, như đóng góp bằng tiền,
bằng công sức, vật liệu và hiến đất cho xây dựng các công trình (mở rộng
đường, làm kênh mương, làm trường học, trạm xá ), kêu gọi sự hỗ trợ của các
doanh nghiệp, các tổ chức xã hội, sự đóng góp xây dựng quê hương của con em
trong xã công tác ở các vùng trong cả nước Đồng thời, sự hỗ trợ ban đầu của
ngân sách Nhà nước Trung ương và địa phương có ý nghĩa rất quan trọng để tạo
lòng tin và tạo đà cho việc thực hiện Chương trình.
- Về phát triển sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người dân. Đây là
một trong những nội dung chủ yếu, quan trọng nhất của Chương trình, yếu tố
quyết định sự phát triển bền vững, lâu dài của mô hình, nhưng cũng là nội dung
khó nhất nên đòi hỏi các cấp, các ngành tập trung chỉ đạo.
Cùng với phát triển sản xuất, các tổ chức kinh tế tập thể được củng cố và
phát triển thêm, gắn liền với mô hình sản xuất mới, hỗ trợ đắc lực cho kinh tế hộ, là
cầu nối giữa hộ nông dân với các đơn vị khoa học, doanh nghiệp và thị trường.
- Về văn hóa, xã hội, môi trường: Quan tâm hơn đến phát triển giáo dục, y
tế, nước sạch và vệ sinh môi trường; cải tạo nhà ở (xóa nhà tạm), xây dựng ba
công trình vệ sinh ở hộ gia đình, phát triển các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể
dục thể thao, khôi phục các lễ hội văn hóa truyền thống, góp phần nâng cao chất
lượng cuộc sống và làm phong phú thêm đời sống tinh thần ở nông thôn.