MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu ............................................................. 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ...................................................................................... 3
3. Tính mới và những đóng góp của Luận văn ................................................. 4
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ................................................................. 4
5. Bố cục luận văn ............................................................................................. 6
Chương 1: VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA MẶT TRẬN TQVN THAM
GIA XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ
HỘI CHỦ NGHĨA .............................................................. 7
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ MẶT TRẬN
TQVN THAM GIA XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN ... 7
1.2. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TQVN TRONG
THAM GIA XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN
VIỆT NAM .............................................................................................. 14
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 17
Chương 2: VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TQVN THAM GIA XÂY
DỰNG BỘ MÁY NHÀ NƯỚC, CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ
QUA THỰC TIỄN TẠI TỈNH THỪA THIÊN HUẾ............ 18
2.1. VAI TRÒ THAM GIA, PHỐI HỢP CỦA MẶT TRẬN TQVN VỚI
CÁC CƠ QUAN DÂN CỬ ..................................................................... 18
2.1.1. Vai trò của Mặt trận TQVN trong tham gia công tác bầu cử đại biểu
Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp.................................................... 18
2.1.2. Vai trò của Mặt trận TQVN trong tham gia phối hợp tổ chức các
hoạt động của Quốc hội và HĐND các cấp .......................................... 22
2.1.3. Vai trò của Mặt trận TQVN trong tham gia xây dựng pháp luật và
thực hiện phản biện xã hội .................................................................... 33
PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA.................................. 89
3.1. NHÓM GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG SỰ LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG
ĐỐI VỚI CÔNG TÁC MẶT TRẬN VÀ ĐỔI MỚI NỘI DUNG,
PHƯƠNG THỨC HOẠT ĐỘNG CỦA MẶT TRẬN TQVN TRONG
THAM GIA XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN ............ 89
3.1.1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với Mặt trận ............................. 89
3.1.2. Đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận TQVN
trong tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN ...................... 90
3.2. NHÓM GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH VÀ NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA
MẶT TRẬN TQVN TRONG THAM GIA XÂY DỰNG NHÀ
NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN ............................................................... 96
3.2.1. Nhóm giải pháp đẩy mạnh nâng cao vai trò của Mặt trận tham gia đối
với cơ quan dân cử (gồm Quốc Hội và Hội đồng nhân dân các cấp) ...... 96
3.2.2. Nhóm giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam với các cơ quan Nhà nước trong việc phát huy quyền làm
chủ và bảo vệ quyền dân chủ của nhân dân ........................................ 107
3.2.3 Nhóm giải pháp tăng cường sự phối hợp giữa Mặt trận TQVN với
các cơ quan tư pháp ............................................................................ 112
Kết luận chương 3 ....................................................................................... 115
KẾT LUẬN .................................................................................................. 116
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 118
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BCH
: Ban chấp hành
BTT
UBND
: Ủy ban nhân dân
UBTVQH
: Ủy ban Thường vụ Quốc hội
UBTWMT
: Ủy ban Trung ương Mặt trận
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
VKSND
: Viện kiểm sát nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một
trong những điều kiện và môi trường tiên quyết của một quốc gia tiến hành
công nghiệp hoá, hiện đại hoá và một xã hội phát triển.
Nội dung quan trọng của Nhà nước pháp quyền là khẳng định cội
nguồn quyền lực nhà nước là ở nhân dân. Để đảm bảo quyền lực nhà nước
thuộc về nhân dân, trong đó nhà nước là của nhân dân chứ không phải nhân
nước; tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân; cùng Nhà nước
chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Với nền dân chủ
ngày càng phát triển thì Mặt trận Tổ quốc càng cần được mở rộng, vai trò của
Mặt trận TQVN cần được đề cao như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định:
"Trong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng như trong cách mạng xã
hội chủ nghĩa, Mặt trận Dân tộc Thống nhất vẫn là một trong những lực
lượng to lớn của cách mạng nước ta"[41, T10, tr 605].
Trước yêu cầu của sự nghiệp đổi mới hiện nay, việc tiếp tục xây dựng
hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân vừa là cơ bản,
vừa cấp bách, nhằm đáp ứng với yêu cầu xây dựng đất nước trong thời kỳ đẩy
mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, đảm bảo xây dựng thành công
CNXH ở nước ta. Với nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam đó là chế độ hiệp thương dân chủ (khác căn bản với dân chủ trong
Đảng) đặc biệt quan trọng trong điều kiện một đảng duy nhất cầm quyền. Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức rộng rãi của tất cả các giai cấp và tầng
lớp xã hội, với mục tiêu đoàn kết phát huy sức mạnh to lớn của khối đại đoàn
kết dân tộc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện chức năng giám sát và phản
biện xã hội - một thể chế dân chủ thực chất mà không cần nhiều đảng chính trị.
Vì vậy, việc phát huy tối đa vai trò Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia trong
xây dựng và quản lý Nhà nước, trong vai trò phản biện và giám sát hoạt động
2
của các tổ chức trong hệ thống chính trị là điều kiện quan trọng đối với sự
nghiệp xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Tại Thừa Thiên Huế, nhiều năm qua hệ thống Mặt trận TQVN từ Tỉnh
đến các xã, phường, thị trấn đã có rất nhiều hoạt động nhằm phát huy dân chủ
trong các tầng lớp nhân dân, tích cực tham gia xây dựng chính sách pháp luật,
xây dựng và cụ thể hóa chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc... Tuy vậy, để đẩy
3. Tính mới và những đóng góp của Luận văn
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò
của Mặt trận trong đời sống xã hội hiện nay, Luận văn còn:
- Trình bày một cách có hệ thống dưới giác độ khoa học pháp lý vấn đề
Mặt trận Tổ quốc tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN.
- Đánh giá thực trạng về vai trò của Mặt trận trong tham gia xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
- Đưa ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò của Mặt trận TQVN
tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Luận văn nghiên cứu vai trò tham gia, phối
hợp của Mặt trận TQVN đối với bộ máy Nhà nước, chính quyền cơ sở trong
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN qua thực tiễn hoạt động tại Tỉnh Thừa
Thiên Huế.
- Phạm vi nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu những quy định vị trí vai
trò của Mặt trận TQVN trong tham gia xây dựng bộ máy Nhà nước, Luận văn
nghiên cứu cụ thể về vai trò, chức năng của Mặt trận trong tham gia phối hợp
với các cơ quan dân cử, cơ quan hành chính Nhà nước, cơ quan tư pháp; thực
hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội; phát huy vai trò tập hợp xây
dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc; thực hiện các phong trào, các cuộc vận
động nhằm góp phần xây dựng sự đồng thuận xã hội và phát triển khối đại
đoàn kết toàn dân tộc trên địa bàn Tỉnh Thừa Thiên Huế.
4
* Tổng quan tài liệu:
Hiện nay, trên phạm vi cả nước đã có nhiều công trình, bài báo nghiên
cứu nhiều góc độ về tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN như:
Các đề tài khoa học cấp Bộ, cấp Nhà nước như:
Tỉnh Thừa Thiên Huế đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào. Vì vậy,
việc nghiên cứu để góp phần phát huy vai trò của Mặt trận TQVN tham gia
xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN – qua thực tiễn tại tỉnh Thừa Thiên
Huế là việc làm cần thiết.
5. Bố cục luận văn
Kết cấu luận văn gồm có: Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài
liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương, 8 tiết.
6
Chương 1
VAI TRÒ, VỊ TRÍ CỦA MẶT TRẬN TQVN
THAM GIA XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1.1. QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VỀ MẶT
TRẬN TQVN THAM GIA XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN
Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng Cộng sản
Việt Nam nêu rõ: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai
trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên, thực hiện dân chủ và đổi
mới, giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân,
thắt chặt mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân". "Đảng Cộng sản
Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận".[15,tr 31].
Đến Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
(khóa VII tháng 11/1999) khẳng định vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đối với việc xây dựng Nhà nước: Cải cách bộ máy Nhà nước còn bao hàm
một nội dung quan trọng là tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Nhà nước
với Mặt trận TQVN và các đoàn thể nhân dân. Mặt trận và các đoàn thể tham
gia xây dựng quản lý, giám sát và bảo vệ Nhà nước. Nhà nước dựa vào Mặt
giám sát và phản biện xã hội” [18, tr.124]. Đảng “Xây dựng quy chế giám
sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị - xã
hội và nhân dân đối với việc hoạch định đường lối chủ trương, chính sách,
quyết định lớn của Đảng và việc tổ chức thực hiện, kể cả đối với công tác
tổ chức và cán bộ”[18, tr.135].
Về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với hoạt động
của cơ quan Nhà nước, đại biểu dân cử và cán bộ, công chức Nhà nước đã
được Đảng ta nêu ra từ Nghị quyết lần thứ 2 Ban chấp hành Trung ương Đảng
(khóa VII) năm 1991 và đã được thể chế hóa tại điều 9 Hiến pháp 1992 và
nhiều văn bản pháp luật của Nhà nước. Còn vai trò phản biện xã hội của Mặt
trận được Nghị quyết Đại hội X của Đảng ta nêu ra; đây là vấn đề rất khó và
11
nhạy cảm, nhưng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong việc vận động các tầng
lớp nhân dân tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân trong thời kỳ
mới. Tuy nhiên để quan điểm này của Đảng đi vào đời sống xã hội thì cần
được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, có cơ chế cụ thể thì Mặt trận, các
đoàn thể nhân dân thực hiện mới có hiệu quả.
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam
tiếp tục khẳng định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính
trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ
chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các
dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính
quyền nhân dân”. “Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tiếp tục tăng
cường tổ chức, đội mới nội dung, phương thức hoạt động, khắc phục tình
trạng hành chính hóa, phát huy vai trò nòng cốt tập hợp, đoàn kết nhân dân
được xác lập trên cơ sở pháp luật, đảm bảo mọi công dân đều được làm những
việc mà pháp luật không cấm; cán bộ, công chức, viên chức Nhà nước chỉ
được làm những việc mà pháp luật cho phép. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là
tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, các tổ
chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu của các giai
cấp, các tầng lớp xã hội, các dân tộc, các tôn giáo và người Việt Nam định cư
ở nước ngoài; là bộ phận của hệ thống chính trị của nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của
chính quyền nhân dân. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đại diện cho quyền và lợi
ích hợp pháp của nhân dân; có vai trò quan trọng trong việc thực hiện giám
sát và phản biện xã hội góp phần xây dựng, bảo vệ Đảng, xây dựng Nhà nước
trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
13
1.2. CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TQVN
TRONG THAM GIA XÂY DỰNG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XHCN
VIỆT NAM
Thực hiện cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm phát huy sức mạnh khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường xây dựng đất nước,
thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác với
tất cả các nước, tiếp tục phấn đấu giành những thắng lợi to lớn hơn nữa trong
sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Năm 1992, Quốc hội quyết
định sửa đổi Hiến pháp năm 1980 để đáp ứng yêu cầu của tình hình và nhiệm
vụ mới của cách mạng Việt Nam. Trong đó, điều 9 Hiến pháp năm 1992,
Quốc hội quy định: “Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên là
cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát huy truyền thống
đoàn kết toàn dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị và tinh thần trong nhân
nghĩa Việt Nam đã thông qua Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một đạo luật ít chương, điều nhất
trong hệ thống pháp luật Việt Nam, chỉ có 4 chương và 18 điều, nhưng đã quy
định khá rõ về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một tổ chức liên minh chính trị; là bộ
phận của hệ thống chính trị nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; có
chức năng, nhiệm vụ bao trùm nhất, cơ bản nhất là tập hợp xây dựng khối đại
đoàn kết toàn dân tộc, tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc “tự nguyện, hiệp
thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động”; Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, tham gia xây dựng và củng
cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước chăm lo và bảo vệ quyền và lợi ích
chính đáng của nhân dân, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước, đại biểu
dân cử, cán bộ, công chức Nhà nước, góp phần giữ vững độc lập dân tộc, chủ
quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp
15
hóa, hiện đại hóa đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công
bằng, dân chủ, văn minh.
Luật bầu cử đại biểu Quốc hội, Luật bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân
quy định năm nhiệm vụ quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong các
cuộc bầu cử, đó là: Tổ chức hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu những người
ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân; tham gia các tổ chức
phụ trách bầu cử; phối hợp tổ chức các hội nghị cử tri nơi cư trú đối với
những người ứng cử; các cuộc tiếp xúc cử tri với những người ứng cử để vận
động bầu cử; tham gia tuyên truyền, vận động cử tri thực hiện pháp luật về
bầu cử và tham gia giám sát việc bầu cử. Trong năm nhiệm vụ trên, nhiệm vụ
tổ chức hiệp thương, lựa chọn, giới thiệu người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại
biểu Hội đồng nhân dân là nhiệm vụ then chốt nhất, là vấn đề cốt lõi trong tất
Chương 2
VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TQVN THAM GIA XÂY DỰNG BỘ MÁY
NHÀ NƯỚC, CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ QUA THỰC TIỄN TẠI
TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
2.1. VAI TRÒ THAM GIA, PHỐI HỢP CỦA MẶT TRẬN TQVN VỚI
CÁC CƠ QUAN DÂN CỬ (bao gồm Quốc Hội, Hội đồng nhân dân các cấp)
2.1.1. Vai trò của Mặt trận TQVN trong tham gia công tác bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND các cấp
Quyền lực Nhà nước thuộc về nhân dân là một vấn đề cơ bản nhất được
quy định tại Hiến pháp. Quyền lực đó phải có các hình thức và biện pháp nhất
định để thực hiện, trong đó phương pháp bầu cử trở thành một trong những hình
thức thực hiện quyền tự do, dân chủ, một trong những biểu hiện quyền con
người trong lĩnh vực chính trị - quyền tự do dân chủ. Bầu cử trở thành một chế
độ bầu cử, một hình thức hoạt động quan trọng của xã hội dân chủ, một phương
pháp phổ biến nhất hiện nay để nhân dân thực hiện quyền lực Nhà nước thuộc về
nhân dân. Ngoài việc bỏ phiếu để bầu ra những người đại diện thay mặt mình
trong các cơ quan quyền lực Nhà nước, bầu cử còn là một trong những biện pháp
kiểm tra, giám sát Nhà nước và làm cho quyền lực Nhà nước luôn có xu hướng
thuộc về nhân dân. Một chế độ dân chủ chỉ có thể có khi và chỉ khi có được các
cuộc bầu cử phổ thông, bình đẳng, tìm ra được những người thực sự tài năng
thay mặt nhân dân nắm giữ quyền lực Nhà nước.
Mặt trận TQVN với vai trò là một tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp
tự nguyện của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội,
là cơ sở của chính quyền nhân dân, Mặt trận TQVN được pháp luật bầu cử
quy định vai trò giới thiệu ứng cử viên tham gia đại biểu quốc hội và đại biểu
HĐND các cấp, các ứng cử viên muốn ứng cử phải được thông qua Uỷ ban
Mặt trận TQVN các cấp hiệp thương giới thiệu.
18
nhân dân do cơ quan, tổ chức, đơn vị gửi đến, BTT Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
các cấp tiến hành tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ hai.
Hội nghị hiệp thương lần thứ hai thỏa thuận danh sách sơ bộ những
người ứng cử và gửi đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn nơi cơ
trú đối với những người ứng cử (bao gồm những người được cơ quan, tổ
chức, đơn vị giới thiệu và những người tự ứng cử).
Quá trình tổ chức hội nghị cử tri nơi cư trú của những người ứng cử
nếu có ý kiến, kiến nghị hoặc tố cáo đối với những người ứng cử nào đó thì
BTT Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tổ chức hiệp thương lập danh sách gửi đến
cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quản lý người ứng cử đó phải xác
minh rõ đúng sai và gửi đến Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tổ chức hiệp
thương. Sau khi nhận được văn bản xác minh của cơ quan, tổ chức, đơn vị có
thẩm quyền đối với người ứng cử, BTT Ủy ban Mặt trận Tổ quốc cấp tổ chức
hiệp thương tiến hành tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba.
Hội nghị hiệp thương lần thứ ba thỏa thuận lập danh sách chính thức
những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và gửi
ngay đến Hội đồng bầu cử để Hội đồng bầu cử xem xét phân bổ người ứng cử
về các đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu và công bố danh sách người ứng cử ở
từng đơn vị bầu cử.
Kết thúc hội nghị hiệp thương lần thứ ba lập danh sách chính thức
những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
cũng là kết thúc quy trình hiệp thương khá chặt chẽ theo quy định của pháp
luật. Đó là khái quát quy trình hiệp thương dân chủ để sàn lọc, lựa chọn, giới
thiệu những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các
cấp. Trong quá trình thực hiện các bước của quy trình hiệp thương thì bước tổ
chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm cử tri nơi cư trú của những người ứng
cử là quan trọng nhất, bởi lẽ đây là những người có thể trúng cử làm đại biểu
21