1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐẶNG THỊ KIM NGÂN VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM ĐỐI VỚI BỘ MÁY NHÀ NƢỚC LUẬN VĂN THẠC SĨ
1.3.
Đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
17
1.4.
Nội dung và hình thức giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
19
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI BỘ MÁY
NHÀ NƢỚC
25
2.1.
Hoạt động giám sát trong việc xây dựng bộ máy nhà nước
25
2.2.
Hoạt động giám sát trong việc xây dựng pháp luật và tổ chức
thi hành chính sách, pháp luật
33
2.3.
Hoạt động giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo
47
2.4.
Hoạt động giám sát đại biểu dân cử, cán bộ công chức nhà nước
54
2.5.
Đánh giá thực trạng vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam đối với bộ máy nhà nước
62
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP TĂNG
3.3.5.
Một số biện pháp khác
88
KẾT LUẬN
103
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
105
3
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do lựa chọn đề tài
Là một bộ phận trong hệ thống chính trị của nước ta, Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam có vai trò quan trọng trong việc phát huy truyền thống đoàn kết toàn
dân, tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, cùng Nhà nước
tích cực chăm lo, bảo vệ quyền lợi chính đáng của nhân dân. Tổ chức và hoạt
động của Mặt trận chính là một trong những phương thức thực thi quyền lực
chính trị của nhân dân lao động, là một kênh quan trọng trong việc thực hiện
quyền làm chủ của nhân dân trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Qua thực tiễn 20 năm đổi mới của đất nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã
tích cực đổi mới phương thức hoạt động của mình, tiếp tục làm tốt vai trò là
cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, xứng đáng là cầu nối giữa nhân dân
với Đảng và Nhà nước, thực sự là nơi thể hiện ý chí, nguyện vọng của các
tầng lớp nhân dân; thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ của Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam trong giai đoạn cách mạng mới mà trước hết là nhiệm vụ tham gia
xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân, góp phần làm cho bộ máy nhà
nước ta ngày càng trong sạch, vững mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả.
Trong nhiệm vụ tham gia xây dựng, củng cố và bảo vệ chính quyền nhân dân
thì nhiệm vụ quan trọng của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát nhân dân
Mặt trận Tổ quốc các cấp, góp phần xây dựng chính quyền ngày càng trong
sạch, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, thực sự là chính quyền của dân, do dân
và vì dân. Từ những lý do nêu trên và với tâm huyết của mình, tôi quyết định
chọn đề tài: Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với bộ máy
nhà nước để làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Mặc dù vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong từng lĩnh vực cụ thể như
bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân, hoặc ở
lĩnh vực Mặt trận tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân đã
trở thành đối tượng nghiên cứu của một số công trình khoa học riêng biệt
hoặc trong phạm vi tổng thể chung của một số công trình. Về hoạt động tham
gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân dân thì có khá nhiều các công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học, các luận án tiến sỹ, thạc sỹ đã nghiên
cứu, như: công trình Đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam và các tổ chức chính trị- xã hội ở nước ta hiện nay do Thang Văn Phúc
và Nguyễn Minh Phương chủ biên, HN. 2007; Đề tài khoa học cấp bộ "Những
căn cứ lý luận và thực tiễn sửa đổi Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam" do Giáo
sư Lưu Văn Đạt làm chủ nhiệm đề tài, HN. 7/2009 "Chuyên đề: Phát huy vai
trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hoạt động giám sát và phản biện xã
hội góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh do Nguyễn
Văn Pha là chủ nhiệm, HN. 8/2009; Luân văn thạc sỹ luật học “ Vai trò của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tham gia xây dựng và củng cố chính quyền nhân
dân trong giai đoạn hiện nay” của Phạm Thu Hương do PGS.TS Bùi Xuân
Đức hướng dẫn…
Đối với vai trò giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam cần thiết được nghiên cứu một cách tổng thể, trực tiếp riêng
biệt và chuyên sâu. Đặc biệt, trước yêu cầu của việc đổi mới hệ thống chính
trị trong đó có đổi mới tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và yêu cầu của thực tiễn đời sống chính trị xã hội đặt ra; thì việc tìm hiểu,
nghiên cứu một cách có hệ thống về vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
6. Đóng góp của luận văn
- Luận văn là một trong những công trình nghiên cứu một cách tương đối hệ
thống, chuyên sâu về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với
bộ máy nhà nước.
- Luận văn cũng góp phần đánh giá thực trạng công tác giám sát của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam đối với bộ máy nhà nước trong những năm gần đây.
- Luận văn đưa ra một số kiến nghị về phương hướng và giải pháp chủ yếu về
pháp lý, cơ chế, chính sách, phương thức hoạt động nhằm thúc đẩy vai trò
giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với bộ máy nhà nước; từ đó là
cơ sở đảm bảo cho công tác giám sát có hiệu quả, góp phần tăng cường hiệu
quả hoạt động của bộ máy nhà nước.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
Các phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp duy vật
biện chứng, duy vật lịch sử, luật học, phân tích - tổng hợp, logíc - lịch sử, so
sánh, đối chiếu để làm rõ các vấn đề cần nghiên cứu.
Ngoài ra, trong khi nghiên cứu, tác giả còn sử dụng phương pháp khai thác và
sử dụng các tư liệu qua thực tiễn công tác để hoàn chỉnh luận văn.
8. Nguồn tài liệu của luận văn
6
- Các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Ban cấp hành trung ương Đảng, Bộ
Chính trị và Ban Bí thư trung ương Đảng cộng sản Việt Nam từ Đại hội VI
đến Đại hội X.
- Hiến pháp, Luật thanh tra, Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các văn bản
quy phạm pháp luật khác có liên quan.
- Các báo cáo về công tác giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Qua một số sách báo, các bài viết của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam, của các học giả, nhà khoa học, nhà nghiên cứu .v.v.
9. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
7
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ GIÁM SÁT
CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
ĐỐI VỚI BỘ MÁY NHÀ NƢỚC
1.1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị và vai trò giám
sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với bộ máy nhà nƣớc
1.1.1. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong hệ thống chính trị
Ngày 18 tháng 11 năm 1930, Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Việt
Nam đã ra Chỉ thị thành lập Hội Phản đế Đồng minh – hình thức tổ chức đầu tiên
của Mặt trận dân tộc thống nhất để tập hợp lực lượng nhân dân làm cách mạng giải
phóng dân tộc. Từ đó đến nay, trong lịch sử cách mạng Việt Nam suốt chặng đường
80 năm không bao giờ vắng bóng tổ chức Mặt trận.
Trải qua các thời kỳ cách mạng, với những hình thức tổ chức và tên gọi khác
nhau, Mặt trận Dân tộc thống nhất Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đã có
những đóng góp to lớn vào thắng lợi vĩ đại của dân tộc, là một trong những
nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam là một hình thức tổ chức của Mặt trận Dân tộc thống nhất trong giai
đoạn hiện nay.
Thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng về công tác Mặt trận trong thời
kỳ phát triển đất nước, tháng 6 năm 1999 Quốc hội đã thông qua Luật Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam. Vị trí, vai trò, nhiệm vụ, nguyên tắc tổ chức hoạt
động, mối quan hệ giữa Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với các thành viên trong
hệ thống chính trị, quyền và trách nhiệm của Mặt trận, những bảo đảm để Mặt
trận hoạt động được quy định trong Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là
những vấn đề cơ bản về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hiện nay.
Tại khoản 1, Điều 1 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định: “Mặt trận Tổ
hội chủ nghĩa Việt Nam, sự quy định này xuất phát từ thực tiễn và yêu cầu
khách quan của sự nghiệp cách mạng, xuất phát từ thể chế chính trị: Việt Nam
ta là nước dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân. Đây còn là vấn đề lịch
sử, vấn đề truyền thống từ khi có Đảng cộng sản là có Mặt trận. Sau khi giành
được chính quyền, Đảng, chính quyền, Mặt trận là những bộ phận hợp thành
hệ thống chính trị. Tuy vai trò, vị trí, chức năng và phương thức hoạt động có
khác nhau nhưng đều có công cụ để thực hiện và phát huy quyền làm chủ của
nhân dân và cùng có chung một mục đích là phấn đấu xây dựng một nước
Việt Nam hoà bình, độc lập, thống nhất, dân chủ, giàu mạnh, có vị trí xứng
đáng trên trường quốc tế.
Vị trí của Mặt trận Tổ quốc trong hệ thống chính trị được quy định rõ: Với
Đảng, Mặt trận Tổ quốc do Đảng lãnh đạo; với chính quyền, Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân; với các đoàn thể
nhân dân, Mặt trận là nơi hiệp thương, phối hợp và thống nhất hành động của
các thành viên.
Mặt trận Tổ quốc được coi là một bộ phận cấu thành và có vai trò quan trọng
trong hệ thống chính trị Việt Nam, điều này phản ánh tính đặc thù, riêng biệt,
thể hiện tính sáng tạo, đặc sắc của cách mạng và đời sống chính trị xã hội
nước ta. Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không phải tự Mặt trận
khẳng định mà do chính nhân dân và lịch sử thừa nhận; đã được thể hiện
trong nhiều văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước.
Trong hệ thống chính trị nước ta, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có vai trò to lớn
trong việc củng cố và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, là trung tâm
trong việc đoàn kết các giai cấp, các tầng lớp, các giới, các tôn giáo .v.v. ở cả
trong và ngoài nước, góp phần tạo nên sự đồng thuận trong xã hội. Mặt trận là
nơi trực tiếp để nhân dân phản ánh tâm tư, nguyện vọng của mình, là cầu nối
giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Đồng thời, Mặt trận còn tích cực tuyên
truyền và động viên nhân dân phát huy quyền làm chủ, hăng hái tham gia các
9
Mặt trận sẽ là nhân tố quan trọng để thực hiện thành công.
Trong quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước, Đảng ta luôn coi trọng vai trò
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong việc tập hợp, xây dựng phát huy sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tham gia xây dựng và củng cố chính
quyền nhân dân, trong đó có vai trò giám sát, Nghị quyết Đại hội X của Đảng
nêu rõ "Hoạt động của Đảng và Nhà nước phải chịu sự giám sát của nhân
dân"[6]. Giám sát bộ máy nhà nước vừa là quyền, vừa là nhiệm vụ quan trọng
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Thực hiện tốt quyền và trách nhiệm này
chính là góp phần củng cố và bảo vệ chính quyền nhân dân, củng cố và bảo vệ
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam thể hiện tiếng nói của nhân dân, nhân dân thực hiện quyền giám sát trực
10
tiếp hoạt động của các cơ quan nhà nước, cán bộ, viên chức nhà nước, đồng
thời, nhân dân còn thông qua Mặt trận và các đoàn thể để thực hiện quyền
giám sát của mình.
1.1.2. Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với bộ máy nhà
nước
1.1.2.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giám sát nhân dân
Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định nước ta là dân chủ; bao nhiêu lợi ích đều vì
dân; bao nhiêu quyền hạn đều của dân. Công việc đổi mới, xây dựng là trách
nhiệm của dân. Chính quyền từ xã đến Chính phủ Trung ương do dân cử ra,
đoàn thể từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên. Nói tóm lại, quyền hành
và lực lượng đều ở nơi dân.
Mặc dù Chủ tịch Hồ Chí Minh không nói trực tiếp về quyền giám sát của
nhân dân đối với chính quyền. Song, Người đã khẳng định hệ thống chính
quyền từ xã đến trung ương đều do dân cử ra, tức là chính quyền của nhân
dân, bao gồm những người có đức, có tài được nhân dân cử ra để đại diện cho
mình thực thi quyền lực của nhân dân, nếu người đại diện đó không còn xứng
đáng với sự tín nhiệm của nhân dân thì nhân dân có quyền bãi nhiệm. Nhưng
chính sách và quyết định của Đảng, kể công tác tổ chức và cán bộ.
1.1.2.2. Cơ sở pháp lý về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
- Điều 9 Hiến pháp năm 1992 quy định: "Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ
chức thành viên là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Mặt trận phát
huy truyền thống đại đoàn kết toàn dân, tham gia xây dựng và củng cố chính
quyền nhân dân, động viên nhân dân thực hiện quyền làm chủ, nghiêm chỉnh
thi hành Hiến pháp và pháp luật, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước,
đại biểu dân cư và cán bộ, viên chức nhà nước" [14].
- Điều 12 Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam quy định "hoạt động giám sát của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát mang tính nhân dân, hỗ trợ cho công
tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước, nhằm góp phần xây dựng và
bảo vệ Nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch vững mạnh,
hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân
dân”[17].
Thực hiện tốt quyền và trách nhiệm này chính là góp phần củng cố và bảo vệ
chính quyền nhân dân, củng cố và bảo vệ Nhà nước pháp quyền xã hội chủ
nghĩa Việt Nam. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thể hiện tiếng nói của nhân dân,
nhân dân thực hiện quyền giám sát trực tiếp hoạt động của các cơ quan nhà
nước, cán bộ, viên chức nhà nước, còn thông qua Mặt trận và các đoàn thể để
thực hiện quyền giám sát của mình.
Sau Hiến pháp năm 1992, trong nhiều văn bản pháp luật như Luật khiếu nại,
tố cáo; Luật phòng, chống tham nhũng; Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng
phí và nhiều đạo luật, pháp lệnh khác có liên quan đến quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân; đến tổ chức bộ máy nhà nước; đến quyền và trách nhiệm
của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đều dành riêng một chương hoặc một điều để
quy định về nhiệm vụ giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam. Như vậy có
thể nói Nhà nước đã từng thể chế hoá quyền giám sát của Mặt trận trên nhiều
lĩnh vực.
1.2 Khái niệm, mục đích, tính chất giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam.
Giám sát không chỉ đơn thuần là sự quan sát một cách thụ động, mà giám sát
là sự chủ động của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người trong mối quan hệ với
đối tượng giám sát.
Trong cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của
Đảng Cộng Sản Việt Nam nêu ra như sau: “Giám sát là theo dõi, kiểm tra,
phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức, cộng đồng người đối với cá nhân,
tổ chức, cộng đồng khác trong các lĩnh vực hoạt động kinh tế - xã hội, trong
việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan điểm của Đảng, chính
sách của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân, của các tổ chức
chính trị xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý đối với cá
nhân, tổ chức có những hành vi sai trái”[7].
Vậy, có thể định nghĩa: "Giám sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang
tính chủ động, thường xuyên, liên tục và sẵn sàng tác động bằng các biện
pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của đối tượng chịu sự giám sát đi
vào đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu quả đã được xác
định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh".
Qua những khái niệm trên có thể nhận thấy, quá trình thực hiện chức năng giám
sát bao gồm ba giai đoạn: giai đoạn xác nhận, tức là xác định trạng thái thực tế
của vụ việc; giai đoạn phân tích, tức là đối chiếu tình trạng thực tế đã được đưa
ra và đánh giá các sai lệch đã có; giai đoạn soạn thảo các biện pháp nhằm cải
13
thiện và chỉnh sửa quá trình quản lý, đưa ra các biện pháp để thực hiện chúng.
Việc phân tích khái niệm sẽ cho ta thấy cơ cấu bên trong của chức năng giám
sát, giúp chúng ta làm sáng tỏ một cách sâu sắc hơn nội dung, chức năng giám
sát.
Tuy cách diễn đạt có thể không đồng nhất, những giám sát đều có một số đặc
trưng chủ yếu sau đây:
- Giám sát là hành vi của chủ thể biểu hiện qua theo dõi, quan sát, xem xét,
nhận định về việc làm của đối tượng bị giám sát.
do công dân trực tiếp thực hiện.
Giám sát do các cơ quan nhà nước thực hiện đối với tổ chức và hoạt động của bộ
máy nhà nước được gọi là giám sát Nhà nước; giám sát do các tổ chức chính trị,
14
tổ chức chính trị xã hội, tổ chức xã hội và công dân trực tiếp thực hiện được gọi
là giám sát của xã hội hoặc giám sát của nhân dân.
Vậy, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam không mang tính quyền lực, là
giám sát mang tính nhân dân. Mặt trận là nơi thể hiện cho ý chí và nguyện
vọng của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, vận động nhân dân
giám sát, tham gia giám sát hoặc độc lập giám sát theo nhiệm vụ, quyền hạn
do pháp luật quy định với cơ chế là “theo dõi, phát hiện, kiến nghị” cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xem xét, giải quyết và giám sát việc giải quyết kiến
nghị đó.
1.2.2 Mục đích giám sát
Mục đích của giám sát nói chung là xem xét việc làm của đối tượng bị giám
sát có đúng với những điều quy định, những định hướng đã đặt ra hay không
để từ đó có những biện pháp xử lý nhằm khắc phục những sai sót.
Theo Luật Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thì hoạt động giám sát của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam với mục đích là “hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra,
thanh tra của Nhà nước nhằm góp phần xây dựng và củng cố chính quyền
nhân dân, làm cho bộ máy nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh,hoạt
động ngày càng có hiệu lực, hiệu quả”[17] để quản lý tốt mọi mặt của đời
sống xã hội theo pháp luật Nhà nước, thể hiện được quyền lực của nhân dân;
bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân dân. Cần tránh khuynh hướng
lệch lạc cho rằng giám sát chỉ đi tìm những khuyết điểm, sai sót, những việc
làm sai trái của cơ quan nhà nước, cán bộ công chức nhà nước, đại biểu dân cử.
1.2.3 Tính chất của giám sát
Về tính chất, hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là giám sát
xã hội, mang tính nhân dân của một tổ chức nhân dân, có tác dụng hỗ trợ cho
dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có những nhiệm vụ và quyền
hạn được quy định tại Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân.
1.3.2 Cán bộ, công chức nhà nước bao gồm:
- Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức
vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam,
Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương (gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố
thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân
sách nhà nước.
- Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan,
đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân
mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo,
quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà
nước, tổ chức chính trị - xã hội (gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập),
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức
trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được
bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp
luật.
- Cán bộ xã, phường, thị trấn (gọi chung là cấp xã) là công dân Việt Nam,
được bầu cử giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thường trực Hội đồng nhân
dân, Ủy ban nhân dân, Bí thư, Phó Bí thư Đảng ủy, người đứng đầu tổ chức
chính trị - xã hội; công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng
giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Ủy ban nhân dân cấp xã,
trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
16
1.3.3 Đại biểu dân cử là những người do dân bầu ra theo nhiệm kỳ,
Thường vụ Quốc hội). Tham gia với Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ,
Văn phòng Chủ tịch nước, với Hội đồng nhân dân hoặc Uỷ ban nhân dân
trong các đoàn kiểm tra, giám sát theo chương trình hàng quý, hàng năm,
hoặc giám sát, kiểm tra vụ việc nào đó theo quyết định của người đứng đầu cơ
quan nhà nước Trung ương, địa phương. Thông qua việc tổ chức các phong
trào, các cuộc vận động nhân dân như: phong trào xoá đói giảm nghèo, giúp
nhau làm kinh tế, đền ơn đáp nghĩa, dân số kế hoạch hoá gia đình v v Cuộc
vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” mà
phát hiện những vi phạm trong việc thực hiện pháp luật.
17
- Thông qua việc thực hiện các nhiệm vụ do pháp luật quy định như: tiếp dân,
xử lý đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Tham gia giải quyết khiếu nại tố
cáo mà phát hiện những vi phạm trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo của
người, cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
* Ở địa phương:
- Thông qua báo cáo của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Viện kiểm sát
nhân dân, Toà án nhân dân tại các kỳ họp thường lệ của Hội đồng nhân dân,
hoặc khi nhận được các thông báo từ phía các cơ quan nhà nước, nhất là việc
thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn. Khi phát hiện có vi phạm, Ban
Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc kiến nghị cơ quan nhà nước xem xét,
giải quyết và trả lời những kiến nghị và giám sát việc trả lời kiến nghị đó.
- Giám sát thông qua việc cử đại diện của Mặt trận tham gia các Hội đồng
hoặc Ban chỉ đạo ở địa phương, đây là hoạt động trực tiếp giám sát hoạt động
của cơ quan nhà nước trên một số công việc cụ thể. Mặt trận có cơ hội góp ý
trực tiếp trong quá trình hoạt động của Hội đồng, Ban chỉ đạo.
- Giám sát thông qua việc trực tiếp tổ chức, chỉ đạo hoạt động của Ban thanh
tra nhân dân ở xã, phường, thị trấn theo pháp luật Thanh tra và Pháp lệnh thực
hiện dân chủ ở cấp xã.
- Giám sát thông qua theo dõi, nhận xét hoạt động hàng năm của đại biểu dân
Quy chế, trong đó quy định rõ mục đích giám sát, nguyên tắc giám sát, đối
tượng giám sát, quyền trách nhiệm của chủ thể giám sát và đối tượng bị giám
sát, nội dung giám sát, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức khi trả lời kiến nghị
giám sát.
Đây là văn bản pháp luật quy định cơ chế cụ thể giám sát cán bộ, công chức,
đảng viên ở khu dân cư của nhân dân và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát cán bộ, công chức còn được quy định cụ
thể trong Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn với hình thức lấy
phiếu tín nhiệm các chức danh chủ chốt do Hội đồng nhân dân cấp xã bầu, đó
là Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân, Chủ tịch Ủy
ban nhân dân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân do Ban Thường trực Uỷ ban
Mặt trận Tổ quốc cấp xã chủ trì tổ chức việc lấy phiếu tín nhiệm. Giám sát
cán bộ, công chức theo quy định của Luật phòng chống tham nhũng; Luật
thực hành tiệt kiệm, chống lãng phí.
1.4.3 Giám sát hoạt động của đại biểu dân cử
1.4.3.1 Nội dung giám sát
Nội dung giám sát hoạt động của đại biểu dân cử, mà trước hết là đại biểu Hội
đồng nhân dân cùng cấp (Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân
dân và Quy chế hoạt động của Hội đồng nhân dân) bao gồm: giám sát tiêu
chuẩn đại biểu và việc thực hiện nhiệm vụ của đại biểu Hội đồng nhân dân, cụ
thể là:
- Có phẩm chất đạo đức tốt, gương mẫu chấp hành chính sách pháp luật của
Nhà nước, tuyên truyền, vận động gia đình và nhân dân thực hiện chính sách,
pháp luật.
- Việc tham dự đầy đủ các kỳ họp, các phiên họp của Hội đồng nhân dân,
tham gia thảo luận và biểu quyết các vấn đề thuộc nhiệm vụ quyền hạn của
Hội đồng nhân dân.
- Việc đại biểu Hội đồng nhân dân phải liên hệ chặt chẽ với cử tri bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của cử tri.
Uỷ ban nhân dân, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp trên trực
tiếp và tổ chức đảng có thẩm quyền quản lý người được lấy phiếu tín nhiệm
để xem xét, quyết định theo thẩm quyền. Đối với đại biểu hoạt động xuất sắc
thì đề nghị Nhà nước hoặc Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc khen thưởng.
Có thể khẳng định rằng: giám sát của Mặt trận Tổ quốc đối với hoạt động của
các cơ quan nhà nước là hình thức giám sát đặc thù ở nước ta; qua thực tiễn
kiểm nghiệm đã khẳng định hình thức giám sát này đã và đang đóng vai trò
quan trọng trong việc bảo đảm thực thi quyền lực Nhà nước của nhân dân. 20
Chƣơng 2
THỰC TRẠNG VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM ĐỐI VỚI BỘ MÁY NHÀ NƢỚC
Với trách nhiệm và quyền hạn của mình đã được quy định trong những văn
bản quy phạm pháp luật, trong những năm qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã
tích cực thực hiện hoạt động giám sát và động viên nhân dân thực hiện quyền
giám sát đối với bộ máy nhà nước, cụ thể là giám sát hoạt động của cơ quan
nhà nước, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức nhà nước theo quy
định của pháp luật như: giám sát thông qua việc lấy phiếu tín nhiệm các chức
danh chủ chốt do Hội đồng nhân dân bầu; thông qua việc chỉ đạo hoạt động
giám sát của Ban thanh tra nhân dân, Ban giám sát đầu tư cộng đồng; thông
qua việc tiếp dân và tham gia giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân; thông
qua việc thực hiện quy chế Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động
của cán bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư v v. Hoạt động giám sát của
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thời gian qua đã đạt được một số kết quả nhất
định, có nhiều nguyên nhân trong đó có việc quan trọng là Nhà nước đã từng
bước thể chế hóa quan điểm của Đảng về vai trò giám sát của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và nhân dân trong các văn bản pháp luật, nhất là đối với cấp
các cấp. Trên cơ sở kết quả hội nghị hiệp thương này, Ban Thường trực Uỷ
ban Mặt trận Tổ quốc cấp tổ chức hiệp thương gửi văn bản phân bổ số lượng
người ra ứng cử của các cơ quan, tổ chức, đơn vị, đảm bảo số lượng người
giới thiệu ứng cử phải nhiều hơn số đại biểu được bầu của cơ quan, tổ chức,
đơn vị đó, nhằm có số dư cần thiết ở mỗi đơn vị bầu cử theo quy định của
pháp luật về bầu cử. Sau khi nhận được danh sách những người ứng cử đại
biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân do cơ quan, tổ chức, đơn vị gửi
đến, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc các cấp tiến hành tổ chức hội
nghị hiệp thương lần thứ hai.
Hội nghị hiệp thương lần thứ hai thỏa thuận danh sách sơ bộ những
người ứng cử và gửi đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc xã, phường, thị trấn nơi
người ứng cử cư trú thường xuyên để tổ chức hội nghị lấy ý kiến nhận xét và
tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đối với những người ứng cử (bao gồm những
người được cơ quan, tổ chức, đơn vị giới thiệu và những người tự ứng cử).
Quá trình tổ chức hội nghị cử tri nơi cư trú của những người ứng cử
nếu có ý kiến, kiến nghị hoặc tố cáo đối với người ứng cử nào đó thì Ban
Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tổ chức hiệp thương lập danh sách
gửi đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quản lý người ứng cử đó
phải xác minh rõ đúng sai và gửi đến Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tổ chức
hiệp thương.
Sau khi nhận được văn bản xác minh của cơ quan, tổ chức, đơn vị có
thẩm quyền đối với người ứng cử, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc
cấp tổ chức hiệp thương tiến hành tổ chức hội nghị hiệp thương lần thứ ba.
Hội nghị hiệp thương lần thứ ba thỏa thuận lập danh sách chính thức
những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và gửi
ngay đến Hội đồng bầu cử để Hội đồng bầu cử xem xét phân bổ người ứng cử
về các đơn vị bầu cử, khu vực bỏ phiếu và công bố danh sách người ứng cử ở
từng đơn vị bầu cử.
Kết thúc hội nghị hiệp thương lần thứ ba lập danh sách chính thức
những người ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp
người (trong đó có 640 người có đơn tố cáo sau khi được xác minh là đúng,
2.069 người không được cử tri nơi công tác, nơi cư trú tín nhiệm). Trong cuộc
bầu cử địa biểu Quốc hội khoá XII năm 2007, tất cả những người ứng cử Đại
biểu Quốc hội sau khi Mặt trận Tổ quốc tổ chức lấy ý kiến cử tri nơi cư trú
của người ứng cử mà có số phiếu tín nhiệm thấp đều không đưa vào danh
sách hiệp thương chính thức (loại khỏi danh sách ứng cử viên Đại biểu Quốc
hội).
Ngoài ra Ủy ban Mặt trận Tổ quốc còn cử đại diện tham gia các đoàn giám sát
của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng nhân dân hoặc tự mình tổ chức
các đoàn giám sát thực hiện các công việc bầu cử như: giám sát việc giải
quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của cử tri trong cuộc bầu cử; giám sát thủ tục,
trình tự tổ chức bỏ phiếu, kiểm phiếu, bầu lại, bầu thêm và những công việc
liên quan đến bầu cử theo quy định của Luật bầu cử và hướng dẫn của Ủy ban
Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam; chỉ đạo hoạt động của Ban Thanh tra nhân dân giám sát thực hiện các
quy trình bầu cử, công tác hiệp thương của Mặt trận Tổ quốc cùng cấp trong
bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân.
23
Như vậy, có thể thấy trong quá trình tổ chức lấy ý kiến nhận xét và tín nhiệm
của cử tri nơi cư trú đối với những người được giới thiệu ứng cử đại biểu
Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân và quá trình giám sát bầu cử, Mặt trận
Tổ quốc kiên quyết loại khỏi danh sách hiệp thương đối với những người đã
phát hiện có vi phạm chính sách, pháp luật, tham nhũng, vi phạm đạo đức, lối
sống và những người không được cử tri nơi công tác, nơi cư trú tín nhiệm.
2.1.2 Giám sát trong công tác tham gia tuyển chọn Thẩm phán, Kiểm sát
viên.
* Tham gia tuyển chọn thẩm phán Toà án
- Đại diện Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là Ủy viên Hội
đồng tuyển chọn thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, thẩm phán Toà án Quân
24
UBTVQH11 ngày 04/10/2002). Hội đồng này có 5 thành viên bao gồm: Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao làm Chủ tịch; Đại diện lãnh đạo Bộ
quốc phòng; Bộ nội vụ; Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và
Hội luật gia Việt Nam.
- Đại diện Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là uỷ viên
Hội đồng tuyển chọn kiểm sát viên Viện kiểm sát Quân sự cấp Quân khu,
kiểm sát viên Viện kiểm sát khu vực. Danh sách ủy viên Hội đồng này do
Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Viện
trưởng Viện kiểm sát Quân sự Trung ương (điều 25 Pháp lệnh về kiểm sát
viên của Uỷ ban thường vụ Quốc hội số 03/2002/PL-UBTVQH11, ngày
04/10/2002). Hội đồng này có 5 thành viên bao gồm: Viện trưởng Viện kiểm sát
Quân sự Trung ương làm Chủ tịch; Đại diện lãnh đạo Bộ quốc phòng; Bộ nội
vụ; Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội luật gia Việt Nam.
- Đại diện Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh là uỷ viên Hội
đồng tuyển chọn kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân cấp tỉnh; kiểm sát viên
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện. Danh sách uỷ viên Hội đồng này do Viện
trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao quyết định theo đề nghị của Chủ tịch
Hội đồng nhân dân cấp tỉnh (điều 24 Pháp lệnh của Uỷ ban Thường vụ Quốc
hội về kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân số 03/2002/PL-UBTVQH11
ngày 04/10/2002). Hội đồng này có 5 thành viên bao gồm: Chủ tịch hoặc Phó
Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh làm Chủ tịch; Viện trưởng Viện kiểm sát
nhân dân tỉnh; Đại diện Sở nội vụ; Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Hội
luật gia tỉnh.
Theo quy định của pháp luật thì thẩm phán Tòa án nhân dân, kiểm sát
viên Viện kiểm sát nhân dân các cấp là công chức nhà nước và thực hiện theo
chế độ bổ nhiệm, nhiệm kỳ là 5 năm thay cho chế độ bầu trước đây. Để cơ
quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền quyết định bổ nhiệm có cơ sở vững
chắc khi quyết định, pháp luật cho phép thành lập Hội đồng tuyển chọn thẩm
2.1.3 Giám sát trong công tác bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Hội thẩm nhân
dân
Theo quy định tại điều 129, điều 130 Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung năm 2001 và Luật tổ
chức Tòa án thì việc xét xử của Tòa án nhân dân có Hội thẩm nhân dân. Khi
xét xử Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán.
Điều 38 Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân quy định: “Hội
thẩm nhân dân Toà án nhân dân địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp
bầu theo sự giới thiệu của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp”. Như vậy, Hội
thẩm nhân dân là những công dân bình thường nhưng có đủ tiêu chuẩn theo
quy định của pháp luật, do Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh, cấp huyện lựa
chọn, giới thiệu để Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu và họ là những người
thay mặt nhân dân tham gia Hội đồng xét xử của Tòa án nhân dân các cấp ở
địa phương.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp có trách nhiệm giúp đỡ, hướng dẫn
và tạo điều kiện thuận lợi để Hội thẩm hoàn thành nhiệm vụ. Thông qua hoạt
động xét xử của Hội thẩm để Mặt trận Tổ quốc Việt Nam giám sát hoạt động
xét xử của Toà án nhân dân các cấp. Vì vậy, khi hiệp thương, lựa chọn giới
thiệu người để Hội đồng nhân dân bầu làm Hội thẩm, Uỷ ban Mặt trận Tổ
quốc cấp tỉnh, cấp huyện luôn xem xét kỹ lưỡng về tiêu chuẩn, về phẩm chất,
đạo đức, năng lực thực hiện nhiệm vụ và đặc biệt là bản lĩnh để Hội đồng
nhân dân bầu, xứng đáng là người đại diện cho nhân dân tham gia xét xử tại
Tòa án nhân dân, góp phần xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đảm
bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho bị cáo và đương sự.
2.2 Hoạt động giám sát trong việc xây dựng pháp luật và tổ chức thi hành
chính sách, pháp luật