Giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đối với các cơ quan hành chính Nhà nước từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN HIỂN

GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

UẬN V N TH C S

UẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN XUÂN HIỂN

GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: uật Hiến pháp và luật hành chính
Mã số: 60 38 01 02

UẬN V N TH C S


THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH......................................................35
2.1. Thực trạng về quyền và trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong
hoạt động giám sát cơ quan hành chính Nhà nước...........................................35
2.2. Thực trạng về quyền và trách nhiệm của cơ quan hành chính Nhà nước
trong việc phối hợp giám sát ............................................................................48
2.3. Nguyên nhân của kết quả đạt được và những tồn tại hạn chế ...................50
Chƣơng 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỂ PHÁT HUY VAI TRÒ GIÁM SÁT CỦA
MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM ĐỐI VỚI CÁC CƠ QUAN HÀNH
CHÍNH NHÀ NƢỚC ..............................................................................................58
3.1. Sự cần thiết phải phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam đối với các cơ quan hành chính Nhà nước ..............................................58
3.2. Một số giải pháp nhằm phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
đối với các cơ quan hành chính Nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh..........62
KẾT UẬN ..............................................................................................................73
DANH MỤC TÀI IỆU THAM KHẢO ...............................................................75


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

CT-XH

Chính trị - xã hội

GSĐTCCĐ

Giám sát đầu tư của cộng đồng

HĐND

Hội đồng nhân dân


Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Tại Điều 9 của Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 đã
khẳng định vai trò, địa vị của MTTQVN trong hệ thống chính trị của nước ta. Theo
quy định của Hiến pháp, MTTQVN là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự
nguyện của tổ chức chính trị, các tổ chức CT-XH, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu
biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định
cư ở nước ngoài. MTTQVN là cơ sở chính trị của chính quyền Nhân dân; đại diện,
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của Nhân dân; tập hợp, phát huy sức
mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện dân chủ, tăng cường đồng thuận xã hội;
giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, Nhà nước, hoạt động đối
ngoại Nhân dân góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Quyền giám sát, phản biện của người dân được thể hiện ở Hiến pháp năm
2013: người dân có quyền giám sát các cơ quan công quyền, giám sát cán bộ, công
chức, viên chức, các đại biểu dân cử; giám sát việc giải quyết đơn thư tố cáo, khiếu
nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Chủ tịch UBND xã, phường, thị trấn; giám sát
thực hiện quy chế dân chủ cơ sở... thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức CTXH. Trong đó MTTQ được xem như là cầu nối giữa Đảng, chính quyền với nhân
dân, đại diện và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của nhân dân, đồng thời
cũng là nơi tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện các quyền cơ bản của công
dân, được Hiến pháp quy định, nhất là quyền giám sát, phản biện.
Một số chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước nhất là ở cơ sở chưa được
tổ chức, thực hiện tốt, trong khi đó người dân chưa quan tâm giám sát, kiến nghị.
Ngoại trừ trường hợp bị vi phạm quyền và lợi ích của bản thân, gia đình thì họ mới
kiến nghị, khiếu nại đến các cơ quan Nhà nước yêu cầu giải quyết.
Vấn đề quan trọng là nhận thức của phần lớn người dân. Có nhiều người
chưa hiểu được mình có các quyền, trong đó có quyền giám sát, kiểm tra, kiến nghị,

Để người dân thực hiện tốt quyền giám sát, phản biện, Nhà nước cần sớm
ban hành cơ chế để Mặt trận Tổ quốc nói chung và nhân dân nói riêng thực hiện
quyền giám sát phản biện. Bên cạnh đó, cũng cần có cơ chế bảo vệ những người
dám giám sát, kiến nghị đấu tranh. Như vậy mới khuyến khích được người dân, để
2


người dân an tâm giám sát, kiến nghị xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền ngày
một hoàn thiện hơn.
Đảng và Nhà nước mong muốn Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể thực hiện
tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội. Muốn thực hiện được chức năng đó có hiệu
quả thiết thực, cần phải có cơ chế, tổ chức hệ thống Mặt trận Tổ quốc hợp lý, chặt
chẽ và có chế độ đãi ngộ phù hợp để khuyến khích người làm. Cụ thể là: Mỗi khu
phố có 1 Chi bộ, 1 Ban công tác Mặt trận, tập hợp các tổ chức: Tổ dân phố, Chi hội
Người cao tuổi, Chi hội Cựu chiến binh, Chi hội Phụ nữ, Đoàn thanh niên. Không
nên để nhiều chi bộ lãnh đạo một Ban công tác Mặt trận; Chi uỷ giới thiệu người để
nhân dân khu phố bầu vào chức Trưởng ban công tác Mặt trận khu phố. Người giữ
chức vụ này cũng được hưởng phụ cấp hàng tháng. Nhà nước cũng cần có quy định
về chức trách, nhiệm vụ, quyền hạn, quyền lợi của chức danh Trưởng ban công tác
Mặt trận khu phố.
Hội nghị Trung ương 10 (khóa XI) diễn ra vào tháng 01 năm 2015 đã tổng
kết 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt
Nam. Hội nghị khẳng định đất nước ta đã đạt được rất nhiều thành tựu to lớn trên
mọi lĩnh vực và dần thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu. Trong bối cảnh và xu thế phát
triển đó chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân
dân, vì nhân dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng là bước thay đổi mới trong tư duy
chính trị của Đảng. Với sự thay đổi này, Việt Nam bước vào thời kỳ phát triển mới
về chất, đây là một nhà nước dân chủ và là một nền dân chủ kiểu mới. Trong quá
trình đổi mới, với xu thế hội nhập Việt Nam rất cần sự cải cách, sự thay đổi về tư
duy, nhận thức dưới sự lãnh đạo của Đảng nhằm xóa bỏ tệ quan liêu, tham nhũng,

nhân dân giám sát các cơ quan dân cử ở nước ta hiện nay” (do TS Đặng Đình Tân
– Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh làm chủ nhiệm).
- Sách chuyên khảo: “Tổ chức và hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát của
một số nước trên thế giới”, sách tham khảo (2001) Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội;
“Giám sát và cơ chế giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước của Đào Trí Úc và
Võ Khánh Vinh (đồng chủ biên) (2003), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội; “Sự hạn
chế quyền lực Nhà nước” của PGS.TS Nguyễn Đăng Dung (2005), “Cơ chế giám

4


sát của nhân dân đối với hoạt động của bộ máy Đảng và Nhà nước – Một số vấn đề
lý luận và thực tiễn” của GS.TSKH Đào Trí Úc chủ biên (2010).
- Luận án Tiến sĩ và luận văn Thạc sĩ: Luận án Tiến sĩ Chính trị học: “Thực
hiện chức năng giám sát và phản biện xã hội của MTTQVN hiện nay”, của Nguyễn
Thọ Ánh (2010); Luận văn Thạc sĩ Luật: Luận văn Thạc sĩ Chính trị học: “Thực
hiện chức năng giám sát của MTTQVN đối với hoạt động của các cơ quan nhà
nước ở nước ta hiện nay” của Nguyễn Văn Thanh (2003);
Bên cạnh đó có một số bài viết đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành như:
“Quan niệm về giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước và các cơ chế thực hiện
giám sát” của GS.TSKH Đào Trí Úc, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 6/2003; “Về
giám sát việc thực hiện quyền lực nhà nước” của PGS.TS Võ Khánh Vinh, Tạp chí
Nhà nước và pháp luật số 6/2003; “Giám sát xã hội và phản biện xã hội” của TS
Hoàng Thị Ngân, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 9(269)/2010; “Tăng cường hoạt
động giám sát của MTTQVN Việt Nam, của các đoàn thể nhân dân và nhân dân đối
với Bộ máy nhà nước” của PGS.TS Bùi Xuân Đức, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp,
số 03/2004; “Phát huy vai trò của MTTQVN vận động nhân dân thực hiện giám sát
việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở” của Trần Thanh Bình, Tạp chí Nhà nước số
9/2003; “Phát huy vai trò của MTTQVN trong việc thực hiện giám sát đối với cán
bộ, công chức, đảng viên ở khu dân cư" của Đỗ Huy Thường, Tạp chí Mặt trận, số

Một là, nghiên cứu làm rõ khái niệm, nội dung, vai trò giám sát của
MTTQVN đối với các cơ quan hành chính Nhà nước.
Hai là, phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động giám sát của MTTQVN
Thành phố Hồ Chí Minh; làm rõ những hạn chế, nguyên nhân và những vấn đề đặt
ra cần phải giải quyết đối với các cơ quan hành chính Nhà nước.
Ba là, đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát
của MTTQVN đối với các cơ quan hành chính Nhà nước.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các cơ quan hành chính nhà nước, là
một phận cấu thành bộ máy nhà nước thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà

6


nước, thực hiện hoạt động chấp hành và điều hành trên mọi lĩnh vực đời sống xã
hội.
4.2. Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu việc giám sát của MTTQVN đối với các cơ quan hành chính
Nhà nước nhằm vào các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng quản lý hành chính
nhà nước, thực hiện việc chấp hành và điều hành trên các lĩnh vực đời sống xã hội
đối với phạm vi toàn địa bàn cấp tỉnh là Thành phố Hồ Chí Minh được nghiên cứu
qua việc giám sát của Ban TTND và Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng. Trên cơ
sở phân tích, đánh giá thực trạng giám sát của MTTQVN Thành phố Hồ Chí Minh
tác giả luận chứng quan điểm, giải pháp để phát huy việc giám sát của MTTQVN
Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm tới.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1 . Cơ sở lý luận
Luận văn đã sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về quyền



Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ Ý UẬN VỀ GIÁM SÁT CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC
VIỆT NAM ĐỐI VỚI CƠ QUAN HÀNH CHÍNH NHÀ NƢỚC
1.1. Khái niệm, tính chất, mục đích và nguyên tắc giám sát của Mặt trận
Tổ quốc Việt Nam
Trong hệ thống chính trị nước ta, theo quy định hiện hành thì Đảng, Nhà
nước và Mặt trận đều có vai trò giám sát theo vị trí, chức năng, nhiệm vụ của mỗi tổ
chức. Nhân dân vừa có quyền giám sát trực tiếp vừa giám sát thông qua MTTQVN
Việt Nam.
Trước hết cần phải xem xét khái niệm giám sát. Theo từ điển luật học: "Giám
sát là sự theo dõi, quan sát hoạt động mang tính chủ động, thường xuyên, liên tục
và sẵn sàng tác động bằng các biện pháp tích cực để buộc và hướng hoạt động của
đối tượng chịu sự giám sát đi đúng quỹ đạo, quy chế nhằm đạt được mục đích, hiệu
quả đã xác định từ trước, đảm bảo cho pháp luật được tuân theo nghiêm chỉnh".
Trong cuốn Tìm hiểu một số thuật ngữ trong văn kiện Đại hội X của Đảng
Cộng sản Việt Nam (NXB Chính trị Quốc gia, trang 184) nêu khái niệm giám sát
như sau: “Giám sát là theo dõi, kiểm tra, phát hiện, đánh giá của cá nhân, tổ chức
cộng đồng người đối với cá nhân, tổ chức, cộng đồng khác trong các lĩnh vực hoạt
động kinh tế - xã hội, trong việc thực hiện Hiến pháp, pháp luật, đường lối, quan
điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước, các quyền lợi, nghĩa vụ của công dân,
của các tổ chức chính trị - xã hội và kiến nghị phát huy ưu điểm, thành tựu, xử lý
đối với cá nhân, tổ chức có những hành vi sai trái ”.
Qua thực tiễn hoạt động, giám sát của MTTQVN Việt Nam, các tổ chức CTXH và nhân dân được hiểu là việc xem xét, phát hiện, kiến nghị với cơ quan tổ chức
Đảng, Nhà nước có thẩm quyền xem xét, xử lý.
TS Hoàng Thị Ngân cho rằng, "“Giám sát” và “phản biện” là những khái
niệm đã từng được cắt nghĩa dưới giác độ ngôn ngữ. Cùng với sự hiện diện trong
các Từ điển tiếng Việt, giám sát còn có mặt trong các Từ điển giải thích thuật ngữ
khoa học chuyên ngành và được chú ý với tính chất là một khái niệm mang tính

phát từ yêu cầu, nguyện vọng của Nhân dân; thực hiện công khai, minh bạch, không
chồng chéo; không làm cản trở hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được giám
10


sát. Trong hoạt động giám sát của MTTQVN phải bảo đảm những nguyên tắc về sự
lãnh đạo của Đảng, đúng pháp luật, thực sự khách quan, mang tính xây dựng cùng
hướng tới mục đích của giám sát là hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra
của Nhà nước và của Đảng, nhằm góp phần xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng và
bảo vệ Nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Đại hội XI của Đảng đã chỉ rõ việc đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác kiểm
tra, giám sát: "Các cấp uỷ, tổ chức đảng phải nâng cao tinh thần trách nhiệm, thực
hiện tốt hơn nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo Điều lệ Đảng. Tập trung kiểm tra,
giám sát việc chấp hành Điều lệ, nghị quyết, chỉ thị, quy định của Đảng, luật pháp,
chính sách của Nhà nước; việc chấp hành nguyên tắc tập trung dân chủ, quy chế
làm việc, chế độ công tác, thực hiện dân chủ trong Đảng, giữ gìn đoàn kết nội bộ;
việc thực hành tiết kiệm, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, rèn luyện phẩm chất
đạo đức, lối sống của cán bộ, đảng viên; việc chỉ đạo và tổ chức thực hiện cải cách
hành chính, cải cách tư pháp; việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, nhất là
những vụ án nghiêm trọng, gây bức xúc trong dư luận xã hội; kiểm tra, giám sát
việc tuyển dụng, quy hoạch, luân chuyển, đào tạo, đề bạt, bố trí, sử dụng cán bộ.
Chú trọng kiểm tra, giám sát người đứng đầu tổ chức đảng, nhà nước, mặt trận và
các đoàn thể nhân dân các cấp trong việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao.
Công tác kiểm tra, giám sát của Đảng phải phối hợp chặt chẽ với công tác thanh
tra của Chính phủ, công tác giám sát của Quốc hội và các cơ quan hành pháp, tư
pháp, MTTQVN và các đoàn thể nhân dân theo đúng chức năng và thẩm quyền của
mỗi cơ quan.
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ và hoạt động của hệ thống uỷ ban kiểm
tra các cấp. Hoàn thiện quy chế phối hợp giữa uỷ ban kiểm tra đảng với các tổ chức
đảng và các cơ quan bảo vệ pháp luật trong việc xem xét khiếu nại, tố cáo và xử lý

phát hiện, đánh giá hoạt động của đối tượng giám sát.
Thứ hai, mục đích của giám sát là xem xét, đánh giá việc làm, hoạt động của
đối tượng giám sát có thực hiện đúng những điều quy định, những định hướng đã
đặt ra hay không để cho phép kịp thời có những biện pháp xử lý nhằm khắc phục sai
sót.
Thứ ba, giám sát được tiến hành chủ động, thường xuyên, liên tục trong suốt
quá trình hoạt động của đối tượng giám sát.
13


Thứ tư, sự tác động qua lại giữa chủ thể giám sát và đối tượng bị giám sát có
mối quan hệ pháp lý, gắn quyền và trách nhiệm của mỗi bên. Khách thể giám sát mà
các bên trong quan hệ giám sát cùng hướng tới là trạng thái hoạt động bình thường,
thông suốt, đúng pháp luật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân. Chủ thể giám sát phải
là “khách quan, bên ngoài” độc lập tương đối với đối tượng giám sát.
Thứ năm, giám sát bảo đảm cho cán bộ, công chức, đảng viên luôn kiên định
về lập trường chính trị, có trách nhiệm công vụ, phẩm chất cách mạng tốt đẹp, ngăn
ngừa những biểu hiện suy thoái về tư tưởng, đạo đức, lối sống và trong thực thi
nhiệm vụ được giao.
Thứ sáu, giám sát là công việc khó khăn, phức tạp đòi hỏi chủ thể giám sát
phải có bản lĩnh chính trị vững vàng, có quyết tâm cao, có kiến thức chuyên môn và
hiểu biết về luật pháp nhất định.
Trong hoạt động quản lý xã hội của Nhà nước, giám sát việc tuân theo Hiến
pháp và pháp luật là một khâu không thể thiếu, là một bộ phận không thể tách rời
của quyền lực nhà nước, bởi lẽ:
Một là, thông qua hoạt động giám sát, Nhà nước khẳng định được pháp luật
đã ban hành có phản ánh đúng thực tiễn hay không, có tính khả thi hay không từ đó
kịp thời bổ sung, sửa đổi hoặc huỷ bỏ những quy định của pháp luật không còn phù
hợp với thực tiễn của xã hội nữa.
Hai là, thông qua hoạt động giám sát, Nhà nước phát hiện được những cá

thiết chế chính trị và quyền lực của chúng ta đều tự đặt mình dưới sự giám sát của
nhân dân [63, tr. 35]. Khẳng định mọi quyền lực là thuộc về nhân dân, Chủ tịch Hồ
Chí Minh coi việc kiểm soát quyền lực trước hết là thuộc về nhân dân, đó là trách
nhiệm, nghĩa vụ và quyền lợi của người dân. Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa năm 1946 đã ghi rõ: “Tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân
dân Việt Nam” (Điều 1). Hiến pháp năm 1959 cũng xác định: “Tất cả quyền lực
trong nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đều thuộc về nhân dân” (Điều 4) và “Tất cả
các cơ quan Nhà nước đều phải dựa vào nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân,
lắng nghe ý kiến và chịu sự kiểm soát của nhân dân” (Điều 6). Hiến pháp năm 1980
quy định: “Tất cả các cơ quan Nhà nước và nhân viên Nhà nước phải hết lòng hết
sức phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự
15


giám sát của nhân dân” (Điều 8). Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm
2001 quy định rõ tính nhân dân của bộ máy nhà nước với cụm từ: “Nhà nước của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân” và “phải chịu sự giám sát của nhân dân; kiên
quyết đấu tranh chống mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền, tham nhũng”
(Điều 8).
Khái niệm giám sát của nhân dân được sử dụng để phân biệt với giám sát
mang tính quyền lực nhà nước và được coi là một chủ thể quan trọng của giám sát
xã hội. Thực tế ở nước ta, trong khoa học chính trị, pháp lý và các tài liệu, sách,
báo, tạp chí có cách hiểu khác nhau về giám sát xã hội. “Giám sát xã hội” với tính
chất là thuật ngữ được sử dụng tại văn kiện Đại hội X của Đảng được tiếp cận theo
hướng: Giám sát xã hội là giám sát của ba lực lượng cơ bản: Đảng Cộng sản Việt
Nam; các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp và các cá nhân, tổ chức của xã hội
giám sát lực lượng lãnh đạo chính trị, lực lượng thực hiện quyền lực của nhân dân,
cán bộ công chức, đảng viên và các thành viên của xã hội trong việc thực hiện Điều
lệ, đường lối của Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước và quyền làm chủ,
quyền con người của nhân dân. Trong đó, giám sát xã hội của “các cá nhân, tổ chức

ở nước ta. Để thực hiện vai trò của yếu tố “kiềm chế” nhằm kiểm soát quyền lực,
tránh xu hướng lạm quyền, vi phạm nền dân chủ, đòi hỏi MTTQVN phải thực hiện
tốt chức năng giám sát và phản biện xã hội của mình.
Với những chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn được quy định cụ thể như vậy,
có thể khẳng định MTTQVN là hình thức tổ chức thích hợp nhất để thực hiện quyền
giám sát của nhân dân đối với hoạt động của các cơ quan nhà nước, đại biểu dân cử
và cán bộ, công chức nhà nước.
Theo Quy chế Giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
và các đoàn thể chính trị - xã hội (Ban hành kèm theo Quyết định số 217-QĐ/TW,
ngày 12-12-2013 của Bộ Chính trị) thì khái niệm “Giám sát” là việc theo dõi, phát
hiện, xem xét; đánh giá kiến nghị nhằm tác động đối với cơ quan, tổ chức và cán bộ,
đảng viên, đại biểu dân cử, công chức, viên chức nhà nước về việc thực hiện các
chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Tại Điều 2
Quy chế đã quy định về mục đích, tính chất của giám sát: Giám sát nhằm góp phần
17


xây dựng và thực hiện đúng các chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và
pháp luật của Nhà nước, các chương trình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an
ninh và đối ngoại; kịp thời phát hiện những sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến
nghị sửa đổi, bổ sung các chính sách cho phù hợp; phát hiện, phổ biến những nhân
tố mới, những mặt tích cực; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, góp phần xây
dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh.
Giám sát của MTTQVN được thực hiện theo những nguyên tắc sau: 1) Bảo
đảm sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật, Điều lệ Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam và Điều lệ các đoàn thể CT-XH; 2) Có sự phối hợp chặt chẽ giữa
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể CT-XH với các cơ quan, tổ chức có
liên quan; không làm trở ngại các hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân được
giám sát và phản biện xã hội; 3) Bảo đảm dân chủ, công khai, khách quan và mang
tính xây dựng; 4) Tôn trọng các ý kiến khác nhau, nhưng không trái với quyền và

tốt mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân, một mặt tránh nguy cơ tuỳ tiện, độc
đoán, quan liêu, hách dịch, cửa quyền..., chuyển dịch thái độ từ "cai trị" sang "phục
vụ" của cơ quan nhà nước; làm cho cán bộ, công chức, đảng viên, đại biểu dân cử
phải tôn trọng nhân dân, tận tuỵ phục vụ nhân dân, liên hệ chặt chẽ với nhân dân,
lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân; đồng thời nhân dân - những
người làm chủ xã hội phải có ý thức tôn trọng và tuân thủ pháp luật.
Đơn cử về chế định giám sát của MTTQVN Việt Nam, tại khoản 1, Điều 12
Luật MTTQVN quy định: Hoạt động giám sát của MTTQVN là giám sát mang tính
nhân dân, hỗ trợ cho công tác giám sát, kiểm tra, thanh tra của Nhà nước, nhằm góp
phần xây dựng và bảo vệ Nhà nước Cộng hoà XHCN Việt Nam trong sạch, vững
mạnh, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của nhân
dân.
Tính nhân dân còn thể hiện rõ qua việc Mặt trận sử dụng các phương thức
thích hợp để vận động được đông đảo nhân dân tham gia giám sát, dựa vào tai, mắt
của nhân dân theo dõi, phát hiện và cung cấp thông tin, tư liệu rất cụ thể về những
hành vi trái pháp luật, trái đạo đức của cán bộ, đảng viên sống ở khu dân cư hoặc
trong quan hệ làm việc giữa công chức với người dân. Thông qua các hoạt động của
mình, MTTQVN tập hợp ý kiến, kiến nghị các tấng lớp nhân dân, các dân tộc, các
19


tôn giáo, các vị tiêu biểu là thành viên của Mặt trận; tập hợp kiến nghị của các tổ
chức thành viên, đó là kho trí tuệ to lớn trong Mặt trận để thực hiện giám sát xã hội.
Trong hoạt động giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tính nhân dân còn
thể hiện: Sau khi xem xét, đánh giá các sai sót, khuyết điểm, các hành vi vi phạm
pháp luật và đạo đức, Mặt trận kiến nghị khắc phục, sửa chữa, xử lý, nhằm bảo vệ
quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức bị xâm hại, bảo vệ sự
đúng đắn của chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.
1.2. Đối tƣợng, nội dung, phạm vi và hình thức giám sát của Mặt trận Tổ
quốc Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status