Pháp luật về hoạt động của Thừa phát lại từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ) - Pdf 46

HUỲNH HỮU NAM

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH HỮU NAM

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA PHÁT LẠI TỪ
THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH : LUẬT KINH TẾ

Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.01.07

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học:PGS.TS Dương Anh Sơn

KHÓA VI ĐỢT 2-2015

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

HUỲNH HỮU NAM

PHÁP LUẬT VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA PHÁT LẠI TỪ

1.1.2. Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến năm 1975.............. 7
1.1.3. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay .............................................................. 8
1.2. Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc hình thành Thừa phát lại.................... 8
1.2.1. Vấn đề công pháp và tư pháp .................................................................. 8
1.2.2. Kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội
chủ nghĩa và chế định Thừa phát lại: ................................................................ 9
1.2.3. Thừa phát lại và sự hội nhập cộng đồng thế giới và khu vực: .............. 10
1.2.4. Tiến trình tái lập tổ chức Thừa phát lại:................................................ 10
1.3. Khái niệm về Thừa phát lại ...................................................................... 12
1.4. Vai trò, nhiệm vụ, quyền hạn, trách nhiệm của tổ chức Thừa phát lại
trong hoạt động tư pháp hiện nay.................................................................... 13
1.4.1. Về vai trò của tổ chức Thừa phát lại ..................................................... 13
1.4.2. Nhiệm vụ của tổ chức Thừa phát lại ..................................................... 20
1.4.3. Quyền hạn của tổ chức Thừa phát lại ................................................... 21
1.4.4. Trách nhiệm của tổ chức Thừa phát lại................................................. 22
1.5. Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại của một số nước trên thế giới ....... 23
1.5.1. Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại ở Vương quốc Anh .................... 23
1.5.2. Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại ở Cộng hòa Pháp ....................... 24
1.5.3. Hoạt động của tổ chức Thừa phát lại ở Cộng hòa liên bang Đức ......... 26
Kết luận chương 1 ......................................................................................... 28


Chương 2: TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA THỪA PHÁT LẠI TẠI
VIỆT NAM..................................................................................................... 29
2.1. Tổ chức Thừa phát lại tại Việt Nam......................................................... 29
2.1.1. Văn phòng Thừa phát lại ....................................................................... 29
2.1.2. Tổ chức bộ máy của Văn phòng Thừa phát lại ..................................... 30
2.1.3. Đoàn Thừa phát lại ................................................................................ 31
2.1.4. Tiêu chuẩn để trở thành Thừa phát lại .................................................. 32
2.2. Các công việc mà Thừa phát lại được làm hiện nay: ............................... 33

1.Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây vấn đề xã hội hóa một số hoạt động tư pháp
nói chung và một số công việc thi hành án dân sự nói riêng nhằm góp phần
tăng cường hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan tư pháp được Đảng
và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Để đáp ứng nhu cầu hội nhập sâu rộng vào
nền kinh tế thế giới mà Việt Nam tham gia như: Tổ chức thương mại thế giới
(WTO), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), liên minh châu Âu
(EU), Hiệp định đối tác xuyên thái Bình Dương (TPP),... thì pháp luật của
nước ta cũng phải thay đổi, bổ sung để đáp ứng nhu cầu hội nhập, phù hợp
với thông lệ quốc tế. Khi hội nhập với nền kinh tế quốc tế, sẽ phát sinh rất
nhiều các tranh chấp dân sự cần phải có chứng cứ làm bằng chứng, nhằm bảo
vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng giữa các bên khi có tranh chấp xảy ra ở
Tòa án hoặc Trọng tài thương mại.
Thực tiễn trên thế giới thì Thừa phát lại đã có từ rất lâu và hiện diện ở
phần lớn các quốc gia trên thế giới.
Chế định Thừa phát lại được thực hiện thí điểm bắt đầu từ năm 2010 tại
Thành phố Hồ Chí Minh, sau đó mở rộng đến 12 tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung ương. Kết quả tổng kết thí điểm cho thấy, chế định Thừa phát lại có ý
nghĩa quan trọng, góp phần thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa hoạt động bổ
trợ tư pháp đã được đề ra tại Nghị quyết số 49 – NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm
2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, tạo tiền
đề giảm tải công việc, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan
Tòa án, cơ quan Thi hành án dân sự, góp phần thực hiện thành công Nghị
quyết 39 – NQ/TW ngày 17 tháng 4 năm 2015 của Bộ Chính trị về tinh giảm
biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Bên cạnh đó,
hoạt động của Thừa phát lại đã bổ sung nguồn chứng cứ, tạo thêm công cụ
1


pháp lý để người dân bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia

Thừa phát lại trên toàn quốc. Cụ thể đã triển khai các văn bản dành riêng cho
tổ chức này như: Nghị định 61/2009/NĐ – CP ngày 24 tháng 7 năm 2009 của
Chính phủ về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại
Thành phố Hồ Chí Minh, được sữa đổi bổ sung bởi Nghị định 135/2013/NĐ –
CP ngày 18 tháng 10 năm 2013, các Thông tư, Thông tư liên tịch của các Bộ,
ngành, văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của các cấp, các ngành có liên quan; ngoài
ra còn có các đề tài, luận văn nghiên cứu của thạc sĩ, tiến sĩ; các bài viết, tham
luận đăng trên các tạp chí chuyên ngành sẽ là nguồn tham khảo, hỗ trợ cho
việc thực hiện luận văn này.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài là làm rõ những vấn đề đặc
điểm pháp lý, thực trạng hoạt động, những mặt tích cực, hạn chế, các nguyên
nhân điều kiện,… của Thừa phát lại trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Trên cơ sở đó phân tích đánh giá các quy định của pháp luật, tìm ra những ưu
điểm, hạn chế của các quy định hiện hành, đề xuất, kiến nghị một số giải pháp
nhằm hoàn thiện cũng như nâng cao hiệu quả hoạt động Thừa phát lại trong
thời gian tới
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu về tình hình hoạt động chung của tổ chức Thừa
phát lại tại Việt Nam và tập trung nghiên cứu tình hình trên địa bàn thành phố
Hồ Chí Minh. Qua nghiên cứu các thực trạng, nguyên nhân, điều kiện làm hạn
chế sự phát triển của tổ chức Thừa phát lại, từ đó đề ra các giải pháp, khuyến
nghị cho công tác quản lý về tổ chức Thừa phát lại trên cả nước nói chung và
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh nói riêng.
Luận văn tập trung nghiên cứu với góc độ Luật kinh tế, trong đó tập
trung nghiên cứu lĩnh vực tống đạt văn bản, lập vi bằng, xác minh điều kiện
3


thi hành án và trực tiếp tổ chức thi hành bản án của Tòa án và cơ quan Thi

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
gồm 3 chương cụ thể như sau:
Chương 1. Khái quát chung về tổ chức thừa phát lại
Chương 2. Tổ chức và hoạt động của thừa phát lại tại Việt Nam
Chương 3. Thực trạng về hoạt động từ thực tiễn của tổ chức Thừa
phát lại tại thành phố Hồ Chí Minh

5


Chương 1.
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỔ CHỨC THỪA PHÁT LẠI
1.1. Sơ lược về lịch sử hình thành, phát triển của tổ chức Thừa phát
lại ở Việt Nam
1.1.1. Giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm 1945
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, khi Vua Tự Đức ký Hòa ước
ngày 05 tháng 6 năm 1862 nhượng cho Pháp 6 tỉnh Nam kỳ. Từ đó người
Pháp đã tổ chức bộ máy cai trị thực dân và áp dụng quy chế về thuộc địa đặt 6
tỉnh Nam kỳ là một hạt, còn mỗi tỉnh là một quận của nước Pháp. Sau đó,
bằng bản Hiệp ước ngày 06 tháng 6 năm 1884, Việt Nam trở thành một nước
bảo hộ của nước Pháp. Người Pháp đặt Thống sứ ở Bắc kỳ và Khâm sứ ở
Trung kỳ đại diện cho chính quyền Pháp. Ở Trung kỳ và Bắc kỳ, nhà Vua vẫn
giữ quyền nội trị. Quyền tư pháp vẫn thuộc về nhà Vua nhưng quyền đó đã bị
hạn chế bởi sự kiểm soát của đại diện chính quyền Pháp. Tuy nhiên, ở giai
đoạn này Bắc kỳ và Trung kỳ chưa có chế định Thừa phát lại. Những công
việc như trát đòi hầu tòa, truyền phiếu,… vẫn do các môn lại, môn vệ (các sứ
giả của Vua) thực hiện. Theo các tài liệu nghiên cứu, thuật ngữ “Thừa phát
lại”, văn bản chính thức đã được ghi nhận trong: “Bộ dân sự tố tụng Việt
Nam” ban hành kèm theo Nghị định ngày 16 tháng 3 năm 1910; Bộ dân luật
Trung kỳ năm 1936 – 1939; Bộ hộ sự, Thương sự tố tụng Trung kỳ năm 1942;

vụ Thừa phát lại và Ban Tư pháp xã làm nhiệm vụ thi hành án mà thay thế
vào đó là Thẩm phán huyện làm nhiệm vụ thi hành án dưới sự chỉ đạo trực
tiếp của Chánh án. Theo đó, tại điều 19 Sắc lệnh số 85/SL quy định: “Thẩm
phán huyện dưới sự kiểm soát của Biện lý có nhiệm vụ đem chấp hành các án
hình về khoản bồi thường hay bồi hoàn và các án hộ, mà chính tòa án huyện
hoặc tòa án trên đã tuyên. Việc phát mại bất động sản và phân phối tiền bán
7


được cũng do tòa án huyện phụ trách…”[6]. Còn ở miền địch tạm chiếm với
hai văn bản pháp lý đặc biệt quan trọng trong lĩnh vực thi hành án là Nghị
định số 111 ngày 04 tháng 02 năm 1950 về ấn định pháp quy Thừa phát lại do
chính quyền Bảo Đại ban hành và Bộ luật dân sự, thương sự tố tụng ngày 20
tháng 12 năm 1972 do chính quyền Nguyễn Văn Thiệu ban hành đã lấy lại
quyền hạn của Thừa phát lại.
1.1.3. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Sau 30 tháng 4 năm 1975, nước Việt Nam được hoàn toàn thống nhất
non sông thu về một mối, tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên toàn quốc.
Về kinh tế, Việt Nam duy trì chế độ tập trung bao cấp với thành phần kinh tế
chủ đạo là kinh tế Nhà nước, kinh tế tập thể. Việc phân chia sản phẩm theo
bình quân đầu người và do Nhà nước thực hiện. Do vậy, yếu tố “cạnh tranh”
theo đúng nghĩa của nó gần như bị triệt tiêu trong hầu hết các mặt của đời
sống xã hội. Các tranh chấp dân sự, kinh tế, thương mại,.. ít có cơ hội phát
sinh hoặc phát sinh không đáng kể và ít phức tạp. Nếu có phát sinh tranh chấp
thì phần lớn những trường hợp đó các cơ quan nhà nước đều can thiệp để nó
được giải quyết giống như là các quan hệ hành chính.
Trong điều kiện như vậy, việc tồn tại các tổ chức cung cấp dịch vụ pháp
lý cho xã hội như: luật sư, công chứng, trọng tài viên, giám định viên hay
thừa phát lại là không có nhiều ý nghĩa trong thời kỳ bấy giờ. Do vậy, có thể
nói sau năm 1975 đến thời điểm năm 1995 khi nước ta xây dựng dự thảo Bộ

xã hội chủ nghĩa và chế định Thừa phát lại:
Sự trở lại của chế định Thừa phát lại là một nhu cầu tất yếu của nền kinh
tế thị trường. Sự phát triển của các quan hệ kinh tế - xã hội trong giai đoạn
hiện nay đã tăng lên gấp bội và rất sôi động, do đó cũng làm nảy sinh nhiều
hơn các nhu cầu pháp lý cần phải đáp ứng.

9


Các nhu cầu pháp lý này đòi hỏi cần có một hệ thống pháp luật đầy đủ
điều chỉnh có hiệu quả các quan hệ xã hội, tạo mặt bằng an toàn pháp lý ổn
định cho sinh hoạt xã hội. Mặt khác, khi người dân có nhu cầu tự bảo vệ và
ngăn chặn các hành vi xâm hại đến lợi ích hợp pháp của bản thân mình, thì có
thể triệu dụng một tổ chức hoặc cá nhân bảo vệ cho mình, đó chính là Thừa
pháp lại. Thông qua hoạt động Thừa phát lại, người dân phát huy vai trò tích
cực và tự nguyện trong việc tuân thủ pháp luật, chủ động bảo vệ quyền lợi của
chính mình một cách kịp thời và hữu hiệu.
1.2.3. Thừa phát lại và sự hội nhập cộng đồng thế giới và khu vực:
Trong tiến trình hội nhập của Nhà nước ta, một lĩnh vực hợp tác không
thể thiếu được đó là lĩnh vực tư pháp. Sự tương đồng về kinh tế đòi hỏi phải
có một hệ thống pháp luật và hệ thống các cơ quan tư pháp và cơ quan bổ trợ
tư pháp thích ứng và hoàn chỉnh đi kèm. Hệ thống pháp luật và hệ thống các
cơ quan tư pháp đó chính là môi trường và phương tiện bảo đảm không những
chỉ lợi ích của các nhà kinh doanh mà còn cả lợi ích của tất cả cá nhân, tổ
chức khác trong nền kinh tế thị trường. Trong trào lưu đó, buộc chúng ta phải
hoàn thiện các cơ quan tư pháp để phục vụ cho công cuộc đổi mới của đất
nước. Cho nên sự ra đời của chế định Thừa phát lại là một mắt xích, một minh
chứng cho sự hoàn thiện đó.
1.2.4. Tiến trình tái lập tổ chức Thừa phát lại:
Nằm trong tiến trình cải cách tư pháp do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo,

hành đến ngày 01 tháng 7 năm 2012. Chính phủ tổng kết, đánh giá kết quả
thực hiện thí điểm và báo cáo quốc hội xem xét, quyết định”. [20]
Trên cơ sở quy định tại Nghị quyết 24/2008/QH12 của Quốc hội về thi
hành Luật thi hành án dân sự năm 2008, ngày 19 tháng 02 năm 2009, Thủ
tướng Chính phủ đã ký Quyết định 224/TTg về việc phê duyệt đề án “Thực
hiện thí điểm chế định Thừa phát lại tại Thành phố Hồ Chí Minh” và đến
11


ngày 24 tháng 7 năm 2009 Chính phủ đã ban hành Nghị định 61/2009/NĐ –
CP quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại thực hiện thí điểm tại
Thành phố Hồ Chí Minh. Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 09
tháng 9 năm 2009 và sau đó được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định
135/2013/NĐ – CP ngày 18 tháng 10 năm 2013.
1.3. Khái niệm về Thừa phát lại
Theo đánh giá của các nhà khoa học cũng như qua các tài liệu lịch sử thì
Thừa phát lại đã có ở nước ta từ thời phong kiến, còn gọi là “Mỏ”. Việc xét
xử do các quan lại ở địa phương tiến hành, những công việc của những
“người giúp việc”, các khâu chuẩn bị cho việc xử án, xét ở góc độ nào đó gần
giống với một số công việc mà Thừa phát lại hiện nay đang làm, chẳng hạn
như: truyền đạt các khẩu lệnh, công văn, giấy tờ, thông báo việc thi hành
án,… và như vậy nếu dựa vào tính chất, đặc thù công việc thì có thể nói Thừa
phát lại đã xuất hiện ở nước ta ngay từ thời kỳ đầu của Nhà nước Phong kiến.
Có thể nói Thừa phát lại là một nghề xuất hiện trên thế giới từ rất lâu và
hiện nay có khoảng 72 nước là thành viên của tổ chức Liên minh Thừa phát
lại quốc tế. Ở Việt Nam, dưới thời Pháp thuộc, miền Bắc gọi là “Chưởng
tòa”, miền Trung gọi là “Mõ tòa” còn miền Nam gọi là “Thừa phát lại”. Có
thể hiểu nghĩa Hán Việt của Thừa phát lại là: thừa của thừa hành; phát là
chuyển phát, báo phát; lại là làm việc của thư lại.
Thừa phát lại là chức danh được pháp luật công nhận, có nhiệm vụ thông

những người có liên quan đến vụ án mà Tòa án đang thụ lý.
Bên cạnh đó, việc tống đạt văn bản của Tòa án có thể được thực hiện
bằng nhiều cách như: có thể gửi trực tiếp cho đương sự và những người có
liên quan, hoặc gửi qua nhân viên dịch vụ bưu chính, gửi về Uỷ ban Nhân dân
xã, phường, niêm yết công khai,… hay có khi đương sự được Tòa án mời lên
Tòa để trực tiếp nhận các văn bản đó. Từ những việc trên có thể cho thấy
13


công việc tống đạt văn bản hiện nay của cơ quan Tòa án còn nhiều điểm rất
tùy tiện và sơ hở, việc tống đạt như vậy không những gây phiền hà cho người
dân mà còn làm mất nhiều thời gian của các cơ quan Nhà nước. Bên cạnh đó,
đối với những văn bản hay những quyết định quan trọng mà việc tống đạt văn
bản của cơ quan Tòa án không kịp thời, đúng thời gian đã quy định sẽ gây ảnh
hưởng không nhỏ đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự mà đáng lẽ ra
họ được hưởng. Từ thực trạng trên cho thấy, để việc tống đạt văn bản hiện
nay của cơ quan Tòa án được kịp thời, đúng thời gian đã được quy định và
nhằm giúp cho quá trình xét xử của Tòa án được thực hiện nhanh chóng thì
không ai khác, Thừa phát lại là người sẽ đáp ứng được những yêu cầu đó.
Theo bộ Luật tố tụng Dân sự năm 2015 tại khoản 5, điều 177 quy định:
“Người được cấp, tống đạt, thông báo là cá nhân thì văn bản tố tụng phải
được giao trực tiếp cho họ,…; Trường hợp người được cấp, tống đạt, thông
báo vắng mặt thì người thực hiện việc cấp, tống đạt, thông báo phải lập biên
bản và giao cho người thân thích có đủ năng lực hành vi dân sự cùng nơi cư
trú với họ hoặc tổ trưởng tổ dân phố, trưởng thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum,
sóc để thực hiện việc ký nhận hoặc điểm chỉ và yêu cầu người này cam kết
giao lại tận tay ngay cho người được cấp, tống đạt, thông báo...” [16]
Bên cạnh đó tại điều 178 bộ Luật Dân sự năm 2015 cũng có quy định:
“Trường hợp người được cấp, tống đạt hay thông báo là cơ quan, tổ chức thì
văn bản tố tụng phải được giao trực tiếp cho người đại diện theo pháp luật

và cơ quan Tòa án có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và
nghe họ trình bày về những vấn đề có liên quan đến vụ việc, trưng cầu, giám
định, tiến hành khám xét, khám nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo
quy định; yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, trình
bày những tình tiết làm sáng tỏ vụ án; Những người tham gia tố tụng, cơ quan,

15


tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào điều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình bày
những vấn đề có liên quan đến vụ án,…
Tuy nhiên, nếu chứng cứ trong các vụ án phải do các cơ quan tư pháp
trực tiếp thu thập thì việc này không những làm mất đi rất nhiều thời gian,
công sức của các cơ quan chức năng mà còn làm ảnh hưởng nhiều đến công
việc mà họ đang thực hiện.
Hiện nay, việc pháp luật tố tụng còn cho phép Thẩm phán tiến hành điều
tra, xác minh, tiếp xúc các bên đương sự để thu thập chứng cứ, điều này
không những vừa gây khó khăn, mất thời gian mà có khi còn tạo điều kiện
cho những tiêu cực phát sinh. Bởi vì, trong một số trường hợp Thẩm phán có
thể tiếp xúc riêng với các bên đương sự để tiến hành việc thu thập chứng cứ
và chứng cứ đó không được bên thứ ba làm chứng là điều dễ dẫn đến những
tiêu cực phát sinh, chẳng hạn như lời khai của đương sự không đúng sự thật
khách quan của vụ án hay việc đương sự hối lộ Thẩm phán để ghi nhận những
bằng chứng có lợi cho bản thân là điều rất dễ xảy ra.
Do đó để thuận tiện trong việc thu thập chứng cứ trong hoạt động tố tụng
hiện nay, đặc biệt trong việc thu thập, bổ sung chứng cứ của cơ quan Tòa án
thì cần phải có một cơ chế hỗ trợ thích hợp nhất, và đó không ai khác ngoài tổ
chức Thừa phát lại. Bởi một trong những chức năng của Thừa phát lại hiện
nay là “lập vi bằng” dùng làm chứng cứ để phục vụ cho quá trình xét xử của
Tòa án. Vi bằng do Thừa phát lại lập sẽ là nguồn chứng cứ quan trọng, có giá

Bên cạnh việc tống đạt văn bản thì hiện nay trong công tác thi hành án
của cơ quan Thi hành án dân sự thì Thừa phát lại cũng đóng vai trò quan
trọng, đặc biệt là trong việc trợ giúp cho cơ quan Thi hành án dân sự thực
hiện các biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo cho việc thi hành án. Hiện
nay, theo quy định của pháp luật thì trong quá trình giải quyết vụ án, đặc biệt
là các vụ án về dân sự hay vụ án về kinh tế thì đương sự, người đại diện hợp
17


pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức khởi kiện có quyền yêu cầu Tòa án
đang giải quyết vụ án đó áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời
để giải quyết những yêu cầu cấp bách của đương sự, nhằm bảo vệ tài sản, bảo
vệ chứng cứ, bảo đảm tính khả thi của bản án sẽ tuyên,… và theo yêu cầu đó,
Tòa án có thể áp dụng những biện pháp khẩn cấp tạm thời như: kê biên tài sản
đang tranh chấp, cấm chuyển dịch quyền tài sản đối với tài sản đang tranh
chấp, cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp,... và những công việc
trên được giao cho cơ quan Thi hành án dân sự thực hiện.
Tuy nhiên, trên thực tế thì việc thực hiện những biện pháp khẩn cấp tạm
thời đó rất khó khăn và phức tạp, bởi vì cơ quan Thi hành án dân sự hiện nay
không đáp ứng đủ cơ sở, điều kiện và lực lượng để theo dõi, giám sát để có
thể đảm bảo cho những quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được
thực hiện nghiêm chỉnh và triệt để theo nội dung và yêu cầu của Tòa án.
Chẳng hạn đối với vật bị kê biên, cấm chyển dịch là bất động sản thì việc
giám sát có thể nói là dễ, bởi vì việc lưu thông bất động sản thường đòi hỏi
các thủ tục và giấy tờ hành chính kèm theo. Còn đối với tài sản là động sản,
thì việc kê biên hay cấm chuyển dịch trong thời điểm hiện nay là rất khó khăn,
bởi vì cơ quan Thi hành án dân sự không thể đáp ứng đủ lực lượng trong việc
giám sát, kê biên hay cấm chuyển dịch đối với các loại tài sản đó.
Chính vì lẽ đó, ở lĩnh vực này ta cần có lực lượng Thừa phát lại là những
người làm việc theo yêu cầu của cơ quan Thi hành án dân sự để theo dõi,

không hề đơn giản, đó còn là một vấn đề khó khăn bởi đôi khi họ không có
điều kiện hoặc không đủ trình độ chuyên môn trong thực hiện công việc này.
Mặc khác do hệ thống chứng cứ hiện nay ở nước ta còn rất nghèo nàn và việc
thu thập lại không theo một thủ tục nhất định do pháp luật quy định, chứng cứ
được thu thập có khi chỉ dựa vào những lời khai của các bên hoặc được dựa
vào tài liệu, văn kiện do các bên liên quan cung cấp.
19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status