VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI PHƯƠNG NAM
QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI
LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
BÙI PHƯƠNG NAM
QUYỀN BÀO CHỮA CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI
LÀ NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
năm 2013 ......................................................................................................... 62
3.2 Các giải pháp cụ thể .................................................................................. 67
KẾT LUẬN .................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 78
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ luật hình sự
CCTP
: Cải cách tư pháp
CTN
: Chưa thành niên
CQĐT
: Cơ quan điều tra
CƯQT
: Công ước quốc tế
HĐXX
: Hội đồng xét xử
: Viện kiểm sát nhân dân
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quyền bào chữa là một trong những quyền cơ bản của công dân, là quyền
hiến định được ghi nhận trong tất cả các bản Hiến pháp của nước Việt Nam. Hiến
pháp năm 2013 của nước ta đã kế thừa các bản Hiến pháp trước đó đã quy định một
cách cụ thể, rõ ràng hơn về quyền bào chữa của công dân. Khoản 4 Điều 31 Hiến
pháp năm 2013 quy định: “Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy
tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa”. Như vậy
có thể thấy, Hiến pháp năm 2013 đã mở rộng phạm vi các đối tượng được đảm bảo
quyền bào chữa, không chỉ bị can, bị cáo mới có quyền bào chữa như các bản Hiến
pháp trước đây, mà ngay từ khi một người bị bắt, đã phát sinh quyền tự bào chữa,
nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa đối với họ và được đảm bảo bởi đạo luật có
giá trị pháp lý cao nhất là Hiến pháp.
Người chưa thành niên phạm tội là một chủ thể đặc biệt của Luật hình sự và
Luật tố tụng hình sự, việc xử lý, áp dụng các thủ tục tố tụng với người chưa thành
niên phạm tội đòi hỏi phải có những quy định riêng biệt.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, đã dành hẳn một chương riêng (Chương
XXXII) quy định về thủ tục đối với người chưa thành niên. Đó là những quy định
thủ tục đặc biệt về việc bắt, tạm giữ, tạm giam; về thủ tục điều tra, truy tố, xét xử,
thi hành án; về việc tham gia tố tụng của gia đình, nhà trường, của người bào chữa...
đối với những vụ án có người chưa thành niên phạm tội. Ghi nhận các quyền cũng
như đảm bảo quyền tố tụng của bị can, bị cáo là người chưa thành niên. Đảm bảo
- Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên theo pháp luật
tố tụng hình sự Việt Nam, của TS.Trần Hưng Bình, Học Viện Khoa học xã hội, năm
2014.
- Quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành niên trong tố tụng
hình sự Việt Nam, của TS.Nguyễn Hữu Thế Trạch, Đại học Luật TP.HCM năm
2014.
Các công trình này chủ yếu tập trung giải quyết các vấn đề như: Bảo vệ
quyền và lợi ích của bị can, bị cáo là người chưa thành niên; vấn đề bảo đảm quyền
bào chữa cho người chưa thành niên phạm tội; bắt, tạm giữ, tạm giam đối với người
2
chưa thành niên; đảm bảo quyền bào chữa của bị can, bị cáo là người chưa thành
niên v.v… Tuy nhiên, vấn đề bảo đảm quyền bào chữa cho đối tượng là bị can, bị
cáo là người chưa thành niên bị bắt, bị tạm giữ, bị tạm giam - đối tượng được hưởng
quyền bào chữa mới được quy định cụ thể trong Hiến pháp năm 2013 và Bộ Luật
Tố tụng hình sự 2015 cần tiếp tục được nghiên cứu, hoàn thiện hơn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích chính của việc nghiên cứu đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý
luận, mang tính nguyên tắc của việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội
là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự; những khó khăn, vướng mắc, bất
cập trong quá trình áp dụng pháp luật tố tụng hình sự về bảo đảm quyền bào chữa
cho người chưa thành niên hiện nay. Qua đó, đề xuất những giải pháp, kiến nghị
góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của pháp luật về bảo đảm quyền
bào của người bị buộc tội là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam.
3.2 Nhiệm vụ của đề tài
Để đạt được mục đích trên, đề tài đặt ra và giải quyết những nhiệm vụ cụ thể
sau đây:
nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật. Những
quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước pháp quyền, cải cách tư pháp, về
quyền con người, quyền công dân.
Đồng thời, trong quá trình nghiên cứu phương pháp phân tích, thống kê so
sánh đã được sử dụng khi phân tích những quy định của Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003, kết quả nghiên cứu so sánh còn chỉ ra được những ưu điểm và hạn chế,
bất cập của chúng và so sánh với yêu cầu của cải cách tư pháp để xác định những
định hướng hoàn thiện Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003. Phương pháp tổng họp
được sử dụng khi đưa ra những đánh giá về thực trạng của Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003 liên quan đến quyền bào chữa của người chưa thành niên phạm tội khi
tham gia hoạt động tố tụng hình sự .
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
4
Đề tài nghiên cứu lý luận, đánh giá thực trạng về việc đảm bảo quyền bào
chữa của người bị buộc tội là người chưa thành niên trong tố tụng hình sự.
Từ đó, đề xuất phương hướng và các giải pháp để bảo đảm quyền bào chữa
cho người chưa thành niên phạm tội, nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng chế định này
trên thực tế. Với kết quả nghiên cứu, đề tài góp phần làm phong phú thêm lý luận về
bào chữa và đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là chưa thành niên trong
tố tụng hình sự Việt Nam.
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần đánh giá đúng thực trạng áp dụng
pháp luật về đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành
niên trong tố tụng hình sự; qua đó khắc phục được những thiếu sót, bất cập trong
hoạt động này. Các đề xuất, kiến nghị trong đề tài có thể được dùng làm tài liệu
tham khảo khi nghiên cứu, hướng dẫn, sửa đổi, bổ sung các quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự về quyền bào chữa cũng như xây dựng, ban hành các văn bản quy
phạm pháp luật khác liên quan đến vấn đề này.
được nhiều tác giả quan tâm, nghiên cứu song xung quanh khái niệm, nội dung, bản
chất chủ thể... của quyền này còn nhiều ý kiến khác nhau. Do vậy, xác định khái
niệm QBC trên cơ sở lí luận và thực tiễn phù hợp với quy định của pháp luật là cần
thiết nhằm không ngừng phát huy dân chủ, củng cố cơ sở pháp luật bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân.
Trong pháp luật vẫn chưa có định nghĩa chính thức nào về QBC. Quyền bào
chữa là một chế định quan trọng trong luật TTHS và cho đến nay nó vẫn cần được
làm sáng tỏ từ góc độ lý luận để làm tiền đề cho việc thực hiện nguyên tắc đảm bảo
QBC cho người bị buộc tội.
Hiện nay xung quanh khái niệm về QBC có nhiều quan điểm khác nhau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, quyền bào chữa là tổng hoà các hành vi tố
tụng hướng tới việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc nhằm
làm giảm trách nhiệm của bị can [38, tr.33]
6
- Quan điểm thứ hai cho rằng, QBC được hiểu rộng hơn, nó không chỉ dừng
lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hay làm giảm trách
nhiệm của bị can mà nó còn được thể hiện trong cả việc đảm bảo các quyền và lợi
ích được pháp luật bảo vệ của bị can kể cả khi chúng không trực tiếp liên quan tới
việc làm giảm trách nhiệm của bị can trong vụ án [25, tr.89].
- Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền bào chữa không chỉ thuộc về bị can, bị
cáo mà còn thuộc về người bị tình nghi phạm tội, người bị kết án, người bào chữa,
bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ [25, tr.89]
- Quan điểm thứ tư cho rằng, quyền bào chữa trong hộ luật tố tụng hình sự là
tổng hoà các hành vi tố tụng do người bị tạm giữ; bị can, bị cảo, người bị kết án
thực hiện trên cơ sở phủ hợp với quy định của pháp ỉuậi nhằm phủ nhận một phần
hay toàn bộ sự buộc tội của cơ quan tiến hành tố tụng, làm gỉảm nhẹ hoặc loại trừ
trách nhiệm hình sự của mình trong vụ án hình sự [9, tr29].
tạm giữ, tạm giam là chủ thể bị buộc tội. Đối với bị can, bị cáo thì sự buộc tội đối
với họ đã được khẳng định bằng quyết định khởi tố và bản cáo trạng nên đương
nhiên pháp luật phải quy định cho họ QBC. Như vậy QBC thông thường xuất hiện
khi một người bị cơ quan THTT ra quyết định khởi tố bị can, trong trường hợp có
người bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam thì QBC xuất hiện sớm hơn khi họ bị cơ quan
THTT ra quyết định tạm giữ, tạm giam và kết thúc khi bản án, quyết định của Tòa
án có hiệu lực pháp luật.
Từ sự tổng hợp và phân tích trên đây, có thể đưa ra khái niệm về QBC trong
TTHS như sau: Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự là tổng hợp các quyền năng
tố tụng hình sự của người bị buộc tội có thể sử dụng nhằm bác bỏ một phần hay
toàn bộ sự buộc tội đối với họ của các cơ quan tiến hành tố tụng, hoặc làm giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự của họ trong vụ án hình sự.
1.1.2 Khái niệm người chưa thành niên và người bị buộc tội là người chưa
thành niên
Điều 1 phần 1 Công ước Quốc tế về quyền trẻ em có hiệu lực từ ngày
02/9/1990 quy định “Trong phạm vi của Công ước này, trẻ em có nghĩa là người
dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó quy định độ tuổi
thành niên sớm hơn”. Theo Công ước, trẻ em bao gồm tất cả những ai chưa phải là
người lớn, nghĩa là những ai dưới 18 tuổi thì được hưởng mọi quyền lợi được ghi
8
nhận trong Công ước. Bên cạnh Công ước quyền trẻ em thì Quy tắc tối thiểu phổ
biến của Liên họp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với người CTN, hay còn gọi
là Quy tắc Bắc Kinh do Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 29/11/1985.
Quy tắc Bắc Kinh không nêu rõ người CTN là người dưới 18 tuổi mà chỉ đưa ra
khái niệm trẻ em hoặc người ít tuổi. Theo quy tắc này thì “Người chưa thành niên
phạm pháp là trẻ em hay người ít tuổi bị cho là hay bị phát hiện là phạm pháp”.
Quy tắc cũng định nghĩa người chưa thành niên và phạm pháp là những nhân tố của
Người bị buộc tội là khái niệm mới của luật TTHS Việt Nam, nhiều văn bản
pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới đã quy định đối tượng này là chủ thể của
TTHS. Công ước Châu Âu về QCN cũng đã đề cập đến đối tượng này.
Để làm rõ khái niệm người bị buộc tội thì phải xuất phát từ khái niệm “Sự
buộc tội” theo đó sự buộc tội chỉ xuất hiện khi một người bị cáo buộc là đã thực
hiện một hành vi mà BLHS coi là tội phạm. Sự buộc tội được coi là hình thành từ
thời điểm một người được thông báo chính thức bởi cơ quan có thẩm quyền về
những chứng cứ rõ ràng cho rằng người đó đã thực hiện hành vi phạm tội, và kể từ
thời điểm đó một người bị coi là người bị buộc tội trong VAHS. Sự buộc tội sẽ tồn
tại và kéo dài trong suốt quá trình tố tụng chứng minh hành vi của người bị cáo
buộc có tội hay không có tội và kết thúc bằng một quyết định hoặc bản án có hiệu
lực pháp luật của cơ quan THTT. Như vậy: Người bị buộc tội là người bị cơ quan
có thẩm quyền cáo buộc đã thực hiện một hành vi tội phạm bằng thông báo chính
thức.
Với quan điểm, buộc tội và bào chữa song song tồn tại, ở đâu có buộc tội, thì
ở đó có bào chữa mới thể hiện tính dân chủ, đảm bảo QCN trong TTHS. Với quá
trình xây dựng, sửa đổi Bộ luật TTHS, để nhằm đảm bảo quyền cho những đối
tượng này, chủ thể bị buộc tội ngày càng mở rộng, mặc đù trong các Bộ luật TTHS
năm 1988 và Bộ luật TTHS năm 2003 chưa ghi nhận cụ thể đối tượng người bị
buộc tội, nhưng đã quy định bị can, bị cáo có quyền bào chữa. Bộ luật TTHS năm
2003, ngoài bị can, bị cáo còn quy định thêm đối tượng là người bị tạm giữ có QBC
hoặc nhờ người khác bào chữa. Hay nói một cách gián tiếp đã xem người bị tạm
giữ, bị can, bị cáo là người bị buộc tội.
Để thống nhất trong hoạt động tố tụng cũng như phù hợp với các quy định
của CƯQT, luật pháp của các nước tiên tiến trên thế giới, Bộ luật TTHS năm 2015
10
của Việt Nam đã quy định: “Người bị buộc tội gồm người bị bắt, người bị tạm giữ;
dân được tôn trọng và bảo đảm, hay nói một cách khác quyền dân chủ của công dân
và cơ chế tự do dân chủ ở nước ta ngày càng phát triền và mở rộng trong thời kỳ mở
cửa và hội nhập quốc tế.
1.2 Đặc điểm và nội dung quyền bào chữa của người bị buộc tội là người
chưa thành niên
1.2.1 Đặc điểm quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành
niên
Qua xem xét lịch sử của TTHS thế giới trước đây, hầu như không có sự phân
biệt đáng kể của nhà nước và xã hội đối với người bị buộc tội là người thành niên
và người bị buộc tội là người CTN trong các VAHS. Người ta chỉ quan niệm đơn
giải rằng người bị buộc tội là người chưa thành niên chỉ là người bị buộc tuổi còn
nhỏ. Đến cuối thế kỷ 19, mới hình thành thái độ của nhà nước về người bị buộc tội
là người CTN trong VAHS. Thay đổi cách nhìn đối với họ và xem họ là đối tượng
cần bảo vệ đặc biệt và hình thành nên tư tưởng lập pháp về TTHS đối với người bị
buộc tội là người CTN. Tư tưởng này trở thành xu hướng chung ngày càng mang
tính nhân văn, hình thành những chuẩn mực chung về thái độ của nhà nước đối với
người bị buộc tội là người CTN cho đến nay.
Bộ luật TTHS năm 2003 đã bắt kịp xu hướng chung này của TTHS thế giới
khi nhìn nhận thủ tục TTHS đối với người CTN là một trong những thủ tục tố tụng
đặc biệt quy định tại Chương XXXII (Chương XXVIII thủ tục tố tụng đối với người
dưới 18 tuổi, Bộ luật TTHS năm 2015). Tính chất đặc biệt của thủ tục này thể hiện
ở chỗ chúng được áp dụng đối với người CTN đồng thời đối với những quy định
khác của Bộ luật TTHS nếu các quy định này không trái với những quy định đặc
thù. BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định về chính sách hình sự
đối với người CTN phạm tội tại Điều 69 chủ yếu liên quan đến năng lực chịu
TNHS, mục đích áp dụng TNHS nặng về giáo dục, giúp họ sửa chữa sai lầm, phát
triển lành mạnh để họ trở thành công dân tốt, có ích cho xã hội chứ không nặng về
trừng phạt. Còn chính sách hình sự trong TTHS đối với người bị buộc tội là người
57 Bộ luật TTHS năm 2003 khi những chủ thể này hoặc người đại diện hợp pháp
của họ không mời NBC thì các cơ quan THTT có nghĩa vụ yêu cầu Đoàn luật sư
hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc cử NBC cho họ. Đó là những trường hợp liên
13
quan đến các bị can, bị cáo là người CTN, người có nhược điểm về tâm thần hoặc
thể chất, hoặc bị can, bị cáo về tội theo khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình.
Sự tham gia bắt buộc của NBC trong TTHS là quy định mang đầy tính nhân
đạo của pháp luật Việt Nam. Quy định về sự tham gia của NBC vào trong vụ án
không phụ thuộc vào ý chí của người bị buộc tội mà là làm tăng thêm tính bảo đảm
QBC cho họ. QBC và sự tham gia của NBC không chỉ cần thiết, có ích cho người bị
buộc tội là người CTN mà còn cần thiết, có ích cho hoạt động tố tụng của chính các
cơ quan THTT. Sự đối trọng, phản biện của hoạt động bào chữa đối với hoạt động
của các cơ quan thực hiện chức năng buộc tội CQĐT, VKS chính là yếu tố hạn chế
sai lầm, hạn chế làm oan người vô tội trong hoạt động của những cơ quan này đồng
thời buộc những cơ quan này phải không ngừng hoàn thiện năng lực chuyên môn
nghiệp vụ của mình nhằm đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội trong đấu
tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ QCN trong TTHS.
1.2.2 Nội dung quyền bào chữa của người bị buộc tội là người chưa thành
niên
Trong lịch sử pháp luật TTHS trước đây, địa vị pháp lý của người bị buộc tội
chưa được xác định rõ ràng nên họ thường bị coi là có tội và một khi đã bị coi là có
tội, mặc nhiên số phận của họ là số phận của kẻ bị tước phần lớn các quyền công
dân. Hiện nay, với nguyên tắc coi người bị buộc tội là những người chưa có tội nên
pháp luật TTHS đã đành cho họ nhiều quyền trong suốt các giai đoạn tố tụng.
Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013 quy định: “Người bị buộc tội được coi là không
có tội cho đến khi được chứng mình theo trình tự luật định và cỏ bản án kết tội của
Tòa án đã cỏ hiệu lực pháp luật”. Mục đích của những quy định chủ yếu là đặt ra
QBC của mình.
1.2.2.1 Về quyền tự bào chữa.
Tự bào chữa là quyền năng tố tụng đặc thù được pháp luật ghi nhận và bảo
đảm cho phép người bị buộc tội tự thực hiện các hành vi tố tụng và quyền tố tụng
nhằm minh oan, bác bỏ sự buộc tội hoặc giảm nhẹ TNHS của mình. Tự bào chữa là
một trong những hình thức thực hiện QBC của người bị buộc tội và là nội dung
quan trọng của QBC trong TTHS. Pháp luật cho phép họ được tự mình thực hiện
các hành vi tố tụng, như đùng lý lẽ đưa ra chứng cứ và những yêu cầu có lợi cho
mình khi tham gia tố tụng mà không nhất thiết phải có sự tham gia của NBC.
15
Đối với bị can, bị cáo là người CTN, người bị nhược điểm về tâm thần hoặc
thể chất hoặc bị truy tố về một tội mà khung hình phạt có mức cao nhất là tử hình
được quy định tại BLHS mà bị can, bị cáo hoặc người đại diện họp pháp của họ
không mời NBC thì CQĐT, Viện kiểm sát, Tòa án phải yêu cầu Đoàn luật sư phân
công Văn phòng luật sư cử NBC cho họ hoặc đề nghị ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử NBC cho thành viên của tổ chức mình.
Từ những phân tích trên đây, chúng tôi có thể đưa ra khái niệm tự bào chữa
cho người bị buộc tội là người CTN như sau: “Tự bào chữa là quyền năng tố tụng
đặc thù được pháp luật ghi nhận và bảo đảm cho phép người bị buộc tội là người
CTN tự mình có thể thực hiện các hành vi tố tụng và quyền tố tụng nhằm bác bỏ sự
buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của mình ” [30, tr51].
Để thực hiện quyền tự bảo vệ mình trước sự buộc tội của các cơ quan THTT,
Bộ luật TTHS quy định cho người bị buộc tội được biết mình bị khởi tố về tội gì;
được nhận quyết định khởi tố, quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp
ngăn chặn; bản kết luận điều tra; quyết định đình chỉ, tạm đình chỉ điều tra; quyết
định đình chĩ, tạm đình chỉ vụ án; bản cáo trạng, quyết định truy tố; các quyết định
tố tụng khác theo quy định của pháp luật TTHS; đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu.
nghĩ và hành động còn mang tính bột phát, cảm tính, chưa có đầy đủ năn lực dể
kiểm soát hành vi của mình. Chính vì vậy ngoài các quyền lợi giống như người
thành niên phạm tội pháp luật TTHS còn có những quy định dành riêng cho người
bị buộc tội là người CTN. Về quyền bào chữa cũng vậy, người bị buộc tội là người
CTN do chưa phát triển đầy đủ, chưa có kinh nghiệm sống, chưa có kiến thức và
hiểu biết pháp luật còn hạn chế. Cho nên họ không thề thực hiện quyền tự bào chữa
của mình một cách tốt nhất, vì vậy pháp luật TTHS quy định ngoài quyền tự bào
chữa, nếu họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người khác bào chữa
thì sẽ được các cơ quan THTT chỉ định bào chữa.
1.3 Các bảo đảm thực hiện quyền bào chữa người bị buộc tội là người
chưa thành niên
1.3.1 Bảo đảm về mặt pháp lý
Quyền bào chữa là một trong những chế định quan trọng của luật TTHS.
Trong thực tế, khi nói đến bào chữa, người ta thường cho ràng đó là chức năng đối
lập với chức năng buộc tội. Nếu hiểu như vậy là hoàn toàn sai lầm, bởi lẽ, khi Viện
kiểm sát đã truy tố đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì việc bào chữa không
làm cho bị cáo trở thành vô tội, mà chỉ có thể đưa ra những tình tiết giảm nhẹ
18
TNHS cho bị can, bị cáo. Buộc tội và bào chữa luôn song song tồn tại. QBC, đó là
một trong những quyền cơ bản của công dân khi tham gia tố tụng với tư cách là
người bị buộc tội. Bảo đảm QBC của người bị buộc tội nói chung xuất phát tò yêu
cầu bảo vệ QCN và bảo đảm nguyên tác xác định sự thật của vụ án trong TTHS. Cơ
sở pháp lý của việc bảo đảm QBC của người bị buộc tội được ghi nhận trong tất cả
các bản Hiến pháp từ năm 1945 đến nay.
Quyền bào chữa của người bị buộc tội được ghi nhận trong các văn bản pháp
luật hiện hành một cách đầy đủ nhất. Điều 11 Bộ luật TTHS năm 2003 đã quy định
việc bảo đảm và cơ quan có trách nhiệm trong việc bảo đảm thực hiện QBC của
bào chữa”. Cụ thể hóa quy định trên của Hiến pháp, Bộ luật TTHS năm 2015 đã có
những sửa đổi bổ sung lớn nhằm đảm bảo và hoàn thiện quyền con người, quyền
công dân trong đó có quyền bào chữa. Điều 16 Bộ luật TTHS năm 2015 quy định
việc bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội và cơ quan, người có thẩm
quyền THTT có trách nhiệm trong việc bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện
đầy đủ QBC của họ. Người bị buộc tội có quyền tự bào chữa, nhờ người bào chữa.
1.3.2 Bảo đảm về mặt tổ chức
Bộ luật TTHS năm 2003 đã dành toàn bộ Chương XXXII - Phần thứ bảy để
quy định về thủ tục tố tụng đối với người CTN. Thủ tục tố tụng đối với người bị
buộc tội là người CTN được áp dụng theo quy định của Chương này, đồng thời theo
những quy định khác của Bộ luật TTHS không trái với những quy định của Chương
này. Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm đến việc bảo vệ quyền trẻ em và có những
nỗ lực rất lớn trong lĩnh vực này. QCN nói chung và quyền trẻ em nói riêng được
thể hiện ở nhiều lĩnh vực khác nhau, rất đa dạng. Chính vì vậy mà việc bảo vệ các
quyền đó cũng rất đa dạng, bằng những phương thức, phương tiện và biện pháp
khác nhau cả về mặt tồ chức, quản lý, hành chính, kinh tế lẫn các biện pháp pháp lý,
đặc biệt là lĩnh vực TTHS. Luật TTHS bảo vệ các quyền của trẻ em theo cách riêng
của mình “Đó là trao cho các em những quyền tố tụng để họ tự bảo vệ quyền lợi của
mình, đồng thời quy định những điều khoản nhằm bảo đảm cho việc điều tra, truy
tố, xét xử VAHS được khách quan, toàn diện và đúng pháp luật, tránh làm oan
người vô tội”.
Như chúng ta đều biết, khi nói đến TTHS là nói đến trình tự, thủ tục điều tra,
truy tố, xét xử một VAHS cũng như quyền và nghĩa vụ của những người tham gia
20
tố tụng. Người CTN tham gia TTHS với nhiều tư cách rất khác nhau, do đó địa vị
pháp lý của họ trong TTHS cũng rất khác nhau. Từ đó, các quy định của pháp luật
TTHS để bảo đảm, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người CTN cũng có