Vai trò của Luật sư trong việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI MINH NGHĨA

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC THU THẬP,
ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI MINH NGHĨA

VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG VIỆC THU THẬP,
ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG CHỨNG CỨ TRONG
GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO
PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

PHỐ HỒ CHÍ MINH ..............................................................................................24
2.1. Các qui định của pháp luật tố tụng hình sự hiện hành thể hiện vai trò của Luật
sư trong việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ
án hình sự ...............................................................................................................24
2.2. Thực trạng thực hiện vai trò của Luật sư trong việc thu thập, đánh giá và sử
dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra tại Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh .......36
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA LUẬT SƯ TRONG
VIỆC THU THẬP, ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG CHỨNG CỨ Ở GIAI ĐOẠN
ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ ................................................................................65
3.1. Tăng cường triển khai các biện pháp hướng dẫn thi hành Bộ Luật tố tụng
hình sự năm 2015 về hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ của Luật
sư trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự ...............................................................65
3.2. Tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng hình sự về hoạt động
thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ của Luật sư .............................................66
3.3. Các giải pháp khác ..........................................................................................69
KẾT LUẬN ..............................................................................................................79
DANH MỤC CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO .....................................................81


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

:

Bộ luật hình sự

BLTTHS

:


KSV

:

Kiểm sát viên

LS

:

Luật sư

TA

:

Tòa án

TAND

:

Tòa án nhân dân

THTT

:

Tiến hành tố tụng


VKS

:

Viện kiểm sát

VKSND

:

Viện kiểm sát nhân dân

XHXN

:

Xã hội chủ nghĩa


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chứng cứ luôn được coi là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án
hình sự. Trong quá trình giải quyết VAHS, các CQTHTT chỉ có thể ra các quyết
định hoặc bản án dựa trên cơ sở các chứng cứ chứng minh sự việc phạm tội cũng
như con người thực hiện tội phạm và những tình tiết liên quan.
Quá trình chứng minh VAHS bao gồm nhiều bước như phát hiện, thu thập,
kiểm tra, đánh giá, sử dụng chứng cứ. Trong đó đánh giá chứng cứ là một trong
những bước quan trọng góp phần quyết định sự thành công của việc tìm ra sự thật
khách quan của vụ án. Thực tiễn TTHS của nước ta thời gian qua cho thấy, các

mạnh: Cải cách mạnh mẽ thủ tục tố tụng tư pháp theo hướng dân chủ, bình đẳng,
công khai, minh bạch, chặt chẽ nhưng thuận tiện, bảo đảm sự tham gia và giám sát
của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm chất lượng tranh tụng tại các
phiên tòa xét xử, lấy kết quả tranh tụng tại tòa làm căn cứ quan trọng để phán quyết
bản án, coi đây là khâu đột phá để nâng cao chất lượng hoạt động tư pháp; đồng
thời, yêu cầu cải cách nhiều nội dung cụ thể khác của tố tụng hình sự [1]. Định
hướng này đã được Hiến pháp năm 2013 thể hiện sâu sắc quan điểm của Đảng ta về
tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân, bổ sung nhiều
nguyên tắc tư pháp tiến bộ, bổ sung và làm rõ hơn nhiệm vụ của TA và VKS khi
thực hiện chức năng Hiến định. Những sửa đổi, bổ sung này cũng đã được cụ thể
hóa trong BLTTHS năm 2015 và sẽ được thi hành vào ngày 01/01/2018.
Mặt khác, trong thời gian qua, nhiều vụ án oan chưa được phơi bày. Tất cả
những vụ án oan xảy ra ở địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh hầu như không
xuất hiện LS để tham gia bảo vệ quyền lợi của họ. Bên cạnh những tiêu cực nêu trên
thì mặt tích cực ta cũng thấy được chính sự tham gia của LS trong giai đoạn điều tra
đã giúp cho CQĐT thu thập, đánh giá được các chứng cứ. Sự phối hợp nhịp nhàng
ăn ý giữa LS và CQĐT theo đúng quy định của pháp luật trong hoạt động thu thập
và đánh giá chứng cứ đã được tiến hành một cách khách quan, cẩn trọng để loại trừ
hiện tượng oan sai cho người vô tội và tránh bỏ lọt tội phạm, góp phần giữ gìn an
ninh trật tự xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp chế
XHCN.
2


Xuất phát từ nguyên nhân đó, việc nghiên cứu một cách có hệ thống về “vai
trò của LS trong việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều
tra VAHS theo pháp Luật TTHS Việt Nam” có ý nghĩa quan trọng trong việc xây
dựng pháp luật, là cơ sở lý luận đảm bảo sự nhận thức thống nhất trong thực thi
pháp luật; góp phần tạo ra cơ hội để các CQTHTT, người THTT, LS xích lại gần
nhau hơn, mỗi người sẽ thực hiện công việc của mình một cách đúng đắn để tránh

chữa của LS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự [49].
- Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Tài liệu Hội thảo khoa học “Nâng
cao vai trò của LS trong TTHS”, Hà Nội. Trong hội thảo, nhiều tác giả cho rằng, vai
trò của LS trong TTHS Việt Nam còn hết sức mờ nhạt và không thể trở thành đối
trọng cân bằng với bên buộc tội. Theo quy định hiện hành, chỉ có các CQTHTT mới
có quyền TTCC. Trong khi đó, người bào chữa chỉ được quyền thu thập các tài liệu,
đồ vật, tình tiết liên quan đến vụ án và chúng chỉ là chứng cứ khi được giao nộp cho
các CQTHTT, được ghi nhận, đưa vào hồ sơ. Như vậy, LS có thu thập được chứng
cứ thì cũng không được tự mình sử dụng để chứng minh những tình tiết trong vụ án
mà phải giao cho các CQTHTT [42].
- Hoàng Thị Minh Sơn (2008), “Hoàn thiện các quy định về thu thập, đánh
giá và sử dụng chứng cứ trong TTHS”, Tạp chí Luật học số 7, Hà Nội. Trong bài
viết, tác giả nêu rõ: TTCC là giai đoạn đầu của quá trình chứng minh VAHS. Kết
quả của hoạt động TTCC có ý nghĩa quan trọng và ảnh hưởng rất lớn đến chất
lượng giải quyết VAHS. Có thể nói số lượng và chất lượng chứng cứ đã thu thập
được đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Do vậy, hoạt động này cần phải được tiến hành một cách khách quan, thận trọng và
tỉ mỉ trên cơ sở những quy định của BLTTHS [40].
Ngoài ra còn có có thể kể đến một số tác phẩm của các tác giả như sau: Vai
trò của LS trong TTHS của TS. Hoàng Sơn (Trong sách: Sổ tay LS, của Học Viện
Tư pháp, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội năm 2004); Kỹ năng của LS
trong giai đoạn điều tra VAHS,của tác giả: Ths. Nguyễn Văn Điệp, (Trong sách: sổ
tay LS của Học viện Tư pháp, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội năm 2004);
Chứng cứ trong VAHS, của tác giả: PGS.TS.LS. Phạm Hồng Hải (trong sách: sổ tay
LS, của Học Viện Tư pháp, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội năm 2004); Về
4


chế định người bào chữa, của tác giả Đinh Văn Quế, (Tạp chí TAND số 3, năm
2004); Vấn đề thực hiện quyền của người bào chữa trong TTHS của tác giả Lê

thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra VAHS trong giai đoạn
hiện nay.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
- Làm rõ những vấn đề mang tính chất lý luận về vai trò của LS trong việc
thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra VAHS;
- Làm rõ quy định của pháp luật về hoạt động thu thập, đánh giá và sử dụng
chứng cứ cùa LS trong giai đoạn điều tra VAHS;
- Làm rõ thực tiễn thực hiện quy định của pháp luật về hoạt động thu thập,
đánh giá và sử dụng chứng cứ của LS trong giai đoạn điều tra VAHS, đồng thời chỉ
ra những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của nó.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý luận, quy định của pháp
luật và thực tiễn của hoạt động LS trong việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng
cứ trong giai đoạn điều tra VAHS.
* Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi Luận văn này, tác giả chỉ nghiên cứu hoạt động thu thập,
đánh giá và sử dụng chứng cứ của LS bào chữa trong giai đoạn điều tra VAHS
nhằm bảo vệ quyền của người bị buộc tội (bị can) từ thực tiễn trên địa bàn Quận 1,
thành phố Hồ Chí Minh theo quy định của BLTTHS năm 2003 trong thời gian từ
năm 2011 đến năm 2015. Luận văn không nghiên cứu nội dung này trong việc bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng khác trong vụ án.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
Mác-Lênin về chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; tư tưởng Hồ Chí
Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về đấu tranh phòng, chống tội phạm;
việc nghiên cứu đề tài luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học
chuyên ngành như: lịch sử, phân tích, tổng hợp, so sánh, diễn giải, suy diễn logic và
6

TRONG VIỆC THU THẬP ĐÁNH GIÁ VÀ SỬ DỤNG CHỨNG CỨ
TRONG GIAI ĐOẠN ĐIỀU TRA VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn
điều tra vụ án hình sự
- Khái niệm giai đoạn điều tra hình sự
Giai đoạn điều tra VAHS bắt đầu từ khi có quyết định khởi tố VAHS và kết
thúc khi CQĐT hoàn thành bản kết luận điều tra, đồng thời quyết định đề nghị truy
tố người bị nghi là phạm tội trước TAND hoặc ra quyết định đình chỉ vụ án. [28,
Điều 162].
Trong quá trình điều tra, CQĐT được áp dụng mọi biện pháp của pháp luật
TTHS để TTCC, mục đích để làm rõ sự việc phạm tội, về người thực hiện tội phạm,
nguyên nhân và điều kiện phạm tội, cũng như các tình tình tiết khác có liên quan
đến vụ án, kiến nghị biện pháp phòng ngừa với cơ quan và tổ chức hữu quan. Hoạt
động điều tra chính là hoạt động TTCC, phục vụ cho việc xét xử của TAND. Việc
thu thập, kiểm tra đánh giá chứng cứ ở giai đoạn điều tra có tính chất sơ bộ, phục vụ
cho việc kiểm tra, đánh giá chính thức tại phiên toà.
Điều tra VAHS là giai đoạn TTHS thứ hai mà trong đó CQĐT căn cứ vào
các quy định của pháp luật TTHS và dưới sự kiểm sát của VKS tiến hành các biện
pháp cần thiết nhằm thu thập và củng cố các chứng cứ, nghiên cứu các tình tiết của
VAHS, phát hiện nhanh chóng và đầy đủ tội phạm, cũng như người có lỗi trong
việc thực hiện tội phạm tội để truy cứu TNHS, đồng thời bảo đảm cho việc bồi
thường thiệt hại về vật chất do tội phạm gây nên và trên cơ sở đó quyết định: Đình
chỉ điều tra VAHS hoặc là chuyển toàn bộ các tài liệu của vụ án đó cho VKS kèm
theo kết luận điều tra và đề nghị truy tố bị can.
Với tính chất là một giai đoạn độc lập của TTHS, giai đoạn điều tra VAHS
có chức năng thực hiện các nhiệm vụ cụ thể nhằm áp dụng các biện pháp cần thiết
do luật định để chứng minh việc thực hiện tội phạm và người phạm tội, xác định rõ
8





có thẩm quyền TTCC, thủ tục TTCC, cũng như quy định về quyền và nghĩa vụ của
các bên tham gia quan hệ pháp luật TTHS trong việc TTCC.
TTCC được hiểu là tổng hợp các hành vi phát hiện, ghi nhận, thu giữ và bảo
quản chứng cứ của các cơ quan có thẩm quyền bằng các biện pháp luật định. Phát
hiện chứng cứ là tìm những sự vật, hiện tượng, tài liệu có chứa đựng những thông
tin có giá trị chứng minh những tình tiết của vụ án. Đây là khâu đầu tiên và hết sức
quan trọng của hoạt động TTCC khi người bào chữa phát hiện ra nó, đánh giá
những thông tin có giá trị chứng minh những sự kiện, tình tiết của vụ án [12, tr.24].
- Khái niệm đánh giá chứng cứ
BLTTHS năm 2003 không có khái niệm đánh giá chứng cứ mà chỉ quy định:
Mỗi chứng cứ phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan
đến vụ án…[28, Đ.66]. Tác giả đã đưa ra và phân tích một số quan điểm về khái
niệm đánh giá chứng cứ. Từ các phân tích trên, có thể đưa ra quan điểm chung nhất
về đánh giá chứng cứ: Đánh giá chứng cứ trong VAHS là hoạt động tư duy của chủ
thể có thẩm quyền theo quy định của BLTTHS nhằm xem xét, kiểm tra các chứng cứ
đã thu thập được để xác định tính hợp pháp, tính xác thực và tính liên quan của
chứng cứ, qua đó làm rõ có sự việc phạm tội xảy ra hay không, ai là người thực
hiện hành vi phạm tội cũng như giải quyết đúng đắn VAHS.
- Khái niệm sử dụng chứng cứ
Pháp luật TTHS đã qui định thế nào là chứng cứ, chứng cứ được xác định ở
những nguồn cụ thể. Việc sử dụng những chứng cứ ở nguồn luật định phải chấp
hành nghiêm chỉnh theo những qui định của pháp luật tố tụng. Đặc biệt với những
chứng cứ là lời khai của những người tham gia tố tụng, do đặc điểm của những
chứng cứ này thường bị xen lẫn yếu tố chủ quan, dễ bị sai lệch, vì vậy khi sử dụng
các lời khai của người tham gia tố tụng ở các tư cách khác nhau phải tuân theo đúng
những qui phạm trong BLTTHS.
Sử dụng chứng cứ là việc các chủ thể có thẩm quyền tiến hành nghiên cứu,
kiểm tra, đánh giá ngay để sử dụng nhằm đảm bảo tính nhanh chóng, kịp thời của


- Tính hợp pháp: Tất cả những gì có thật phải được cung cấp, thu thập,
nghiên cứu, bảo quản theo một trình tự do luật định. Đây là trình tự nhằm bảo đảm
giá trị chứng minh của chứng cứ.
Như vậy, sử dụng chứng cứ phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, toàn diện
và đầy đủ trong TTHS. Chỉ sử dụng các chứng cứ được phát hiện, thu thập theo
11


đúng quy định của pháp luật TTHS, và các chứng cứ đó phải được kiểm tra đầy đủ,
bảo đảm ba thuộc tính của chứng cứ và phải phù hợp với thực tế khách quan. Trong
quá trình THTT, không chỉ CQTHTT, người THTT được sử dụng chứng cứ vào quá
trình chứng minh mà tất cả những người tham gia tố tụng, các tổ chức xã hội và mọi
công dân trong đó có LS đều có quyền đưa ra chứng cứ, sử dụng chứng cứ nhằm
làm sáng tỏ sự thật khách quan. Tuy nhiên muốn sử dụng chứng cứ một cách hiệu
quả, đạt mục đích thì phải nhận thức đầy đủ về chứng cứ thì đối với người THTT có
nhận thức đúng về chứng cứ thì quá trình chứng minh, việc phát hiện, thu giữ chứng
cứ mới đúng, nếu nhận thức sai về chứng cứ, sẽ phát hiện, thu giữ những sự kiện,
hiện tượng không phải là chứng cứ trong vụ án, từ đó dẫn tới việc sử dụng sai và
giải quyết vụ án không đúng. Đối với người tham gia tố tụng nhất là LS thì phải có
nhận thức đúng vấn đề về chứng cứ mới thực hiện quyền của mình như cung cấp và
đưa ra chứng cứ có giá trị chứng minh tới các CQTHTT, tạo điều kiện giải quyết vụ
án được đúng đắn, kịp thời. Chứng cứ cũng cần phải được mọi người, mọi công dân
nhận thức đầy đủ để từ đó bảo quản, giữ nguyên giá trị chứng minh của chứng cứ từ
khi phát hiện đến khi cung cấp cho các cơ quan có thẩm quyền. Nhận thức đúng về
chứng cứ những người tham gia tố tụng cũng như mọi công dân có thể sử dụng
chứng cứ để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
Qua phân tích trên có thể đưa ra khái niệm sử dụng chứng cứ như sau: Sử
dụng chứng cứ là việc các chủ thể có thẩm quyền lựa chọn những chứng cứ đã thu
được theo quy định của pháp luật để làm sáng tỏ những vần đề cần phải chứng

thức xã hội trong việc tiếp cận với dân chủ và pháp luật.
Có thể nói vai trò của LS trong việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ
trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự là rất quan trọng. Tham gia tố tụng với tư
cách là người bào chữa và bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị tạm
giam, tạm giữ, bị can, bị cáo, LS sẽ cùng với thân chủ của mình trở thành một bên
trong tố tụng; LS phải sử dụng tổng hợp những kinh nghiệm nghề nghiệp và kiến
thức chuyên môn của mình trong đó có kỹ năng về TTCC, kiến thức về chứng cứ và
đánh giá chứng cứ, sàng lọc, phân loại, đánh giá tài liệu nào, lời khai nào, vật chứng
nào, kết luận giám định nào… được coi là chứng cứ, nhằm bác lại những quan điểm
đối lập, bảo vệ quan điểm của mình. Khi thu thập được các tài liệu, chứng cứ liên
quan đến vụ án thì LS phải có trách nhiệm giao cho các CQTHTT; do vậy, LS khi
thu thập được chứng cứ cần lựa chọn thời điểm đưa ra phù hợp trong quá trình tố
14


tụng của vụ án. Bên cạnh đó, LS công khai đưa ra ý kiến đánh giá của mình về
chứng cứ và sự thật khách quan của vụ án để phản biện lại những quan điểm của
CQĐT; trao đổi, đề xuất những vấn đề về chứng cứ của vụ án; phát hiện ra những
dấu hiệu không đảm bảo về chứng cứ trong quá trình xét xử, như chưa đủ chứng cứ
hoặc chứng cứ yếu giúp cho CQĐT, cân nhắc trước khi đưa ra quyết định. Chính vì
vậy, có thể nói, LS có vai trò rất quan trọng cùng với những người THTT khác
trong việc đánh giá chứng cứ để tìm ra sự thật khách quan của vụ án hình sự nhằm
bào chữa và bảo vệ tối đa quyền lợi của thân chủ.
Qua phân tích, nghiên cứu những nội dung trên có thể hiểu vai trò của luật sư
trong việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong giai đoạn điều tra vụ án
hình sự như sau:
Vai trò của LS trong việc thu thập, đánh giá và sử dụng chứng cứ trong
giai đoạn điều tra VAHS là ảnh hưởng, tác động của LS thông qua hoạt động
thực hiện chức năng của mình đối với việc phát hiện, tìm kiếm, kiểm tra và lựa
chọn những thông tin, tài liệu, đồ vật để chống lại sự buộc tội, bảo vệ quyền và

yêu cầu của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nếu không thuộc bí mật nhà nước, bí
mật công tác.
LS tiến hành gặp gỡ, tham gia việc hỏi cung bị can. Công việc này có ý
nghĩa rất quan trọng trong việc bảo đảm tính khách quan của việc điều tra, hạn chế
được các vi phạm pháp luật có thể xảy ra như: ép cung, mớm cung, bức cung, làm
sai lệch hồ sơ vụ án… Ngoài ra, việc LS bào chữa tham gia vào các hoạt động điều
tra khác như khám nghiệm hiện trường, thực nghiệm điều tra, xem xét dấu vết thân
thể… cũng là một hoạt động cần thiết và có ý nghĩa; thông qua các hoạt động này,
LS có thể phát hiện được những tình tiết mới của vụ án hoặc các tình tiết giảm nhẹ
TNHS của bị can, các tình tiết có ý nghĩa minh oan cho bị can trong trường hợp bị
can vô tội, làm hạn chế tình trạng oan sai ngay từ giai đoạn điều tra trong TTHS.
Tuy là giai đoạn đầu tiên của TTHS nhưng ngay từ công việc điều tra, LS đã phải
định hướng cho mình cách nghiên cứu hồ sơ, thu thập tài liệu, chứng cứ và định
hướng việc bào chữa cho bị can nhằm bảo vệ tối đa quyền, lợi ích hợp pháp cho họ.
Khi thu thập được tài liệu, đồ vật liên quan đến vụ án, thì người bào chữa có
trách nhiệm giao cho CQĐT. Việc giao nhận các tài liệu, đồ vật đó giữa người bào
16


chữa và CQTHTT phải được lập biên bản theo quy định tại Điều 95 của BLTTHS
năm 2003.
- Tham gia vào việc hỏi cung bị can: theo quy định của BLTTHS, LS được
có mặt khi ĐTV lấy lời khai của người bị tạm giữ, hỏi cung bị can. LS được hỏi
người bị tạm giữ, bị can nếu được ĐTV đồng ý. Lời khai là nguồn chứng cứ quan
trọng trong TTHS. Việc tham dự cuộc lấy lời khai, hỏi cung giúp LS nắm được
những thông tin, tình tiết liên quan đến người mà mình bào chữa. Để bảo đảm chặt
chẽ, khoản 3 Điều 132 BLTTHS năm 2003 quy định: Trong trường hợp người bào
chữa được hỏi bị can thì trong biên bản phải ghi đầy đủ câu hỏi của người bào chữa
và trả lời của bị can.
- Luật sư còn có thể thực hiện các hoạt động điều tra khác, như: đối chất,

trong giai đọan này có những đặc điểm riêng, đó không phải là sự đối sánh chứng
cứ trực tiếp giữa bên buộc tội và bên gỡ tội như ở giai đoạn xét xử. Những thông
tin, tài liệu chứng cứ làm cơ sở cho việc xác định sự thật của vụ án đối với LS
không nhiều nhưng những thông tin tài liệu, chứng cứ đó lại rất quan trọng đối với
việc bảo vệ quyền lợi cho bị can. Do vậy LS cần phải biết tập trung thời gian, công
sức trí tuệ để nghiên cứu, đánh giá tính hợp pháp của những thông tin, tài liệu,
chứng cứ đó. Chỉ khi tập trung, đánh giá có trọng điểm và chính xác những chứng
cứ là cơ sở cho việc xác định sự thật vụ án thì kết quả của hoạt động này mới trở
nên có ý nghĩa.
Trong TTHS chức năng gỡ tội luôn tồn tại độc lập và đối trọng với chức
năng buộc tội như một tất yếu khách quan. Với bản chất dân chủ, pháp luật TTHS
của Nhà nước ta ghi nhận quyền được bào chữa (gỡ tội) của người bị buộc tội như
một nguyên tắc cơ bản, coi đây là quyền Hiến định được ghi trong Hiến pháp:
người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào
chữa, nhờ LS hoặc người khác bào chữa [12].
Nếu như nhiệm vụ Cơ quan điều tra chứng minh một người có hành vi phạm
tội theo các nội dung: “1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa
điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội. 2. Ai là người thực hiện hành vi
phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực TNHS hay không;
mục đích, động cơ phạm tội. 3. Những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ TNHS
18


của bị can, bị cáo và những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo. 4. Tính chất
và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tôi gây ra” (Điều 63 BLTTHS 2003) thì nhiệm
vụ của LS là chứng minh họ vô tội hoặc có tội không đúng như kết luận đề nghị
truy tố của CQĐT.
Như vậy hoạt động thu thập, dánh giá và sử dụng chứng cứ của LS khác với
hoạt động của CQĐT:
- Về tố tụng: LS cần phải xem xét xem hồ sơ vụ án có đảm bảo đúng thủ tục

vật, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người
thân thích của những người này hoặc từ cơ quan, tổ chức, cá nhân”.
Tại khoản 1 Điều 65 BLTTHS 2003 quy định: “Để TTCC CQĐT, VKS và TA
có quyền triệu tập những người biết về vụ án để hỏi và nghe họ trình bày về những
vấn đề có liên quan đến vụ án, trưng cầu giám định, tiến hành khám xét, khám
nghiệm và các hoạt động điều tra khác theo qui định của bô luật này” đồng thời
khoản 2 Điều 65 BLTTHS 2003 cũng qui định: “Những người tham gia tố tụng, cơ
quan, tổ chức hoặc bất cứ cá nhân nào đều có thể đưa ra tài liệu, đồ vật và trình
bày những vấn đề có liên quan đến vụ án”.
Theo quy định của BLTTHS 2003 các biện pháp TTCC của LS được xác
định bằng các hoạt động như sau:
- Thu thập tài liệu, tình tiết liên quan đến việc bào chữa từ bị can, người thân
thích của họ;
- TTCC trong quá trình tham dự việc hỏi cung bị can. LS có quyền mặt khi
hỏi cung bị can và nếu được ĐTV đồng ý thì được hỏi bị can và có mặt trong những
hoạt động điều tra khác;
- TTCC bằng cách đưa ra đồ vật, tài liệu, yêu cầu;
- TTCC từ cơ quan, tổ chức, cá nhân theo yêu cầu của bị can, nếu không
thuộc bí mật nhà nước, bí mật công tác.
Ta có thể so sánh hoạt động TTCC của LS và hoạt động TTCC các CQTHTT
để thấy được quá trình TTCC của người bào chữa còn nhiều thiệt thòi do qui định
của luật:
Theo quy định của BLTTHS năm 2003, thì những người sau đây có thẩm
quyền áp dụng các biện pháp TTCC: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra
20



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status