Vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh (Lv thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI VĂN THỊNH

VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG XÉT XỬ
PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI VĂN THỊNH

VAI TRÒ CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG XÉT XỬ
PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ THEO PHÁP LUẬT
TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


phúc thẩm vụ án hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh .....................................36
2.2. Kết quả hoạt động của người bào chữa trong giai đoạn xét xử phúc thẩm
vụ án hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh .......................................................40
2.3. Những hạn chế, thiếu sót và nguyên nhân của những hạn chế, thiếu sót
trong hoạt động của người bào chữa ở giai đoạn xét xử phúc thẩm tại Thành
phố Hồ Chí Minh ..............................................................................................44
Chương 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA
NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
..............................................................................................................................60
3.1. Quan điểm nâng cao vai trò của người bào chữa trong giai đoạn xét xử
phúc thẩm vụ án hình sự...................................................................................60
3.2. Các giải pháp nâng cao hoạt động của người bào chữa trong giai đoạn xét
xử phúc thẩm vụ án hình sự .............................................................................62
KẾT LUẬN .........................................................................................................70
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..........................................................72


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

- BLTTHS

Bộ luật Tố tụng hình sự

- BCVND

Bào chữa viên nhân dân

- CQĐT

Cơ quan điều tra


Tòa án nhân dân tối cao

- TTHS

Tố tụng hình sự

- THTT

Tiến hành tố tụng

- TGTT

Tham gia tố tụng

- VA

Vụ án

- VAHS

Vụ án hình sự

- VKS

Viện kiểm sát

- VKSND

Viện kiểm sát nhân dân

phù hợp với xu hướng tiến bộ của các quốc gia trên thế giới.
Hiến pháp năm 2013 quy định “ Người bị bắt, người bị tạm giữ, tạm giam,
khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người
khác bào chữa”. Việc ghi nhận và thực hiện nguyên tắc đảm bảo quyền bào
chữa trong tố tựng hình sự đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc trong việc bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo; đồng
thời giúp cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án hình sự đúng đắn, khách
quan, đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, góp
phần nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên toà, đáp ứng được yêu cầu cải
cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02 tháng 6 năm 2005
của Bộ chính trị về “ Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”. Vì vậy, việc
nhận thức đúng đắn vị trí, vai trò của NBC trong TTHS có ý nghĩa quan trọng
1


trong việc bảo vệ quyền con người nói chung, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của công dân bị buộc tội trong TTHS nói riêng - một nhiệm vụ trọng tâm của các
thiết chế nhà nước và pháp luật dân chủ.
Do đó, nhằm góp phần làm rõ thêm về mặt lý luận, những vướng mắc
trong thực tiễn áp dụng của chế định NBC trong hoạt động bào chữa, đặc biệt là
ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Vai trò của
người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng
hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hố Chí Minh” với mong muốn đóng
góp một số ý kiến, giải pháp nhằm phát huy và nâng cao vai trò của người bào
chữa trong quá trình tham gia tố tụng, đặc biệt là trong xét xử phúc thẩm vụ án
hình sự.
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
NBC tham gia vào hoạt động TTHS với vị trí, vai trò rất quan trọng. Hoạt
động của NBC trong TTHS góp phần bảo đảm thực hiện có hiệu quả nguyên tắc
bảo đảm quyền bào chữa trong TTHS. Việc nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn

điểm, giải pháp nâng cao vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ
VAHS
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến việc thực hiện nguyên tắc
đảm bảo quyền bào chữa, về tính chất ý nghĩa của việc quy định trình tự xét xử
vụ án hình sự, đặc biệt là xét xử phúc thẩm VAHS, để qua đó thấy được vai trò
của người bào chữa được thực hiện như thế nào trên thực tế.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian, tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
liên quan đến hoạt động của NBC ở giai đoạn xét xử phúc thẩm, còn những vấn
đề khác, tác giả chỉ nghiên cứu một cách khái quát tạo điều kiện để tiếp cận vấn
đề mà luận văn muốn hướng đến.

3


- Về thời gian, nghiên cứu việc thực hiện các quy định của pháp luật tố
tụng hình sự liên quan đến vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ
án hình sự giai đoạn từ khi Bộ luật TTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành đến
nay.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử
của triết học Mác – Lênin, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về pháp luật,
về cải cách tư pháp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài: “Vai trò của người bào chữa trong xét
xử phúc thẩm vụ án hình sự theo pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực
tiễn Thành phố Hồ Chí Minh”, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu cụ

quyền bào chữa và NBC, qua đó giúp cho người đọc có nhận thức đúng đắn và
thống nhất về vai trò của NBC, đặc biệt là vai trò của NBC trong giai đoạn phúc
thẩm.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Từ những vấn đề mang tính lý luận và thực tiễn cho thấy những hạn chế
trong thực tiễn hoạt động và áp dụng các quy định của pháp luật liên quan đến
NBC trong xét xử phúc thẩm, từ đó, đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động của NBC nói chung và hoạt động của NBC
trong giai đoạn xét xử phúc thẩm nói riêng.
7. Cơ cấu của luận văn:
Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, cơ
cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận và pháp luật về vai trò của người bào
chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Chương 2. Thực trạng vai trò của người bào chữa trong xét xử phúc thẩm
VAHS tại Thành phố Hồ Chí Minh
5


Chương 3. Quan điểm và giải pháp nâng cao vai trò của người bào chữa
trong xét xử phúc thẩm vụ VAHS

6


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ VAI TRÒ CỦA
NGƯỜI BÀO CHỮA TRONG XÉT XỬ PHÚC THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
1.1. Người bào chữa trong Tố tụng hình sự
1.1.1. Khái quát chức năng bào chữa trong Tố tụng hình sự

hành theo đúng quy định của pháp luật. Để bảo vệ quyền con người, quyền và lợi
ích hợp pháp của công dân, bảo vệ pháp luật, bảo vệ công lý và công bằng trong
xã hội. Chức năng xét xử được coi là chức năng trung tâm của TTHS giữ vai trò
quyết định. Điều 9 BLTTHS “không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội
của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [23]. Điều này đã khẳng định Tòa án là
chủ thể duy nhất thực hiện chức năng xét xử, và chỉ có Tòa án thông qua hoạt
động xét xử của mình thì mới có quyền kết tội đối với một người. Vì vậy, nếu
không có chức năng xét xử thì các chức năng trước đó, chức năng buộc tội và
chức năng bào chữa bị xem là vô nghĩa. Hoạt động xét xử được thực hiện tại
phiên tòa với sự tham gia của các bên, trên cơ sở đánh giá và làm rõ các tình tiết
mang tính buộc tội và các tình tiết có ý nghĩa gỡ tội, Tòa án ra phán quyết cuối
cùng cho bị cáo. Thông qua hoạt động xét xử, ý thức đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm ngày càng được nâng cao.
Chức năng bào chữa: Là một dạng hoạt động tố tụng được pháp luật đảm
bảo cho người bị buộc tội khả năng bằng cách tự mình hay nhờ người khác đưa
ra những chứng cứ và lập luận nhằm không chỉ bác bỏ sự buộc tội, làm giảm nhẹ
TNHS cho mình mà còn đưa ra những gì có lợi cho họ trong quá trình tố tụng
[5].
Chức năng bào chữa có vai trò quan trọng trong quá trình giải quyết
VAHS, là điều kiện tiên quyết trong việc thực hiện nhiệm vụ xét xử “đúng
người, đúng tội, đúng pháp luật”, thông qua việc thực hiện chức năng bào chữa,
tính dân chủ và pháp chế được đảm bảo. Chức năng này được đảm bảo thực hiện
bởi cơ quan nhà nước. Điều 103 Hiến Pháp 2013 ghi nhận: “Quyền bào chữa
của bị cáo được bảo đảm…” [24]. Việc pháp luật ghi nhận quyền bào chữa của
8


người bị buộc tội không chỉ bởi vì nó là một trong những quyền tự nhiên của con
người được thừa nhận ở bất cứ đâu, trong bất kỳ phạm vi không gian nào mà còn
là do vai trò quan trọng, không thể thiếu của chức năng bào chữa. Bởi lẽ, khi

để con người thực hiện các quyền của mình là tiêu chí đánh giá sự tiến bộ và
văn minh của xã hội” [13,tr.48].
Ở nước ta quyền con người được ghi nhận trong hiến pháp và pháp luật.
Cụ thể, tại điều 14 Hiến pháp 2013 “Ở nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa
và xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp
luật”[24].
Trong lĩnh vực TTHS cũng vậy, làm thế nào để pháp luật được công
minh, đảm bảo được quyền công dân, đặc biệt là những người bị buộc tội. Với
nhu cầu như vậy thì pháp luật đã trang bị cho người bị buộc tội một vũ khí sắc
bén đó là quyền bào chữa và nó được pháp luật TTHS ghi nhận là một nguyên
tắc cơ bản. Đó là “nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo” trong TTHS [23]. Nguyên tắc này được tất cả các nước trên thế giới
ghi nhận trong Hiến pháp và được cụ thể hóa trong BLTTHS. Vì việc thực hiện
nguyên tắc đảm bảo quyền bào chữa trong TTHS chẳng những thể hiện tính dân
chủ mà còn thể hiện tính nhân đạo của họat động tư pháp trong xã hội XHCN điều mà trong các xã hội bóc lột trước đây hoặc không thể có hoặc không thể nào
thực hiện được trong thực tế.
Hiện nay, trong khoa học luật TTHS có nhiều ý kiến khác nhau về quyền
bào chữa, nhưng tựu trung hầu hết các tác giả thường tập trung vào bốn loại
quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất cho rằng quyền bào chữa là tổng hòa các hành vi tố
tụng đối với việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hoặc làm
giảm trách nhiệm của bị can [14, tr.14]. Cùng với quan điểm trên, quyền bào
chữa cũng được hiểu đó là quyền của bị can, tuy nhiên, quyền bào chữa của bị
can theo tác giả này được hiểu rộng hơn, đó là quyền bào chữa không chỉ dừng
10


lại ở việc bác bỏ sự buộc tội và xác định bị can không có lỗi hay làm giảm nhẹ
TNHS của bị can mà nó còn được thể hiện trong việc bảo đảm các quyền và lợi

ích hợp pháp của công dân. Theo đó, quan điểm trên không được chấp nhận.
Quan điểm thứ ba cho rằng quyền bào chữa chỉ thuộc về bị can, bị cáo
chứ không thuộc về đối tượng nào khác và quyền này chỉ giới hạn trong việc bác
bỏ một phần hay toàn bộ lời buộc tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị can, bị
cáo [31, tr.41].
Đây là quan điểm được nhiều người đồng tình ủng hộ, và quan điểm này
được Bộ luật TTHS Việt Nam ghi nhận trong một thời gian khá lâu kể từ khi
BLTTHS đầu tiên ra đời cho đến thời điểm trước khi BLTTHS sữa đổi lần thứ tư
có hiệu lực vào ngày 01/07/2004. Những người theo quan điểm trên cũng xuất
phát từ quan niệm cho rằng trong TTHS sự buộc tội và bào chữa phải song song
tồn tại, ở đâu có buộc tội thì ở đó có bào chữa. Bị can, bị cáo có quyền bào chữa
bởi họ bị buộc tội, những người TGTT khác không bị buộc tội nên vấn đề bào
chữa không đặt ra đối với họ [31, tr.41].
Tuy nhiên, hiểu như trên vẫn chưa hoàn toàn chính xác. Mà chúng tôi ủng
hộ với quan điểm BLTTHS Việt Nam hiện hành khi quy định “người bị tạm giữ,
bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa” [23]. Như ở
phần trên chúng tôi đã phân tích, thì ngoài bị can, bị cáo có quyền bào chữa thì
người bị tạm giữ cũng có quyền bào chữa, bởi vì người bị tạm giữ cũng là đối
tượng bị buộc tội trong TTHS, vì vậy, họ đương nhiên cũng là chủ thể của quyền
bào chữa.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể rút ra kết luận:
Thứ nhất, bào chữa trong TTHS được hiểu là tất cả những hành vi mà
người bị buộc tội và NBC sử dụng để chống lại toàn bộ hay một phần sự buộc
tội, làm sáng tỏ những tình tiết về sự vô tội của người bị buộc tội hoặc làm giảm
nhẹ trách nhiệm cho họ. Như vậy, khi nói đến chủ thể thực hiện chức năng bào
chữa trong TTHS, thì đối với người bị buộc tội là quyền, còn đối với NBC thì đó
là nghĩa vụ. NBC có nghĩa vụ áp dụng mọi biện pháp do pháp luật quy định để
12




trong TTHS, trong đó có chức năng bào chữa là cơ sở tồn tại quyền bào chữa
trong TTHS.
Thứ ba, chủ thể của quyền bào chữa bao gồm: người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo. Theo quy định của BLTTHS Việt Nam thì:
Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội
quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu
thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ (khoản 1, Điều 48).
Bị can là người đã bị khởi tố về hình sự (khoản 1, Điều 49).
Bị cáo là người đã bị TA quyết định đưa ra xét xử (khoản 1, Điều 50).
Vậy quyền bào chữa chỉ thuộc về một chủ thể duy nhất trong TTHS, đó là
người bị buộc tội, tuy nhiên ở mỗi giai đoạn tố tụng khác nhau thì người bị buộc
tội có những tên gọi khác nhau.
Nhằm bảo đảm cho người bị buộc tội thực hiện tốt quyền bào chữa của
mình, Hiến pháp và pháp luật TTHS nước ta quy định: “Người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Cơ quan Điều
tra, VKS, TA có nhiệm vụ bảo đảm cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thực hiện
quyền bào chữa của họ”. Ngoài việc quy định người bị buộc tội có quyền bào
chữa, Hiến pháp và pháp luật nước ta quy định cả những bảo đảm cần thiết để
quyền bào chữa của họ được thực hiện.
Để tạo điều kiện để người bị buộc tội thực hiện tốt quyền bào chữa của
mình, thì pháp luật còn quy định người bị buộc tội có quyền nhờ người khác bào
chữa và quyền nhờ người khác bào chữa trở thành một bộ phận cấu thành nội
dung quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Mặt khác, pháp luật
còn quy định trách nhiệm của các cơ quan THTT trong việc đảm bảo cho người
bị buộc tội thực hiện tốt quyền bào chữa của mình. Bản thân các cơ quan, người
THTT khi thực hiện một biện pháp gây bất lợi cho người bị buộc tội cũng phải
hết sức thận trọng vì nhiệm vụ của họ không chỉ là “không bỏ lọt tội phạm” mà
còn “không làm oan người vô tội” Chính vì vậy, chế định quyền bào chữa được
14

15


của vụ án nhằm chứng minh về sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của
bị can, bị cáo và giúp bị can, bị cáo về mặt pháp lý cần thiết”[44, tr.128-129].
Một quan điểm khác lại cho rằng “Người bào chữa là người TGTT để
giúp đỡ Toà án” [16].
Tuy nhiên, mục đích cũng như ý nghĩa của việc tham gia tố tụng đầu tiên
của người bào chữa là xuất phát từ việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
người bị buộc tội. Họ TGTT để góp phần vào mục đích chung đó là bảo vệ
quyền lợi công dân (người bị buộc tội) đảm bảo công bằng, dân chủ trong hoạt
động tố tụng, bên cạnh đó, giúp cơ quan THTT thực hiện được nhiệm vụ giải
quyết vụ án được “đúng người, đúng tội, đúng pháp luật” tránh được những sai
sót cần thiết trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Điều đó không có nghĩa là họ là
những người THTT, nhân danh quyền lực công để giúp đỡ Tòa án, họ cũng
không phải là một bên tham gia vào quá trình giải quyết vụ án, mà họ là người
tham gia tố tụng có vị trí độc lập, và vị trí độc lập của họ là độc lập “phái sinh”,
bởi lẽ, việc họ TGTT không phải đương nhiên mà phải xem xét đến lợi ích của
người được họ bào chữa.
Trên thực tế, có quan điểm cho rằng NBC là người tham gia tố tụng với vị
trí độc lập, họ cho rằng khi thực hiện chức năng bào chữa, NBC được pháp luật
trao cho những quyền và nghĩa vụ nhất định và họ có thể tự bày tỏ quan điểm mà
không phụ thuộc vào ý chí của người bị buộc tội. Như chúng tôi đã phân tích ở
trên, quyền bào chữa là quyền năng pháp lý thuộc về một chủ thể duy nhất là
người bị buộc tội, NBC tham gia tố tụng để giúp người bị buộc tội thực hiện
quyền bào chữa của mình một cách có hiệu quả, qua đó góp phần bảo đảm sự
cân bằng giữa hai chức năng đối trọng nhau trong TTHS (chức năng buộc tội và
chức năng bào chữa), vì vậy, chúng tôi cho rằng, quyền của NBC được bắt
nguồn từ quyền của người bị buộc tội, và việc pháp luật quy định cho NBC có
những quyền và nghĩa vụ cụ thể khi tham gia tố tụng, đó chỉ là công cụ pháp lý

theo quy định của Luật này, thực hiện các dịch vụ pháp lý theo yêu cầu của cá
nhân, cơ quan, tổ chức”[25]. Như vậy, luật sư là NBC chuyên nghiệp, và theo
17


Điều 10 của Luật này thì chỉ những người hội đủ các điều kiện sau mới được
tham gia vào Đoàn Luật sư: “Là công dân Việt Nam trung thành với Tổ
quốc;Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật;Có phẩm chất đạo đức tốt;Có bằng cử
nhân luật; Đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật
sư; Có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư”[25].
Như vậy, một người hội đủ những điều kiện theo quy định của Điều 2 và
Điều 10, đồng thời không rơi vào trường hợp cấm theo khoản 4 Điều 17 của
Luật luật sư 2006, sửa đổi bổ sung năm 2012 thì được cấp chứng chỉ hành nghề
luật sư, và đủ điều kiện được TGTT với tư cách là người bào chữa cho người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật. Và chỉ những luật sư TGTT
bảo vệ quyền lợi cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong VAHS mới được gọi
là NBC. Điều này cũng được hiểu tương tự đối với BCVND và NĐDHP của
người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Việc nhấn mạnh này có ý nghĩa trong việc hiểu
đúng và chính xác về luật sư và NBC. Bởi vì, trong TTHS khi luật sư TGTT bảo
vệ quyền lợi cho những người khác không phải là người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và
nghĩa vụ liên quan đến vụ án thì họ TGTT với tư cách là người bảo vệ quyền lợi
cho đương sự.
Người đại diện của người bị buộc tội:
Cho đến hiện nay, BLTTHS của nước ta chưa có một quy định một cách
cụ thể về NĐDHP của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong VAHS. Tìm hiểu
vấn đề này, Thông tư liên ngành số 01/TTLN ngày 8/12/1988 của TANDTC,
VKSNDTC hướng dẫn một số quy định của BLTTHS trong đó có phần hướng
dẫn về NĐDHP của bị cáo là người chưa thành niên với nội dung: “đại diện hợp
pháp của bị cáo là người chưa thành niên là bố mẹ hoặc người đở đầu của họ”.

giúp pháp lý là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có đủ tiêu chuẩn
sau đây: “Có năng lự hành vi dân sự đầy đủ; có phẩm chất đạo đức tốt; Có bằng
cử nhân luật; Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ trợ giúp pháp lý; Có thời gian
làm công tác pháp luật từ hai năm trở lên; Có sức khoẻ bảo đảm hoàn thành
19


nhiệm vụ được giao”[28]. Và theo quy định của BLTTHS năm 2015 thì trợ giúp
viên trợ giúp pháp lý tham gia tố tụng với tư cách là NBC “trong trường hợp
người bị buộc tội thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý”[27].
1.2. Người bào chữa trong xét xử phúc thẩm vụ án hình sự
Người bào chữa tham gia vào hoạt động TTHS với một sứ mệnh cao cả.
Sự tham gia của người bào chữa đã thể hiện rõ nét tính nhân dân trong tố tụng
hình sự, với sự hiểu biết pháp luật và bản lĩnh nghề nghiệp, họ TGTT với vị trí
khách quan, ngang bằng với bên buộc tội, giúp cơ quan THTT kịp thời phát hiện
những sai lầm thiếu sót, khắc phục kịp thời, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt
động tố tụng.
Trong TTHS, vai trò của NBC thể hiện cụ thể qua các giai đoạn của quá
trình giải quyết vụ án, đó là khởi tố, điều tra, truy tố đến xét xử VAHS.
Ở giai đoạn điều tra, thì thông qua việc thực hiện quyền năng tố tụng của
thì NBC góp phần tích cực cùng với cơ quan điều tra trong việc thu thập chứng
cứ, những tình tiết có lợi cho người bị buộc tội. Việc tham gia tố tụng của NBC
trong giai đoạn điều tra vừa giúp cho người bị buộc tội đảm bảo quyền lợi của
mình, bên cạnh đó, nâng cao trách nhiệm của cơ quan tư pháp trong công tác
điều tra nhằm chứng minh tội phạm và người phạm tội, hạn chế tình trạng oan
sai và những vi phạm tố tụng trong quá trình điều tra, tạo điều kiện cho việc giải
quyết vụ án được nhanh chóng kịp thời và chính xác.
Ở giai đoạn xét xử, đây là giai đoạn quan trọng, có ý nghĩa quyết định bị
cáo có tội hay không ? và vấn đề hình phạt?
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, NBC có vai trò đặc biệt quan trọng đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status