VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHÂU VĂN SĨ
GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
KHÂU VĂN SĨ
GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM
THEO PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã ngành: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐẶNG QUANG PHƯƠNG
Tuy nhiên, do kiến thức và kinh nghiệm còn hạn chế của một Học viên,
Luận văn này không thể tránh được những thiếu sót nhất định.
Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các Thầy, Cô, các Học
viên, các Luật sư đồng nghiệp và đơn vị công tác để kiến thức của tác giả trong lĩnh
vực này ngày càng hoàn thiện thêm nữa.
Xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Khâu Văn Sĩ
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực.
Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa
vụ tài chính theo quy định của Học viện Khoa học xã hội.
Nay tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Học viện Khoa học xã hội xem
xét để tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Khâu Văn Sĩ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ GIỚI HẠN XÉT XỬ SƠ THẨM 7
xử sơ thẩm được coi là giai đoạn mang tính quyết định. Điều 9 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003 quy định: “Không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt
khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật”.
Để đảm bảo việc xét xử được chính xác, khách quan. Bộ luật Tố tụng hình sự
đã quy định Tòa án thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử sơ thẩm và phúc thẩm.
Thực tiễn xét xử của Tòa án các cấp đã áp dụng tương đối thống nhất các quy định
của Bộ luật Tố tụng hình sự trong hoạt động xét xử của mình.
Tuy hoạt động xét xử đã đạt được những kết quả nhất định, nhưng hiệu quả
xét xử của Tòa án vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách tư pháp. Một trong
những nguyên nhân dẫn đến hạn chế này là do những hạn chế, bất cập trong một số
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm.
Giới hạn xét xử sơ thẩm là chế định pháp lý quan trọng trong Tố tụng
hình sự. Xác định đúng đắn chế định này giúp cho cơ quan tiến hành tố tụng,
người tiến hành tố tụng nhận thức đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của
mình trong việc xét xử sơ thẩm; khắc phục được tình trạng chồng chéo trong
hoạt động của các cơ quan bảo vệ pháp luật cũng như tình trạng bỏ lọt tội phạm
hay bỏ lọt hành vi phạm tội.
1
Quy định giới hạn xét xử sơ thẩm là cơ sở pháp lý để xác định phạm vi
xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm, đồng thời cũng thể hiện được mối quan hệ chặt
chẽ giữ Viện kiểm sát và Tòa án trong Tố tụng hình sự. Giới hạn xét xử là phạm
vi mà Hội đồng xét xử được phép xét xử tại phiên tòa. Phạm vi đó được hạn chế
trong phạm vi những người và những hành vi mà Viện kiểm sát đã truy tố và
Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Giới hạn xét xử chính là yếu tố bảo đảm chức năng xét xử Tòa án được
thực hiện. Mặt khác, còn đảm bảo nguyên tắc quyền bào chữa của bị can, bị cáo.
Bởi vì, Tòa án không được phép xét xử những người chưa bị truy tố hoặc không
2. Tình hình nghiên cứu
Từ khi Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ra đời cho đến nay, vấn đề giới hạn
xét xử sơ thẩm là một trong những vấn đề pháp lý thu hút rất nhiều ý kiến tranh
luận. Đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học của các nhà nghiên cứu lý luận và
thực tiễn dưới các góc độ và mức độ khác nhau. Có thể kể đến một số công trình
nghiên cứu như: GS.TS Võ Khánh Vinh “Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng hình
sự” Nhà Xuất bản Tư pháp, Hà Nội, năm 2013 [67]; Dư Tuyết Lạnh “Chuẩn bị xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự theo Bộ luật Tố tụng hình sự Việt nam từ thực tiễn thành
phố Cần Thơ” Luận văn Thạc sĩ Luật học - Học viện Khoa học xã hội, năm 2013
[20]; Nguyễn Thị Mai Thùy “Phiên tòa hình sự sơ thẩm trong Tố tụng hình sự Việt
Nam từ thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh” Luận văn Thạc sĩ Luật học - Học viện
Khoa học xã hội, năm 2013 [47]; Nguyễn Văn Đông “Phiên tòa hình sự sơ thẩm
theo Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Đồng Nai” Luận văn Thạc
sĩ Luật học - Học viện Khoa học xã hội, năm 2015 [14]… Bên cạnh đó, một số bài
viết trao đổi, nghiên cứu về giới hạn xét xử trong Tố tụng hình sự nói chung và giới
hạn xét xử sơ thẩm nói riêng cũng xuất hiện rất nhiều và đã được đăng tải trên các
tạp chí chuyên ngành như: ThS. Vũ Gia Lâm “Về giới hạn xét xử của Tòa án” Tạp
chí Luật học, số: 05/1997 [22]; PGS.TS Phạm Hồng Hải “Bàn thêm về giới hạn xét
xử sơ thẩm” Tạp chí Luật học, số: 04/1998 [16]; ThS. Đinh Văn Quế “Một số vấn
đề về giới hạn xét xử sơ thẩm” Tạp chí Kiểm sát, số: 04/2006 [29]; PGS.TS Trần
Văn Độ “Hoàn thiện quy định của pháp luật về giới hạn xét xử” Tạp chí Tòa án
nhân dân, số: 03/2000 [13]; TS. Nguyễn Văn Huyên “Một số vấn đề về giới hạn xét
xử” Tạp chí Luật học, số: 06/2003 [18] …
3
Như vậy, các công trình nghiên cứu trên đây và những công trình nghiên cứu
khác không được liệt kê chủ yếu đề cập đến các vấn đề khác nhau của giới hạn xét
xử sơ thẩm. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau, việc xây
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu: Quy phạm về giới hạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật
Tố tụng hình sự và thực tiễn áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài chỉ nghiên cứu những vấn đề cụ thể về giới hạn xét xử trong giai
đoạn xét xử sơ thẩm theo Pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam.
- Về thời gian: Từ năm 2011 đến năm 2016.
- Về không gian: Việc áp dụng pháp luật về giới hạn xét xử sơ thẩm tại
Tòa án hai cấp Thành phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối, chính sách
của Đảng về Nhà nước và Pháp luật.
Phương pháp nghiên cứu các tài liệu, bản án hình sự đã áp dụng quy định
giới hạn xét xử sơ thẩm; phương pháp thống kê; phương pháp so sánh, phương
pháp phân tích tổng hợp các số liệu, báo cáo của Tòa án hai cấp Thành phố Hồ
Chí Minh từ năm 2011 đến năm 2016; phương pháp đối chiếu các số liệu với
thực trạng quy định của pháp luật…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Thông qua nghiên cứu đề tài đã phân tích, đối chiếu hoạt động xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự trên các phương diện lập pháp và thi hành pháp luật; đánh
giá thực trạng xét xử sơ thẩm và việc áp dụng pháp luật có liên quan đến giới
hạn xét xử sơ thẩm, chỉ ra được những bất cập trong quy định của Bộ luật Tố
tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm, trên cơ sở đó đề xuất những giải pháp
hoàn thiện vấn đề giới hạn xét xử sơ thẩm nhằm nâng cao hiệu quả xét xử của
Tòa án.
Với những kết quả nghiên cứu, luận văn có thể được sử dụng như là một
tài liệu nghiên cứu, tham khảo có giá trị cho sinh viên, học viên tại các trường
5
Khoản 1 Điều 102 Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm
2013 quy định: “Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa
Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [34].
Theo Từ điển Luật học: “Xét xử là hoạt động xem xét, đánh giá bản chất
pháp lý của vụ việc nhằm đưa ra một phán xét về tính chất, mức độ pháp lý của
vụ việc, từ đó nhân danh Nhà nước đưa ra một phán quyết tương ứng với bản
chất, mức độ trái hay không trái pháp luật của vụ việc” [8, tr. 869].
Thông qua hoạt động xét xử tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xem xét kết
quả của các hoạt động điều tra, truy tố, gỡ tội một cách công khai để đưa ra
phán quyết cuối cùng về vụ án.
Vì vậy, có thể nói hoạt động xét xử nói chung được coi là đặc biệt, quan
trọng và là giai đoạn trung tâm của quá trình giải quyết vụ án. Các hoạt động
thuộc các giai đoạn trước đó chỉ là các hoạt động mang tính xác định, thu thập
thông tin, chứng cứ để chứng minh sự việc xảy ra một cách khách quan, nhưng
chưa phải là quá trình định tội. Để xác định một người là có tội và phải chịu
hình phạt thì việc đưa người đó ra xét xử công khai trước phiên tòa là một quy
định bắt buộc.
7
Nhằm bảo đảm xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật thì hoạt động
xét xử phải được thực hiện ở hai cấp xét xử sơ thẩm và xét xử phúc thẩm. Mỗi
cấp xét xử đều có những chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn nhất định đối với từng
vụ án, nhưng xét xử sơ thẩm được xem là một giai đoạn giữ vị trí trọng tâm và
có vai trò quan trọng bậc nhất trong toàn bộ quá trình tố tụng.
Trong thực tiễn nghiên cứu khoa học đã có nhiều học giả đưa ra khái
niệm về xét xử sơ thẩm:
- Theo ThS. Vũ Mạnh Thông và LG. Nguyễn Ngọc Điệp cho rằng: “Xét
xử sơ thẩm là một giai đoạn Tố tụng (tiếp sau giai đoạn truy tố). Trong đó: Tòa
nghĩa tương đối. Bởi lẽ, cơ sở pháp lý làm phát sinh việc xét xử sơ thẩm không
chỉ là quyết định truy tố của Viện kiểm sát mà còn có quyết định của Tòa án cấp
phúc thẩm, giám đốc thẩm hoặc tái thẩm về việc hủy bản án để xét xử lại. Ngoài
các phiên tòa sơ thẩm là lần đầu tiên đưa vụ án hình sự ra xét xử công khai còn
có những phiên tòa sơ thẩm không phải là lần đầu tiên đưa vụ án ra xét xử công
khai là những phiên tòa xét xử sơ thẩm do bản án, quyết định sơ thẩm bị hủy để
điều tra, truy tố, xét xử lại hoặc chỉ xét xử lại.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì sau khi nghiên
cứu hồ sơ án, Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án có thể quyết định
đưa vụ án ra xét xử theo trình tự sơ thẩm nếu thấy có đủ căn cứ. Khi đó, các
chứng cứ, tài liệu của vụ án được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát thu thập trong
quá trình điều tra, truy tố đều được xem xét một cách công khai tại phiên tòa.
Những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng được tranh luận, đối
đáp về những vấn đề của vụ án mà tại giai đoạn điều tra, truy tố họ không có
điều kiện thực hiện. Tại phiên tòa sơ thẩm, những người tiến hành tố tụng. Đặc
biệt là Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân phải đánh giá chứng cứ một cách
khách quan, toàn diện và đầy đủ để đưa ra một phán quyết đúng đắn và có tính
thuyết phục cao nhằm giáo dục, cải tạo đối với bị cáo, đồng thời tuyên truyền ý
thức pháp luật trong quần chúng nhân dân thông qua hoạt động xét xử.
Từ những phân tích và lý giải trên, tác giả đưa ra một khái niệm khoa học
về xét xử sơ thẩm như sau: “Xét xử sơ thẩm là một giai đoạn của quá trình tố
tụng và được tiến hành theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy
định. Trong đó: Tòa án có thẩm quyền của cấp xét xử đầu tiên (thứ nhất), sau
9
khi nghiên cứu đầy đủ và toàn diện kết quả của các hoạt động trong các giai
đoạn trước đó, đưa vụ án ra xem xét công khai tại phiên tòa để xác định có hay
không có tội phạm xảy ra, một người có phải là người phạm tội hay không? Từ
xử là thẩm quyền xét xử. Theo Từ điển Tếng việt: “Thẩm quyền là một danh từ
chỉ tư cách được Nhà nước trao cho thực hiện, tiến hành hay quyết định (một
việc)” [17, tr. 764], còn “Giới hạn là đặt một điểm, một đường, một mức độ,
không được vượt qua” [17, tr.341].
Như vậy, xét ở góc độ ngôn từ thì nội dung giới hạn xét xử không thể
đồng nghĩa là thẩm quyền xét xử. Nếu xét ở góc độ khoa học thì thẩm quyền xét
xử của Tòa án chính là quyền của Tòa án đó được xem xét giải quyết một vụ án
theo quy định của Pháp luật Tố tụng hình sự, còn giới hạn xét xử là nội hàm của
thẩm quyền xét xử, dùng để chỉ trong phạm vi, mức độ nào đó Tòa án được
phép thực hiện và thuộc nội hàm thẩm quyền xét xử của Tòa án được phép xem
xét khi tiến hành giải quyết vụ án hình sự.
- Theo TS. Đặng Quang Phương cho rằng: “Giới hạn xét xử là sự thể
hiện nội dung của vấn đề nguyên tắc độc lập xét xử” [26, tr. 43]. Nhưng giới
hạn xét xử sơ thẩm là một trong những nội dung của mối quan hệ chế ước giữa
Viện kiểm sát và Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm án hình sự. Mặc dù, có
liên quan đến nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân xét xử độc lập và
chỉ tuân theo pháp luật”, song về nội dung và ý nghĩa của giới hạn xét xử và của
nguyên tắc độc lập khi xét xử hoàn toàn khác nhau. Giới hạn xét xử có ý nghĩa
rất lớn trong việc thể chế hóa quan hệ chế ước giữa Viện kiểm sát và Tòa án để
tránh sự lạm quyền, đảm bảo cho hoạt động tố tụng đạt hiệu quả, không để lọt
tội phạm và không làm oan người vô tội. Nguyên tắc “Thẩm phán và Hội thẩm
nhân dân xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là nguyên tắc hiến định
nhằm đảm bảo cho việc xét xử của Hội đồng xét xử được tiến hành một cách
khách quan, không bị bất kỳ cá nhân hay cơ quan, tổ chức nào can thiệp. Vì
vậy, nguyên tắc độc lập xét xử chỉ là một trong những cơ sở để quy định giới
hạn xét xử chứ không phải là nội dung của giới hạn xét xử.
- Theo PGS.TS. Phạm Hồng Hải cho rằng: “Giới hạn xét xử là Tòa án chỉ
xét xử về hình sự đối với những bị cáo và những hành vi đã bị Viện kiểm sát
truy tố mà Tòa án đã quyết định đưa vụ án ra xét xử.” còn “Giới hạn xét xử sơ
Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003, Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự
năm 2015, có thể hiểu: “Giới hạn xét xử sơ thẩm là phạm vi những bị cáo,
12
những hành vi của bị cáo mà Tòa án cấp sơ thẩm được xét xử tại phiên tòa theo
tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố và Tòa án quyết định đưa ra xét xử hoặc
Tòa án có thể xét xử bị cáo về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện
kiểm sát đã truy tố”.
Có thể nói nội dung giới hạn xét xử sơ thẩm theo quy định tại Điều 196
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 và Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2015 là một trong những nội dung tiến bộ hơn quy định giới hạn xét xử tại Điều
170 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 ở chỗ cho phép Tòa án khi giải quyết
vụ án có toàn quyền độc lập quyết định khung hình phạt có thể nặng hơn hoặc
nhẹ hơn khung hình phạt theo tội danh Viện kiểm sát truy tố và quyết định
chuyển tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn tội danh mà Viện kiểm sát đã truy tố.
Tuy nhiên, quy định về giới hạn xét xử sơ thẩm tại Điều 196 Bộ luật Tố tụng
hình sự năm 2003 và Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 vẫn chưa thật
sự hoàn thiện vì không cho phép Tòa án cấp sơ thẩm được xét xử bị cáo và hành
vi của bị cáo đã thực hiện về một tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện
kiểm sát đã truy tố.
Đây là một trong những hạn chế rất lớn, đã vi phạm và thậm chí còn đi
ngược một số nguyên tắc cơ bản trong Tố tụng hình sự như: Nguyên tắc xác
định sự thật của vụ án…Đặc biệt, là nguyên tắc Thẩm phán và Hội thẩm nhân
dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.
Từ việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá các quan điểm của các học giả và
quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về giới hạn xét xử sơ thẩm, cùng với việc
phân tích nội dung khái niệm xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đã được trình bày ở
phần trên, tác giả đưa ra khái niệm khoa học về giới hạn xét xử sơ thẩm như
đảm pháp chế trong hoạt động xét xử là một trong những nhiệm vụ trọng tâm
nhằm đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội Chủ nghĩa của
dân, do dân và vì dân. Vì vậy, việc nghiên cứu để sửa đổi bổ sung quy định về
giới hạn xét xử sơ thẩm là cần thiết và cấp bách, có ý nghĩa quan trọng trong
việc triển khai đường lối, chủ trương của Đảng trong hoạt động tư pháp.
Quy định giới hạn xét xử sơ thẩm thể hiện rõ sự phân định chức năng,
nhiệm vụ, quyền hạn của Nhà nước đối với Tòa án và Viện kiểm sát đã được
Hiến pháp năm 2013 ghi nhận, đồng thời còn thể hiện rõ mối quan hệ phối hợp
14
và chế ước lẫn nhau giữa hai cơ quan. Tòa án và Viện kiểm sát là hai cơ quan
tiến hành tố tụng nhân danh Nhà nước thực hiện quyền lực Nhà nước một cách
khách quan, công minh vì lợi ích của Nhà nước, xã hội, cũng như lợi ích của
công dân. Vì vậy, việc nhận thức và quy định giới hạn xét xử sơ thẩm một cách
đúng đắn sẽ là cơ sở bảo đảm cho bị cáo thực hiện được những quyền cơ bản
của mình mà cụ thể là bảo đảm cho bị cáo có thể thực hiện quyền bào chữa tại
phiên tòa, đồng thời là cơ sở đảm bảo cho Tòa án xét xử đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, góp phần bảo đảm nguyên tắc pháp chế Xã hội Chủ nghĩa, bảo
đảm công bằng xã hội.
1.1.3.2. Về pháp lý
Quy định giới hạn xét xử sơ thẩm là một trong các quy định đảm bảo cho
hoạt động xét xử được thực hiện theo một trình tự nhất định và đảm bảo tính
chính xác cho hoạt động của các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng.
Đặc biệt, là đối với Tòa án trong việc thực hiện chức năng xét xử để xem xét và
quyết định các vấn đề cụ thể về vụ án. Từ đó hạn chế hoặc ngăn chặn sự tùy tiện
cũng như lạm quyền của Tòa án và Viện kiểm sát trong Tố tụng hình sự; đảm
bảo cho bản án, quyết định của Tòa án thật sự khách quan, đúng pháp luật.
Vấn đề giới hạn xét xử lần đầu tiên được pháp điển hóa tại Điều 170 Bộ
đến nay, việc áp dụng quy định giới hạn xét xử vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế,
vướng mắc cả về lý luận và thực tiễn cần được nghiên cứu, sửa đổi bổ sung để
hoàn thiện trong thời gian tới.
Do vậy, việc nhận thức một cách đúng đắn về nội dung của vấn đề giới
hạn xét xử là nền tảng quan trọng trong hoạt động xây dựng và hoàn thiện Bộ
luật Tố tụng hình sự trong thời gian tới.
1.1.3.3. Về thực tiễn
Qua thực tiễn xét xử các vụ án hình sự, quy định giới hạn việc xét xử tại
Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 đã góp phần đảm bảo quyền bào
chữa của bị cáo tại phiên tòa, đã thể hiện rõ mối quan hệ chế ước giữa Tòa án và
Viện kiểm sát trong hoạt động Tố tụng hình sự. Tuy nhiên, quy định này vẫn
còn tồn tại những bất cập và đã gây ra những khó khăn trong thực tế áp dụng.
16
Bởi vì, Tòa không được xét xử bị cáo theo tội danh khác nặng hơn tội danh mà
Viện kiểm sát đã truy tố.
Theo Nghị quyết số: 04/2004/NQ - HĐTP ngày 05 tháng 11 năm 2004
của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số
quy định trong phần thứ ba “Xét xử sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng hình sự năm
2003 (sau đây gọi tắt là Nghị quyết số: 04/2004/NQ-HĐTP) chỉ hướng dẫn thi
hành đoạn 2 Điều 196 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 là Tòa án có thể xét xử
bị cáo theo khoản khác nặng hơn khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo
trong cùng một điều luật hoặc xét xử bị cáo về tội danh khác bằng hoặc nhẹ hơn
tội danh Viện kiểm sát đã truy tố mà không hướng dẫn về trường hợp Tòa án
thấy cần xét xử bị cáo theo tội danh khác nặng hơn tội danh mà Viện kiểm sát
truy tố.
Vì vậy, khi Tòa án phát hiện bị cáo phạm một tội khác nặng hơn thì chỉ
được ra quyết định trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung theo tội nặng
này có ý nghĩa rất quan trọng, góp phần vào việc bảo đảm cho hoạt động Tố
tụng hình sự được diễn ra thống nhất, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của
công dân khi tham gia tố tụng. Đặc biệt, có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng
Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy, khi quy định giới hạn xét xử sơ thẩm, các nhà
làm luật cần phải căn cứ vào hệ thống các nguyên tắc cơ bản của Tố tụng hình
sự. Theo tác giả, khi quy định giới hạn xét xử sơ thẩm phải căn cứ vào các
nguyên tắc cơ bản sau đây:
1.2.1. Mối quan hệ với nguyên tắc bảo đảm Pháp chế Xã hội Chủ
nghĩa
Xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật
nói chung và các quy phạm trong Bộ luật Tố tụng hình sự nói riêng để góp phần
bảo vệ quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân là một trong
những nhiệm vụ trọng tâm nhằm đẩy mạnh việc xây dựng Nhà nước pháp
quyền Xã hội Chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân. Do vậy, để các cơ quan tiến
hành tố tụng và người tiến hành tố tụng tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản
của công dân, Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Tố tụng hình sự đã quy định
nguyên tắc pháp lý cơ bản nhất trong hoạt động Tố tụng hình sự. Đó là, nguyên
tắc bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa.
18
Bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa tức là bảo đảm mọi hoạt động của
các chủ thể phải tuân theo pháp luật. Trong hoạt động Tố tụng hình sự, nguyên
tắc bảo đảm pháp chế Xã hội Chủ nghĩa đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng,
những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng phải tuân thủ triệt để,
nghiêm chỉnh, thống nhất các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự. Các cơ quan, người tiến hành tố tụng phải hoạt
động theo đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo quy định của
pháp luật nói chung và Bộ luật Tố tụng hình sự nói riêng. Mọi hành vi lạm
chứng cứ chứng minh bị cáo bị truy tố và đưa ra xét xử đã thực hiện hành vi
phạm tội thì Hội đồng xét xử phải tuyên bố bị cáo không phạm tội. Vì thế, trong
chừng mực nào đó, các nhà làm luật cũng cần lưu ý đến nguyên tắc không ai bị
coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có
hiệu lực pháp luật làm cơ sở xây dựng quy định giới hạn xét xử sơ thẩm cho phù
hợp với nội dung của nguyên tắc.
1.2.3. Mối quan hệ với nguyên tắc xác định sự thật của vụ án
Quá trình giải quyết một vụ án trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, song
các giai đoạn này, đều có chung một mục đích là tìm ra sự thật của vụ án. Để
đấu tranh phòng, chống tội phạm đạt hiệu quả cao thì mọi hành vi phạm tội đều
phải được phát hiện kịp thời và bị xử lý theo quy định của pháp luật. Vì vậy, xác
định sự thật vụ án là tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án và
đã được Bộ luật Tố tụng hình sự ghi nhận là một trong những nguyên tắc cơ bản
trong hoạt động Tố tụng hình sự. Xác định sự thật của vụ án là yêu cầu khách
quan trong việc giải quyết vụ án. Bởi lẽ, chỉ khi xác định được sự thật của vụ án
thì vụ án mới được giải quyết chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Theo đó, các cơ quan tiến
hành tố tụng phải xác định toàn bộ diễn biến của việc phạm tội đã xảy ra một
cách khách quan, toàn diện, đầy đủ, chính xác; làm rõ những chứng cứ buộc tội,
chứng cứ gỡ tội. Trách nhiệm xác định sự thật của vụ án thuộc về các cơ quan
tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; bị can, bị cáo có quyền nhưng không
bắt buộc phải chứng minh.
Khi tiến hành xét xử một vụ án, Tòa án cần phải áp dụng mọi biện pháp
hợp pháp để xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện, đầy đủ để
20