Thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù theo pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ) - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NHA TRANG

THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN 7,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ NHA TRANG

THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN 7,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành :. Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số

: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN THI HÀNH
CÁC HÌNH PHẠT NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ TRÊN ĐỊA BÀN
QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NĂM 2012 ĐẾN NĂM 2016 ..30
2.1. Quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành hình phạt cảnh cáo trên địa
bàn Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh ..............................................................30
2.2. Quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành hình phạt tiền trên địa bàn
Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh .....................................................................33
2.3. Quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành hình phạt cải tạo không
giam giữ trên địa bàn Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh ..................................36
2.4. Quy định của pháp luật và thực tiễn thi hành hình phạt trục xuất trên địa
bàn Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh ..............................................................44
2.5. Đánh giá thực tiễn thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù trên địa
bàn Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh ..............................................................48
CHƯƠNG 3. CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH
CÁC HÌNH PHẠT NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ .....................................63
3.1. Cải cách tư pháp về thi hành án hình sự ........................................................63
3.2. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình
phạt tù .............................................................................................................65
3.3. Giải pháp bảo đảm cho thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù ............71
KẾT LUẬN ..............................................................................................................77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................79


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BLHS

Bộ luật Hình sự

BLTTHS

Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước, áp dụng
đối với các hành vi vi phạm quy định của pháp luật hình sự. Để hình phạt được
người bị kết án thực hiện triệt để, nghiêm túc, đảm bảo hiệu quả công tác thi hành,
đạt được mục đích của hình phạt thì phải thông qua công tác THAHS. Thi hành các
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù là một phần của hoạt động THAHS. Đây là hoạt
động hành chính - tư pháp phức tạp liên quan đến nhiều lĩnh vực của đời sống xã
hội, do nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền phối hợp tổ chức thực hiện, nhằm
đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật được thi hành
nghiêm chỉnh. Thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù cũng như công tác
THAHS nói chung là công tác rất quan trọng và được thực hiện rất nhiều trên thực
tế, đòi hỏi có hành lang pháp lý rõ ràng, thống nhất.
Tuy nhiên, ở Việt Nam, trước khi có Luật THAHS năm 2010, hoạt động
THAHS nói chung và thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù nói riêng được
thực hiện theo hàng loạt các văn bản pháp luật đơn hành mà chưa có một văn bản
quy định một cách thống nhất, đầy đủ. Thực tiễn THAHS trong những năm qua và
tình trạng pháp luật thực định chưa được đảm bảo đã đặt ra yêu cầu phải có sự ra
đời của một văn bản thống nhất điều chỉnh hoạt động này. Luật THAHS được Quốc
hội thông qua ngày 17/6/2010, có hiệu lực thi hành ngày 01/7/2011 là văn bản pháp
luật mang tính pháp điển hóa đầu tiên trong lịch sử pháp luật THAHS nhằm mục
đích tạo cơ sở pháp lý vững chắc và đảm bảo tính thống nhất trong hoạt động thi
hành án. Công tác thi hành án nói chung và thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình
phạt tù nói riêng nhờ đó đã có những thuận lợi, tiến bộ nhất định. Tuy nhiên, trước
những vấn đề phức tạp phát sinh trên thực tế và một số quy định chưa thực sự phù
hợp, chưa mang tính khả thi và chặt chẽ, Luật THAHS cùng với một số văn bản
hướng dẫn hiện tại chưa đáp ứng được yêu cầu về một hành lang pháp lý rõ ràng,
toàn diện và đầy đủ cho công tác này.

1



2


khác nhau. Trước hết, hoạt động THAHS nói chung, thi hành hình phạt nhẹ hơn
hình phạt tù nói riêng được phân tích trong một số giáo trình, sách chuyên khảo
như: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam của Trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh; Bình luận Luật Thi hành án hình sự năm 2010 do GS.TS. Nguyễn
Ngọc Anh chủ biên; Tài liệu tập huấn chuyên sâu Luật Thi hành án hình sự do
GS.TS. Nguyễn Ngọc Anh chủ biên; Pháp luật thi hành án hình sự Việt Nam Những vấn đề lý luận và thực tiễn của GS.TS. Võ Khánh Vinh và PGS.TS. Nguyễn
Mạnh Kháng; Một số vấn đề về thi hành án hình sự của TS. Trần Quang Tiệp.
Nghiên cứu về thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù còn được đề cập
chung trong một số bài viết đăng trên các tạp chí chuyên ngành như các bài viết:
Thử bàn mấy vấn đề lí luận về thi hành án của PGS.TS. Lê Minh Tâm đăng trên
Tạp chí Luật học số 2/2001; Hoạt động thi hành án hình sự hiện nay - Thực trạng
và giải pháp hoàn thiện của tác giả Trương Hòa Bình đăng trên Tạp chí Khoa học
pháp lý số 4/2002; Một số vấn đề về hình phạt cải tạo không giam giữ của tác giả
Trần Văn Độ đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 5/1995; Các căn cứ thi hành án
của tác giả Trần Văn Độ đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân số 6/1998, Nhu cầu
hoàn thiện pháp luật về thi hành án hình sự ở nước ta hiện nay của tác giả Nguyễn
Trọng Hách đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 5/2002.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, khảo sát cho thấy, các công trình nghiên cứu,
các bài viết, đề tài khoa học nói trên đều là những công trình có giá trị về mặt khoa
học và thực tiễn. Tuy nhiên, nội dung các đề tài chỉ hướng đến việc phân tích,
nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về thi hành án và thi hành án hình sự, công
tác thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù thì mới được thể hiện một phần
trong kết quả của các công trình nghiên chung đó mà chưa được triển khai nghiên
cứu độc lập, chuyên sâu để đánh giá lý luận và tổng kết thực tiễn. Cho đến nay,
chưa có tác giả nào đưa ra công trình khoa học nghiên cứu một cách hệ thống, toàn
diện về vấn đề thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù ở cả hai phương diện lý
luận và thực tiễn áp dụng pháp luật phù hợp với các quy định của pháp luật hiện

Quận 7 thành phố Hồ Chí Minh.
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Về nội dung: luận văn nghiên cứu đề tài dưới góc độ thi hành án hình sự.
Do vậy nội dung của luận văn tập trung làm rõ những vấn đề lý luận của thi hành án

4


các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, đánh giá thực tiễn thi hành án các hình phạt này
và đưa ra giải pháp nâng cao hiệu quả thi hành án.
+ Về không gian: luận văn nghiên cứu và đánh giá thực tiễn thi hành án các
hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù trên địa bàn Quận 7, Tp. Hồ Chí Minh.
+ Về thời gian: luận văn tập trung khảo sát thực tiễn thi hành các hình phạt
nhẹ hơn hình phạt tù từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Cơ sở phương pháp luận: Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp
luận là phép duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác – Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh
về Nhà nước và pháp luật; hệ thống các quan điểm của Đảng, Nhà nước ta về đấu
tranh phòng, chống tội phạm, về chính sách hình sự đối với việc thi hành các hình
phạt nhẹ hơn hình phạt tù.
- Phương pháp nghiên cứu: tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên
cứu khác nhau, cụ thể là các phương pháp sau:
+ Phương pháp so sánh: làm rõ những điểm mới, tiến bộ trong quy định về
thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù giữa các văn bản cùng quy định về vấn
đề này ở các giai đoạn lịch sử khác nhau nhằm tìm ra những quy định tiến bộ, phù
hợp, cần ghi nhận, kế thừa.
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp: đây là phương pháp xuyên suốt toàn bộ
luận văn. Sử dụng phương pháp này nhằm làm rõ lý luận về các hình phạt nhẹ hơn
hình phạt tù và thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù cũng như lịch sử quy
định về thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù.


6


CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ THI HÀNH CÁC HÌNH PHẠT NHẸ HƠN HÌNH PHẠT TÙ
1.1. Khái niệm, ý nghĩa của thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù
1.1.1. Khái niệm
Theo Từ điển Tiếng Việt, thi hành là: "Đem cái việc đã dự định làm thành sự
thực" [43, tr.746], có nghĩa là, biến một việc mới chỉ nằm trong dự định thành sự
thực. Trên cơ sở đó, có thể hiểu thi hành án là đem những phán quyết của Tòa án
trong bản án ra làm thành sự thực. Từ điển Luật học ghi nhận, “thi hành án là hoạt
động của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, được tiến hành theo thủ tục, trình tự
được pháp luật quy định nhằm thực hiện các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp
luật của Tòa án” [55, tr.705]. Như vậy thi hành án có thể được hiểu là đem bản án
của Tòa án ra thi hành trên thực tế. “Thi hành án là một hoạt động mang tính hành
chính – tư pháp tuân theo những nguyên tắc không giống các nguyên tắc chỉ đạo
hoạt động tố tụng hình sự” [44, tr.415]. Hiện nay, ở nước ta có 5 loại hình thi hành
án: Dân sự, hình sự, kinh tế, lao động, hành chính. Bên cạnh những điểm chung,
mỗi loại hình thi hành án lại có những đặc điểm riêng biệt. Trong đó, THAHS là
một nội dung lớn trong thi hành án nói chung. THAHS là việc đưa các bản án,
quyết định của Tòa án về hình sự đã có hiệu lực pháp luật ra thi hành trên thực tế.
Nói cách khác, “THAHS là một hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước nhằm
thực hiện bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án trong thực tiễn” [4,
tr.6]. Như vậy, THAHS là giai đoạn tiếp ngay sau hoạt động xét xử của Tòa án,
nhằm đảm bảo cho bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực được thi hành
nghiêm chỉnh. Mặc dù có quan hệ chặt chẽ với pháp luật hình sự, pháp luật tố tụng
hình sự nhưng trong hoạt động THAHS, tính chấp hành có ý nghĩa chủ đạo trên cơ
sở quy định về thủ tục thi hành mà không có tính tố tụng. Đây là một hoạt động

được hiểu là việc thực hiện các hình phạt đã được Tòa án tuyên và có hiệu lực pháp
luật. Thi hành hình phạt là hoạt động mang tính quyền lực Nhà nước, là công đoạn
cuối cùng của việc thực thi quyền lực tư pháp, hiện thực hóa công lý đã được Tòa
án tuyên trong các bản án, quyết định. Việc thi hành hình phạt phải tuân theo các
quy định chặt chẽ của pháp luật, đảm bảo sự công bằng, nghiêm minh, đồng thời
cũng phải đáp ứng yêu cầu tuyên truyền, giáo dục, đấu tranh phòng chống tội phạm

8


– mục đích của pháp luật hình sự. Qua đó, có thể khái quát: thi hành hình phạt là
hoạt động do cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục
pháp luật đã quy định, kết hợp giữa phương pháp giáo dục, thuyết phục và cưỡng
chế để đảm bảo lợi ích của Nhà nước, tổ chức và công dân, bảo vệ trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa.
Trong thi hành hình phạt, việc thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù
chiếm một phần rất quan trọng. Nó có bản chất khác với thi hành hình phạt tù. Sự
khác nhau đó xuất phát từ hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù là những hình phạt không
buộc người bị kết án cách ly khỏi xã hội và cải tạo dưới sự hỗ trợ của xã hội. Chính
vì vậy, bản chất thi hành án các hình phạt nhẹ hơn tù là khi thi hành án sẽ không
cách ly người bị kết án ra khỏi đời sống xã hội mà cải tạo, giáo dục họ trong môi
trường xã hội dưới sự hỗ trợ, giám sát của cả cộng đồng. Việc thi hành hình phạt
nhẹ hơn hình phạt tù và hiệu quả của công tác này phụ thuộc nhiều vào hiệu quả
quản lý của cơ quan chức năng cũng như sự hỗ trợ tích cực, sự giám sát của cộng
đồng, xã hội giúp cho người bị kết án cải tạo để trở thành người có ích cho xã hội,
có ý thức tuân theo pháp luật. Qua đó, vai trò của cộng đồng, xã hội được phát huy
một cách tối đa. Như vậy, cơ chế thi hành án đối với các hình phạt nhẹ hơn hình
phạt tù phát huy vai trò tích cực của chính quyền địa phương, cộng đồng xã hội
trong quá trình thi hành án. Thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù thực chất là
hoạt động quản lý hành chính - tư pháp hình sự.

thi hành hoặc áp dụng các biện pháp buộc họ phải thi hành nghĩa vụ đã được xác
định trong bản án, quyết định của Tòa án; giáo dục họ ý thức tôn trọng pháp luật,
tôn trọng lợi ích của cá nhân, của Nhà nước và xã hội, giáo dục họ trở thành người
công dân có ích với xã hội. Phương pháp ở đây là thuyết phục giáo dục và mệnh
lệnh hành chính.
Việc thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù được giao cho cơ quan thi
hành án dân sự hay cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương thực hiện theo trình tự,
thủ tục do pháp luật quy định. Có thể nói, trong quá trình thi hành các hình nhẹ hơn
hình phạt tù, pháp luật được áp dụng chủ yếu không phải là pháp luật tố tụng, mà là
các quy định pháp luật về hành chính - tư pháp. Như vậy, thi hành các hình phạt nhẹ
hơn hình phạt tù trước hết là hoạt động của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, cùng với sự
phát triển của xã hội, quá trình xã hội hóa hoạt động thi hành các hình phạt nhẹ hơn

10


hình phạt tù cũng đang được tiến hành với nhiều triển vọng khả quan. Đây là điểm
khác biệt so với hoạt động tố tụng hoàn toàn mang tính quyền lực tư pháp.
Thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù nhằm vào đối tượng là những
người bị Tòa án kết án cảnh cáo, trục xuất, phạt tiền và cải tạo không giam giữ.
Trong các hoạt động thi hành án hình sự, hoạt động thi hành các hình phạt nhẹ hơn
hình phạt tù không mang tính cưỡng chế nghiêm khắc bằng thi hành án phạt tù.
Người chấp hành án là cá nhân người phạm tội. Họ không bị cách ly khỏi xã hội,
khỏi môi trường sống bình thường mà họ tự cải tạo và chịu sự quản lý, giáo dục
cũng như giúp đỡ của gia đình, cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, sau khi chấp hành
xong bản án, quyết định của Tòa án, người bị kết án vẫn còn phải chịu hậu quả pháp
lý trong một thời gian nhất định, đó là án tích.
Thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù là buộc người bị kết án phải
chấp hành hình phạt. Vì thế mọi phương pháp, cách thức tác động đến việc chấp
hành hình phạt của người bị kết án đều dẫn đến mục đích: trừng phạt và giáo dục

pháp luật của Tòa án trong thực tiễn. Bản án, quyết định của Tòa án được thi hành
chính là lúc công lý được thực hiện trong cuộc sống. Mọi hoạt động tố tụng hình sự
đều dừng lại ở việc phán quyết của Tòa án, còn thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình
phạt tù lại được triển khai bắt đầu từ một phán quyết của Tòa án có hiệu lực thi
hành. Thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù nhằm đảm bảo cho các nội dung
trong phán quyết của Tòa án được thực hiện nghiêm chỉnh trên thực tế. Nếu như
bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật không được thi hành hoặc thi
hành không nghiêm thì quá trình tố tụng trước đó như khởi tố, điều tra, truy tố, xét
xử khó có ý nghĩa đầy đủ, đồng thời khó giáo dục được công dân ý thức tôn trọng
pháp luật và trật tự pháp luật. Chính vì vậy, việc bảo đảm hiệu lực của các bản án,
quyết định của Tòa án hay cụ thể hơn là thực hiện một cách đúng đắn, có hiệu quả
công tác THAHS nói chung, công tác thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù
nói riêng là nhằm đảm bảo trật tự kỷ cương xã hội, bảo vệ sự nghiêm minh của pháp
luật và quyền lực Nhà nước.
Thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù là cách thức nhằm đạt mục đích
của hình phạt là cải tạo, giáo dục người phạm tội trở thành người lương thiện. Ngoài
mục đích trừng trị, răn đe, công tác này được thực hiện chủ yếu là nhằm cảm hoá tư
tưởng, giáo dục nhân cách với mục đích làm cho người thụ án trở thành một công

12


dân tốt cho xã hội. Khi thi hành hình phạt với những quy trình tố tụng cụ thể, người
phải thi hành án sẽ nhận ra lỗi lầm của mình, xác định được định hướng cải tạo bản
thân. Mặc dù chế tài áp dụng với họ ở mức độ nhẹ nhưng với ý thức tự cải tạo tốt,
họ sẽ tích cực cải tạo, rèn luyện mình trở thành công dân có ích cho xã hội. Việc thi
hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù không buộc người chấp hành án phải cách
ly khỏi xã hội mà vẫn để họ cải tạo trong môi trường xã hội thì ý thức tự cải tạo của
chính bản thân người bị kết án phải rất tốt nhưng họ rất khó để thực hiện một mình.
Chính vì vậy, thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù đòi hỏi phải gắn quá trình

dụng đúng đắn chế định thi hành hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù trong thực tiễn là
bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa.
1.2. Lịch sử hình thành và phát triển quy định về thi hành các hình phạt
nhẹ hơn hình phạt tù ở Việt Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hành Luật thi
hành án hình sự năm 2010
1.2.1. Quy định về thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù ở Việt
Nam từ năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 1988
Sau khi cách mạng tháng Tám thành công, hệ thống chính trị mới ở Việt
Nam được thành lập. Cùng với sự ra đời của nhà nước dân chủ nhân dân, các cơ
quan bảo vệ pháp luật cũng lần lượt được thành lập. Trong những ngày đầu tiên của
chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký ban hành Sắc lệnh xóa bỏ bộ
máy nhà nước của chế độ cũ, như: Sắc lệnh số 18/SL ngày 8/9/1945 bãi bỏ ngạch
học quan; Sắc lệnh số 32/SL ngày 13/9/1945 bãi bỏ ngạch quan hành chính và tư
pháp. Hệ thống các cơ quan bảo vệ pháp luật - công cụ đắc lực phục vụ cho chế độ
mới nhanh chóng được thiết lập. Việc ban hành Sắc lệnh số 33/SL ngày 13/9/1945
của Chính phủ lâm thời và bổ sung bằng Sắc lệnh số 21/SL ngày 24/01/1946 về
việc thành lập các Tòa án quân sự, thiết lập hệ thống xét xử của Nhà nước mới.
Đồng thời, cơ quan quản lý và tổ chức THAHS từng bước được hình thành và phát
triển, đáp ứng các yêu cầu của công tác xét xử và bảo vệ pháp luật. Sắc lệnh số
13/SL ngày 24/01/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng
hòa về tổ chức các Tòa án và các ngạch Thẩm phán đã đặt cơ sở pháp lý đầu tiên
cho tổ chức THAHS ở Việt Nam. Tại khoản 3, Điều 3 Sắc lệnh quy định, ban tư
pháp xã có quyền thi hành những mệnh lệnh của thẩm phán cấp trên, bao gồm các

14


bản án và quyết định của Tòa án. Đây là quy định đầu tiên về công tác THAHS nói
chung và thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù nói riêng của chính quyền
cách mạng thời kỳ đó.

phạt tù nói riêng. Tuy nhiên, việc các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù được thi hành
theo trình tự thủ tục như thế nào thì văn bản này chưa có quy định một cách cụ thể.
Riêng đối với thi hành hình phạt cải tạo không giam giữ, BLHS năm 1985 đã ghi
nhận là hình phạt chính. Vì vậy, Hội đồng thẩm phán đã ban hành Nghị quyết số 02HĐTP-TANDTC/QĐ ngày 05/01/1986 hướng dẫn áp dụng một số quy định của
BLHS năm 1985. Tại các văn bản này mới chỉ đưa ra các yêu cầu chung nhất về thi
hành hình phạt cải tạo không giam giữ bao gồm: đối tượng áp dụng, chủ thể thi
hành (cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội nhưng chưa quy định cụ thể vai trò, chức
năng của từng cơ quan); nội dung thi hành (quy định cơ bản về khấu trừ thu nhập,
miễn khấu trừ thu nhập). Tuy nhiên, về cơ bản các quy định đó vẫn chưa thể coi là
đầy đủ.
Như vậy, ở giai đoạn này, việc thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù chưa
được quy định một cách cụ thể mà chỉ được nhắc đến ở một số văn bản pháp luật, chủ
yếu đề cập đến các cơ quan có thẩm quyền THAHS nói chung. Quy định về trình tự,
thủ tục, thẩm quyền thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù vẫn còn mang tính chất
sơ thảo, chung chung mà chưa được ghi nhận một cách cụ thể và chi tiết.
1.2.2. Quy định về thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù ở Việt
Nam từ khi có Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 1988 đến trước khi ban hành Bộ
Luật Tố tụng Hình sự năm 2003
BLTTHS đầu tiên của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc
hội thông qua ngày 28/6/1988. Bộ luật này đã dành riêng một chương để quy định
về thi hành án nói chung và thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù nói riêng.
Có thể nói đây là văn bản pháp điển đầu tiên quy định cụ thể về THAHS, trong đó
có thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù. Các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù
áp dụng ở thời điểm này được quy định tại BLHS năm 1985. Qua bốn lần được sửa
đổi, bổ sung năm 1989, 1991, 1992, 1997, quy định về các hình phạt nhẹ hơn hình
phạt tù của BLHS năm 1985 cũng không thay đổi. Về bản chất, giai đoạn này chỉ có
03 hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù được quy định là: Cảnh cáo; Phạt tiền; Cải tạo
không giam giữ (bao gồm cả cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội). Việc thi hành ba

16


17


tụng hình sự. Qua những quy định tại văn bản này, hành lang pháp lý cho việc thi
hành hình phạt cải tạo không giam giữ đã tương đối rõ ràng.
Thi hành hình phạt trục xuất. BLTTHS năm 1988 chưa quy định về việc thi
hành hình phạt trục xuất. Việc thi hành hình phạt này được thực hiện theo quy định
tại Pháp lệnh số 24/2000/PL-UBTVQH10 ngày 28/04/2000 quy định về Nhập cảnh,
xuất cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam của Ủy ban thường vụ Quốc
hội. Pháp lệnh này dành chương IV quy định về trục xuất, trong đó có một số quy
định về thi hành hình phạt trục xuất như: trường hợp bị trục xuất: “Người nước
ngoài bị trục xuất khỏi Việt Nam trong trường hợp bị Toà án có thẩm quyền của
Việt Nam xử phạt trục xuất” [49, tr. 1]; Cơ quan có trách nhiệm thi hành bản án trục
xuất là Cơ quan quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an; Thời hạn giao bản án
cho người bị trục xuất chậm nhất là 24 giờ trước khi thi hành. Như vậy, ở giai đoạn
này, quyết định thi hành án trục xuất chưa được quy định mà việc thi hành chỉ cần
áp dụng trực tiếp bản án; Trường hợp cưỡng chế trục xuất. Hai tháng sau, BLTTHS
năm 1988 sửa đổi, bổ sung năm 2000 bổ sung Điều 234a quy định về thi hành hình
phạt trục xuất. Cơ quan có trách nhiệm thi hành hình phạt này vẫn không thay đổi.
Quyết định thi hành án phạt trục xuất đã được quy định để làm căn cứ cho việc thi
hành hình phạt này: “Người bị trục xuất phải rời khỏi Việt Nam trong thời hạn
chậm nhất là 15 ngày, kể từ khi có quyết định thi hành án”. Trên cơ sở đó, ngày
23/8/2001, Chính phủ ban hành Nghị định số 54/2001/NĐ-CP hướng dẫn thi hành
hình phạt trục xuất. Theo đó, cơ quan thi hành hình phạt trục xuất được quy định
trách nhiệm cụ thể hơn, Cơ quan Quản lý xuất nhập cảnh thuộc Bộ Công an chịu
trách nhiệm chủ trì, phối hợp với các cơ quan có liên quan tổ chức thi hành hình
phạt trục xuất đối với người bị kết án trục xuất theo quyết định thi hành án của Toà
án. Ngoài ra, văn bản này còn quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của người bị
trục xuất; Hồ sơ, thủ tục thi hành và kinh phí thi hành hình phạt trục xuất. Các quy

1.2.3. Quy định về thi hành các hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù ở Việt
Nam từ khi có Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 đến trước khi ban hành Luật
Thi hành án hình sự
BLTTHS năm 2003 được ban hành khi BLHS năm 1999 đang có hiệu lực.
Điều 28 BLHS năm 1999 quy định về hình phạt, trong đó, với tư cách là hình phạt

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status