Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức trong pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI TRƯỜNG GIANG

TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN,
TỔ CHỨC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI TRƯỜNG GIANG

TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN,
TỔ CHỨC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành : Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS NGUYỄN THỊ PHƯƠNG HOA

KẾT LUẬN .................................................................................................... 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 62
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS:

Bộ luật hình sự

CQĐT:

Cơ quan điều tra

CTTP:

Cấu thành tội phạm

ĐTD:

Định tội danh

QĐHP:

Quyết định hình phạt

QPPL:

Quy phạm pháp luật

rà, yếu kém trong quản lý kinh tế - xã hội, sự suy thoái về đạo đức của một bộ
phận cán bộ, dân cư trong xã hội đã dẫn đến một hiện tượng tiêu cực trong xã
hội, đó là hiện tượng làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức để trục lợi,
tư lợi. Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của ngành công nghệ thông
tin, các vụ việc làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức có chiều hướng
gia tăng về số vụ việc và tinh vi về cách thức thực hiện. BLHS Việt Nam hiện
hành đã quy định về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, tuy
nhiên thực tiễn xét xử tội này còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc và chưa
thống nhất. Do vậy, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật và thực tiễn
xét xử các vụ án về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức sẽ góp
phần đưa ra những giải pháp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả
trong công tác xét xử các vụ án hình sự liên quan đến tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức.
Thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua luôn là đầu tàu về kinh
tế tại Việt Nam, trong đó Quận 1 là trung tâm của thành phố, nơi tập trung
nhiều cơ quan hành chính của Thành phố, Trung ương trú đóng trên địa bàn,
là Quận có đóng góp ngân sách lớn nhất cho Thành phố Hồ Chí Minh, các
hoạt động kinh tế chủ yếu là thương mại dịch vụ, do vậy, Quận 1 cũng là nơi
phát hiện và xét xử nhiều vụ án hình sự liên quan đến tội làm giả con dấu, tài
1


liệu của cơ quan, tổ chức. Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Tội làm giả con
dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức trong pháp luật hình sự Việt Nam từ thực
tiễn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn Thạc sỹ Luật học của
mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, có rất ít bài viết, luận văn viết và nghiên cứu về
tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức như: Luận văn thạc sỹ “Tội
làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức trong Luật hình sự Việt Nam

quan, nhà nước, những quy định của BLHS về tội làm giả con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức.
- Quy định của BLHS về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức.
- Thực tiễn xét xử tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức ở
Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Phương hướng hoàn thiện quy định của pháp luật về tội làm giả con
dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
- Giải pháp nâng cao chất lượng và tăng cường hiệu quả công tác xét xử
tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu một số vấn đề lý luận về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ
quan, tổ chức trong BLHS và thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật về tội
làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức trên địa bàn Quận 1, Thành phố
Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trong phạm vi lý luận về tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức dưới góc độ luật hình sự gắn với thực tiễn hoạt động
xét xử tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2012 đến tháng 4 năm
2016.
Các số liệu thống kê trong Luận văn được thu thập tại Cục thống kê,
TAND tối cao, các báo cáo giám sát của Quốc Hội, TAND Thành phố Hồ Chí
3


Minh, Đội Điều tra – Tổng hợp, Đội Cảnh sát Kinh tế Công an Quận 1,
VKSND Quận 1, TAND Quận 1.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận

Luận văn được cấu trúc gồm 03 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật hình sự về
tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Chương 2: Định tội danh và quyết định hình phạt về tội làm giả con
dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức tại địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí
Minh.
Chương 3: Những điểm mới trong quy định của BLHS năm 2015 về
tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức và các kiến nghị.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH
SỰ VỀ TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ
CHỨC
1.1. Khái niệm cơ bản và dấu hiệu pháp lý về tội làm giả con dấu,
tài liệu của cơ quan, tổ chức
1.1.1 Khái niệm con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
1.1.1.1 Khái niệm con dấu của cơ quan, tổ chức
Con dấu ngày nay đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều cơ quan, đơn vị,
nhưng khái niệm về con dấu lại chưa thực sự được các nhà nghiên cứu quan
tâm và cho đến nay, chưa có môt khái niệm nào về con dấu có sức thuyết
phục.
Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân: “Con dấu là vật làm bằng
gỗ, kim loại, cao su…mặt dưới hình tròn hoặc hình vuông, hoặc hình chữ
nhật…theo những kích cỡ nhất định, có khắc chữ hoặc hình, được dùng in
trên giấy tờ để làm bằng, làm tin trong quan hệ giao dịch giữa các cơ quan,
doanh nghiệp, đơn vị vũ tang và tổ chức kinh tế, xã hội. Con dấu được quản
lý chặt chẽ từ việc khắc đến việc sử dụng. Ở Việt Nam, con dấu được sử dụng

khi đã được cấp “Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu”. Cơ quan, tổ chức khi
bắt đầu sử dụng con dấu mới phải thông báo giới thiệu mẫu con dấu mới. Con
dấu phải được để tại trụ sở cơ quan, tổ chức và phải được quản lý chặt chẽ.
Trường hợp thật cần thiết để giải quyết công việc ở xa trụ sở cơ quan thì Thủ
trưởng cơ quan, tổ chức đó có thể mang con dấu đi theo và phải chịu trách
nhiệm về việc mang con dấu ra khỏi cơ quan.
Tuy nhiên, Theo quy định tại Khoản 2 Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm
2014, trước khi sử dụng, doanh nghiệp gửi thông báo về mẫu con dấu của
doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện đến Phòng Đăng ký kinh doanh
7


để đăng tải công khai trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh
nghiệp. Đối với việc thông báo mẫu con dấu của doanh nghiệp, kèm theo
thông báo phải có Quyết định của chủ sở hữu công ty đối với công ty TNHH
một thành viên, Quyết định và bản sao hợp lệ biên bản họp của Hội đồng
thành viên đối với công ty TNHH hai thành viên trở lên, của Hội đồng quản
trị đối với công ty cổ phần và của các thành viên hợp danh đối với công ty
hợp danh về nội dung, hình thức và số lượng con dấu. Sau khi nhận thông báo
về mẫu con dấu, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận cho doanh
nghiệp, thực hiện đăng tải thông báo của doanh nghiệp trên Cổng thông tin
quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và cấp Thông báo về việc đăng tải thông
tin về mẫu con dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện cho
doanh nghiệp [12].
Như vậy, với quy định trên thì không phải tất cả cơ quan, tổ chức phải
thực hiện “đăng ký mẫu dấu” cho cơ quan quản lý nhà nước và được cấp
“Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu”.
Việc đóng dấu vào các loại văn bản, giấy tờ phải theo đúng quy định
của pháp luật. Người đứng đầu các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm quản lý,
sử dụng con dấu của cơ quan; tổ chức mình. Trong trường hợp bị mất con

của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ thì “tài liệu”
được miêu tả là “là dạng vật chất ghi nhận những thông tin dưới dạng văn
bản, âm thanh, đồ họa, hình ảnh, phim, video nhằm mục đích bảo quản, phổ
biến và sử dụng” [1]. Hiện nay, theo quy định tại Luật lưu trữ số
01/2011/QH13 ngày 11/11/2011 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam về lưu trữ. Tài liệu “là vật mang tin được hình thành trong
quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm văn bản, dự án,
bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu thống kê; âm
bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm, ghi hình; tài liệu điện
9


tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ công tác, nhật ký, hồi ký, bút
tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in; ấn phẩm và vật mang tin khác” [11].
1.1.2 Khái niệm làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức
Như đã phân tích ở trên, pháp luật hiện hành chưa đặt ra khái niệm về
làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức mà hiện chỉ mô tả trạng thái
hoặc đặc tính của nó thông qua các văn bản pháp lý. Tại khoản 1 Điều 267
quy định như sau: “Người nào làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của
cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ
quan, tổ chức hoặc công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi
triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”
Như vậy, khái niệm làm giả theo quy định của pháp luật là hành vi làm
giống như thật các loại con dấu, giấy tờ hiện đang được phép lưu hành hoặc
làm ra các loại con dấu, giấy tờ mới hoàn toàn, chưa có loại tương tự trong
đời sống. Những hành vi giả mạo này chỉ được coi là phạm tội khi các tài liệu,
giấy tờ, con dấu giả được sử dụng vào một việc làm trái pháp luật, như để
được vào biên chế, đi nước ngoài, hưởng chế độ ưu tiên…
Làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức là
hành vi làm ra một cách trái phép con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan,

chữa, khắc phục hậu quả. Chính vì diễn biến trên thực tế của chủ thể này hoạt
động vô cùng phức tạp và thường có những hành vi vi phạm gây nên những
hậu quả lớn cho xã hội và đang có những chiều hướng gia tăng, tính chất hành
vi ngày càng nguy hiểm, phức tạp. Xuất phát từ thực tiễn đó mà các nhà làm
luật đã cân nhắc và bổ sung vào cơ sở để các chủ thể phải chịu TNHS. Như
vậy, bên cạnh chủ thể là cá nhân thì BLHS năm 2015 quy định pháp nhân
thương mại cũng trở thành chủ thể của tội phạm và sẽ bị truy cứu TNHS theo
quy định của Pháp luật Hình sự nếu có hành vi vi phạm pháp luật.
Khái niệm tội phạm là một trong những khái niệm cơ bản nhất của
pháp luật hình sự, là cơ sở thống nhất cho việc xác định những tội phạm cụ

11


thể trong phần các tội phạm cụ thể của BLHS và để quy định khung hình phạt
cho các loại tội đó. Với khái niệm này, tội phạm nói một cách khái quát như
sau: “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, theo quy định pháp
luật hình sự thì phải chịu hình phạt” [26, tr.61].
Trên cơ sở định nghĩa nêu trên, tội phạm bao gồm 4 dấu hiệu đó là tính
nguy hiểm cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật hình sự và tính phải chịu
hình phạt.
Với Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức được quy định
tại phần các tội xâm phạm trật tự quản lý hành chính (Chương XX của BLHS
năm 1999, chương XXII của BLHS 2015). Hành vi nguy hiểm cho xã hội của
tội phạm này xâm phạm trật tự hành chính, xâm phạm sự hoạt động bình
thường và uy tín của cơ quan, tổ chức, xâm phạm các lợi ích của nhà nước, tổ
chức và của công dân được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp.
Theo quy định tại Điều 267 BLHS, “Tội làm giả con dấu, tài liệu của
cơ quan, tổ chức là hành vi làm giả con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ
quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ

khác, định tội là xác ĐTD (tên tội) cho hành vi đã thực hiện. Định tội là cơ sở
cần thiết đầu tiên, quan trọng nhất để có thể truy cứu TNHS (TNHS) người
phạm tội. Chỉ trên cơ sở đã xác ĐTD quy định ở BLHS thì mới có thể quyết
định được biện pháp TNHS (hình phạt).
Muốn định tội cho hành vi cụ thể, người áp dụng luật hình sự phải căn
cứ vào các CTTP đã được quy định trong BLHS. Việc xác ĐTD chính là quá
trình xác định xem hành vi đó có thỏa mãn các dấu hiệu của CTTP nào trong
BLHS. Nếu các tình tiết của hành vi phạm tội phù hợp với dấu hiệu của CTTP
được quy định trong BLHS thì hành vi được định theo tội danh của CTTP đó.
Như vậy, CTTP là căn cứ pháp lý duy nhất của việc định tội. Chỉ có thể
căn cứ vào CTTP đã được quy định trong BLHS mới có thể định tội và định
tội đúng được [7, tr.83]
13


Bên cạnh đó, CTTP là cơ sở pháp lý để xác định thời điểm tội phạm
hoàn thành và là căn cứ pháp lý để định khung hình phạt. Các tội phạm có
CTTP với những cấu trúc khác nhau thì thời điểm phạm tội hoàn thành cũng
khác nhau; căn cứ vào mức độ nguy hiểm của CTTP có các loại CTTP cơ
bản, CTTP tăng nặng, CTTP giảm nhẹ. Trong giải quyết các vụ án hình sự,
việc áp dụng CTTP cơ bản, CTTP tăng nặng hoặc CTTP giảm nhẹ đối với
một hành vi phạm tội cụ thể có ý nghĩa xác định khung hình phạt cần áp dụng
đối với người phạm tội. [26, tr.98]
Trở lại tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, tại Khoản 1
Điều 267 BLHS năm 1999 quy định: “Người nào làm giả con dấu, tài liệu
hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức hoặc sử dụng con dấu, tài liệu, giấy
tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức, công dân, thì bị phạt tiền từ năm triệu
đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. [9,
tr.242]
Như vậy, tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức có các dấu

lừa dối này được hiểu là hành vi trái pháp luật.
Hành vi sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ
chức hoặc công dân là hành vi của người làm ra con dấu, giấy tờ, tài liệu giả
sau đó sử dụng để lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc hành vi của người không làm
giả chúng nhưng biết đó là con dấu, tài liệu giả và sử dụng để lừa dối cơ quan,
tổ chức.
Để xác định con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức có bị
làm giả hay không phải đối chiếu với con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ của cơ
quan, tổ chức (nơi có con dấu thật, nơi cung cấp, phát hành các loại tài liệu,
giấy tờ thật). Ở đây có thể hiểu rằng, các cơ quan, tổ chức bị làm giả con dấu,
tài liệu hoặc giấy tờ khác trong tội này là các cơ quan, tổ chức được thành lập
theo đúng quy định của Pháp luật. Tuy nhiên, nếu người phạm tội làm giả con
15


dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác của cơ quan, tổ chức không có thật hoặc cơ
quan, tổ chức đã giải thể, thì vẫn cấu thành tội danh này. Tội phạm hoàn
thành khi thực hiện hành vi “nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân”.
Trong ĐTD, nếu người phạm tội chỉ làm giả con dấu thì chỉ định tội là
"làm giả con dấu của cơ quan, tổ chức". Người phạm tội chỉ làm giả tài liệu
hoặc giấy tờ của cơ quan, tổ chức thì chỉ định tội là "làm giả tài liệu của cơ
quan tổ chức". Bên cạnh đó, nếu người phạm tội bằng “tài năng” của mình vẽ
hình con dấu giả lên tài liệu, giấy tờ, thì hành vi này vừa là hành vi làm giả
con dấu, vừa là hành vi làm giả tài liệu và bị truy cứu TNHS về tội danh đầy
đủ như điều luật quy định.
Về hậu quả của tội phạm, đối với tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ
quan, tổ chức thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành cơ
bản của tội phạm này, tức là người phạm tội chỉ cần thực hiện hành vi khách
quan nói trên là tội phạm đã hoàn thành. Tuy nhiên, hậu quả lại là tình tiết
định khung hình phạt. Do đó, việc xác định hậu quả tội phạm trong trường

Điều 267 BLHS năm 1999 về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức. Căn cứ này được xem như sự đảm bảo để thực hiện nguyên tắc pháp
chế xã hội chủ nghĩa trong QĐHP, đồng thời cũng là để thực hiện các nguyên
tắc khác của luật hình sự.
43


(2) Tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:
Thiệt hại đến hoạt động quản lý, điều hành của cơ quan nhà nước trong lĩnh
vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và đánh giá các tình tiết tăng nặng tại
khoản 2, 3 Điều 267;
(3) Nhân thân người phạm tội.
2.2.2. Thực tiễn Quyết định hình phạt đối với tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
2.2.2.1. Thực tiễn Quyết định hình phạt đối với tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Theo số liệu từ Công an Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh, từ năm 2011
đến năm 2016, cơ quan công an đã khởi tố 140 vụ án hình sự liên quan đến
tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức với 33 bị cáo. TAND Quận 1
đã đưa ra xét xử 26 vụ với 33 bị cáo (Bảng 2.1 và Biểu 2.1).
Nghiên cứu các vụ án hình sự đã đưa ra xét xử trên địa bàn Quận 1 cho
thấy, TAND Quận 1 đã căn cứ vào quy định tại Điều 267 BLHS năm 1999,
mức độ nguy hiểm cho xã hội do tội phạm gây ra và nhân thân người phạm
tội để QĐHP.
Trong các QĐHP được TAND quận 1 tuyên cho các bị cáo, hình phạt
tù có thời hạn nhưng cho hưởng án treo chiếm tỷ lệ lớn trong tổng số các bị
cáo phải chịu TNHS với 28 bị cáo, chiếm 85%, số bị cáo bị phạt tù giam là 5
bị cáo chiếm tỷ lệ 15%.
Trong tổng số 33 bị cáo, có 1 người bị phạt trên 3 năm tù (chiếm 3%),
12 người bị phạt tù từ 1-3 năm (chiếm 36%) và 20 người bị phạt tù dưới 1

Đến ngày 08/4/2014, Trang mang hồ sơ làm giả nêu trên đến ngân hàng
Citibank để nộp thì bị phát hiện.
Tại bản cáo trạng số 290/KSĐT ngày 30/10/2014 của VKSND Quận 1,
Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Trần Thị Thùy Trang về tội “Làm
45


giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 267 BLHS năm
1999 [21]
Ngày 03/12/2015, TAND Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh đưa vụ án
ra xét xử và tuyên phạt: Trần Thị Thùy Trang 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án
treo. Thời gian thử thách 01 năm 6 tháng tính từ ngày tuyên án (theo khoản 1
Điều 267, điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 BLHS năm 1999)
[17]
Qua vụ án trên cho thấy, TAND Quận 1 đã căn cứ các dấu hiệu CTTP,
so sánh các quy định của BLHS năm 1999 về tội làm giả con dấu, tài liệu của
cơ quan tổ chức; xem xét các tình tiết giảm nhẹ TNHS để QĐHP, cụ thể: Đối
tượng Trang đủ năng lực TNHS và đủ độ tuổi quy định để chịu TNHS; có
hành vi phạm tội cố ý (biết rõ việc làm trên lại trái pháp luật, nhưng do muốn
thỏa mãn động cơ cá nhân của mình nên cố tình phạm tội) và sử dụng công
nghệ thông tin và sửa thủ công để làm ra giấy xác nhận bảng lương giả (giấy
tờ giả) để lừa dối tổ chức (ngân hàng citibank) để đủ điều kiện vay vốn. Trong
quá trình điều tra, đối tượng thành khẩn khai báo nhận tội, ăn năn hối cải,
phạm tội lần đầu và chưa gây thiệt hại gì. Do đó, TAND Quận 1 áp dụng theo
khoản 1 Điều 267, điểm g, h, p khoản 1 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 BLHS
năm 1999 để tuyên phạt Trần Thị Thùy Trang 9 tháng tù, nhưng cho hưởng án
treo. Thời gian thử thách 01 năm 6 tháng là đúng người, đúng tội, vừa mang
tính răn đe, nhưng vừa có tính giáo dục để bị cáo có cơ hội sửa sai.
2.2.2.2. Hạn chế trong Quyết định hình phạt
Trong những năm gần đây, tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ

hình phạt tăng nặng và bị truy tố về tội danh này theo khoản 2 của Điều 267
thuộc trường hợp được coi là hành vi nguy hiểm cho xã hội cao hơn so với tội
phạm bị truy tố về cùng tội danh tại Khoản 1 Điều 267. Tuy nhiên, thực tiễn
xét xử tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, trong một số trường
47



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status