VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ĐÌNH NGHĨA
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUÂN KHU 5
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÊ ĐÌNH NGHĨA
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU
CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT THEO PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUÂN KHU 5
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số
:
60.38.01.04
2.1. Quy định của Bộ luật hình sự 1999 về các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt ................................................................................................ 21
2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt ................................................................ 30
2.3. Những hạn chế vướng mắc trong áp dụng các quy định của Bộ luật
hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt và nguyên nhân ...... 57
CHƯƠNG 3. HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP
NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỘI
XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT ................................... 66
3.1. Các quan điểm yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự
trong hoạt động xét xử các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt ở Tòa
án quân sự Quân khu 5 .................................................................................... 66
3.2. Khái quát các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo BLHS
năm 2015 ......................................................................................................... 67
3.3. Hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng................ 68
KẾT LUẬN .................................................................................................... 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
ADPL
: Áp dụng pháp luật.
BLHS
: Bộ luật hình sự.
CTTP
: Cấu thành tội phạm.
Phân loại tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
căn cứ vào mặt khách quan của tội phạm
Số vụ án và bị cáo Tòa án quân sự Quân khu 5 thụ lý
giải quyết từ 2012 – 2016
Số vụ án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị của Tòa
án quân sự Quân khu 5 giai đoạn 2012 – 2016
Trang
24
31
32
Số vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt so với
2.4.
tổng số các vụ án Tòa án quân sự Quân khu 5 giải
33
quyết giai đoạn 2012 – 2016
Số vụ án các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
2.5.
do Tòa án quân sự Quân khu 5 xét xử sơ thẩm và
34
Trải qua hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu đã đạt được,
vẫn còn tồn tại những biểu hiện tiêu cực do mặt trái của cơ chế thị trường
mang lại như sự phân hóa giàu nghèo, các tệ nạn xã hội gia tăng là cơ sở phát
sinh các loại tội trong đó có tội trộm cắp tài sản, tội cướp tài sản, tội cướp giật
tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài
sản… những loại tội này xảy ra khá phổ biến và phức tạp, với tính chất, mức
độ ngày càng nguy hiểm, đã gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Mặc dù, Đảng và Nhà nước ta đã có những bước tiến mới trong công cuộc
phòng, chống tội phạm, nhưng tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt vẫn có chiều hướng gia tăng về mức độ và nghiêm trọng về tính
chất.
Quân khu 5 quản lý địa bàn 11 tỉnh, thành phố, gồm: Thành phố Đà
Nẵng, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa,
Ninh Thuận, Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Kon Tum. Tình hình các tội xâm
phạm sở hữu thuộc thẩm quyền giải quyết của các cơ quan pháp luật trong
Quân đội cũng diễn biến phức tạp so với tình hình chung của cả nước. Việc
1
ADPL trong hoạt động xét xử các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5, mặc dù đã đem lại kết quả nhất định
nhưng vẫn còn một số hạn chế, thiếu sót do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Tất cả những điều đó đòi hỏi phải nghiên cứu làm rõ những dấu hiệu
cấu thành tội phạm cũng như chế tài của các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt Nam, đánh giá thực tiễn xét xử, trên
cơ sở đó tìm ra những giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định của
pháp luật hình sự để xử lý loại tội phạm này. Vì lý do đó, tác giả chọn Đề tài:
“Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt
Nam từ thực tiễn Quân khu 5” làm Luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
giải quyết như sau:
- Khái quát những vấn đề lý luận; phân tích làm sáng tỏ những dấu hiệu
pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt quy định tại Chương
XIV, BLHS Việt Nam năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009.
- Khái quát quá trình lập pháp hình sự về các tội xâm phạm sở hữu giai
đoạn từ năm 1945 đến BLHS năm 2015.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt của Tòa án quân
sự 2 cấp Quân khu 5.
- Đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng đắn các quy định của
BLHS về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt ở nước ta.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận, quy định của
BLHS về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đọat và thực tiễn xét xử của
Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5 về các tội phạm này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về định tội
3
danh, quyết định hình phạt đối với các xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
dưới góc độ Luật hình sự Việt Nam trên địa bàn Quân khu 5 trong thời gian 5
năm (2012 – 2016).
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu là Chủ nghĩa Mác- Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về vấn
đề tội phạm nói chung và đấu tranh phòng, chống tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp bảo đảm áp dụng
pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
5
CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM, CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CHUNG CỦA
CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
Theo Điều 8 BLHS 1999, “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình
sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh
tế…”. Tuy nhiên, trong BLHS lại không có khái niệm năng lực trách nhiệm
hình sự; mà chỉ có quy định về “Tình trạng không có năng lực trách nhiệm
hình sự”. Theo đó, người ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm
hình sự cần có đủ hai điều kiện: 1/ mắc bệnh tâm thần hoặc bệnh khác; 2/
bệnh đó làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của
mình. Thiếu một trong hai điều kiện đó thì người thực hiện hành vi nguy hiểm
cho xã hội vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự. Điều 14 BLHS 1999 đã quy
định khá rõ ràng về điều này.
Vì vậy, theo chúng tôi khái niệm tội phạm tại Điều 8 BLHS, coi chủ thể
là người có năng lực trách nhiệm hình sự là thiếu chính xác, không đảm bảo
tính hệ thống trong các quy định của BLHS. Có lẽ chính xác hơn phải thể hiện
“Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội do người không ở trong tình
trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện”.
Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009 quy định các tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt tại Chương XIV từ Điều 133 đến Điều
140 BLHS. Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những tội
xã hội…; các khách thể đó có thể là khách thể chính, có thể là khách thể phụ.
Ví dụ: Tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt
tài sản, ngoài quyền sở hữu, còn xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, tự do
của người khác; các tội như trộm cắp tài sản, công nhiên chiếm đoạt tài sản có
7
yếu tố hành hung, cướp giật tài sản cũng xâm phạm thêm khách thể là sức
khoẻ, thậm chí là tính mạng của người khác… Đây là những trường hợp
nhiều quan hệ xã hội đều là khách thể trực tiếp của tội phạm vì chúng đều thể
hiện bản chất và tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm.
Đối tượng tác động của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt là
tài sản. Theo quy định của Bộ luật dân sự, tài sản bao gồm vật có giá trị, tiền,
giấy tờ trị giá , tội cướp giật tài sản được quy định tại điều 136 BLHS nhưng
69
điều luật lại không miêu tả cụ thể hành vi thuộc dấu hiệu khách quan của tội
phạm dẫn đến sự nhầm lẫn trong việc định tội danh. Trong khoa học pháp lý,
hành vi khách quan của tội cướp giật tài sản có hai đặc điểm: Một là, tính
công khai của hành vi chiếm đoạt, vì người phạm tội không che dấu hành vi
của mình cũng như không che dấu tính trái pháp luật của hành vi; hai là, tính
nhanh chóng của hành vi CĐTS để loại trừ sự cản trở của chủ sở hữu tài sản
khi bị phát hiện.Vì vậy, theo tác giả sửa đổi Điều 136 BLHS theo hướng như
sau:
“Điều 136. Tội cướp giật tài sản
1. Người nào chiếm đoạt tài sản của người khác một cách công khai,
nhanh chóng tẩu thoát thì…..”
Thứ ba, tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138 BLHS, điều
luật cũng không quy định cụ thể hành vi khách quan. Sở dĩ như vậy là do nhà
dường như không chính xác, vì đây có thể là một cách thức lừa đảo cụ thể
trong trường hợp có thủ đoạn gian dối. Mặt khác, việc “bỏ trốn” theo quy
định nêu trên có thể là hệ quả của các hành vi gian dối CĐTS trước đó và
cũng có thể là sự vắng mặt hợp pháp để đi nơi khác làm ăn, kiếm tiền trả nợ
hoặc nhiều lý do cá nhân khác của người đã vay hoặc mượn tài sản nhưng
chưa thể hiện rõ mục đích CĐTS. Trong trường hợp này, nếu khởi tố người
nhận được tài sản theo Điều 140 BLHS là đã hình sự hóa một quan hệ dân sự,
vì hành vi này chỉ là vi phạm nghĩa vụ về hợp đồng dân sự hoặc hợp đồng
kinh tế mà thôi. Tương tự, quy đinh hành vi “Vay, mượn, thuê tài sản của
người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp
đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có
khả năng trả lại tài sản” (Điểm b Khoản 1) là lạm dụng tín nhiệm CĐTS là
không rõ ràng. Trong trường hợp này, nếu mục đích sử dụng bất hợp pháp tài
sản có trước thì hành vi phải xác định là lừa đảo CĐTS, nếu mục đích sử dụng
bất hợp pháp tài sản có sau, dường như đây không phải là hành vi CĐTS, bởi
không có sự cố ý chiếm đoạt mà chỉ cố ý sử dụng vào mục đích bất hợp pháp
71
dẫn đến mất khả năng trả lại tài sản. Để khắc phục sự vướng mắc trên, đề nghị
mở rộng quy định của tội lừa đảo CĐTS quy định tại Điều 139 BLHS năm
1999. Theo đó, tội phạm này sẽ bao gồm cả một số hành vi CĐTS hiện quy
định trong tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS theo quy định tại Điều 140 BLHS
như đã phân tích ở trên. Sau khi đã có sự điều chỉnh như vậy, có thể bỏ tội
lạm dụng tín nhiệm CĐTS quy định tại Điều 140 BLHS năm 1999 cho phù
hợp với bản chất thực tế của hành vi này do chỉ còn là các quan hệ dân sự,
thương mại vay, mượn, thuê tài sản… Việc xử lý giải quyết các vụ việc lúc đó
được thực hiện thông qua quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Quan hệ
pháp luật hình sự chỉ đặt ra bằng việc xem xét truy cứu TNHS về tội không
chấp hành án quy định tại Điều 304 BLHS năm 1999 khi bên có nghĩa vụ cố
dụng tín nhiệm CĐTS.
Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường và xu thế hội nhập quốc tế, việc
tồn tại hình phạt tiền với tính chất là hình phạt chính hay hình phạt bổ sung có
ý nghĩa rất quan trọng vì đối với các tội phạm mà mục đích người phạm tội
hướng tới là lợi ích kinh tế. Biện pháp trừng phạt có tính chất kinh tế đối với
hành vi phạm tội của họ sẽ tước bỏ khả năng, cơ hội tái phạm tội của họ; tạo
điều kiện để bản thân người phạm tội có khả năng tiếp tục lao động khắc phục
hậu quả của tội phạm đồng thời giúp Nhà nước giảm chi phí trong công tác thi
hành án phạt tù tại các trại giam.
Tuy nhiên, để áp dụng có hiệu quả hình phạt tiền trên thực tế thì BLHS
cần bổ sung thêm các điều quy định về việc áp dụng hình phạt tiền. Cụ thể
cần khắc phục khoản 1 điều 30 BLHS theo hướng: “Phạt tiền được áp dụng là
hình phạt chính đối với các trường hợp người phạm tội ít nghiêm trọng, tội
phạm nghiêm trọng do Bộ luật này quy định”. Ngoài ra cần bổ sung quy định:
“Tiền phạt có thể được nộp một lần hoặc nhiều lần trong thời hạn do Tòa án
quyết định trong bản án”. Quy định này có ưu điểm là tạo điều kiện thuận lợi
cho người bị kết án nếu khả năng kinh tế chưa cho phép thì họ có thể nộp tiền
phạt nhiều lần mà không cần phải nộp ngay một lần. Điều này thể hiện chính
73
sách nhân đạo của Nhà nước ta trong xử lý tội phạm. Tuy nhiên, quy định này
cũng dẫn tới hiện tượng một số người phạm tội lạm dụng, cố tình chây ỳ, dây
dưa không chịu nộp tiền phạt làm cho thời gian thi hành án kéo dài gây khó
khăn cho hoạt động của cơ quan thi hành án, nhà nước khó thu hồi tiền phạt,
ảnh hưởng đến hiệu lực của pháp luật, giảm niềm tin của nhân dân vào hiệu
lực pháp lý của nhà nước. Vì vậy, BLHS cần quy định các chế tài áp dụng đối
với trường hợp người phạm tội cố tình không chịu nộp tiền phạt, chẳng hạn
quy định: “Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật,
nếu người bị kết án cố tình không chấp hành hình phạt tiền thì hình phạt tiền
Vì vậy, việc thu hẹp khoảng cách giữa mức tối thiểu và mức tối đa trong một
số điều luật có khoảng cách hình phạt tù quá rộng để tạo điều kiện cho các cơ
quan tiến hành tố tụng vận dụng được dễ dàng, chính xác là cần thiết.
Trong tình hình áp dụng hình phạt tù quá phổ biến như hiện nay thì
việc BLHS quy định hình phạt tù là hình phạt lựa chọn đối với những tội nhẹ
chính là yếu tố tạo ra áp lực đối với Toà án khi cân nhắc áp dụng hình phạt tù
hay hình phạt khác nhẹ hơn đối với người phạm tội. Do vậy, cần thay thế quy
định hình phạt tù đối với các tội phạm có tính nguy hiểm cho xã hội không
lớn bằng các hình phạt không tước tự do ở cấu thành cơ bản của điều luật
nhằm tăng khả năng áp dụng các hình phạt này.
3.3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về các tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
3.3.2.1. Nâng cao nhận thức về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt
Phối hợp với các cơ quan, ban ngành, đoàn thể làm tốt công tác tuyên
truyền, phổ biến giáo dục pháp luật và thường xuyên xét xử lưu động các vụ
án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt để nâng cao nhận
thực pháp luật cho toàn xã hội.
Cần mở các lớp tập huấn chung và tập huấn chuyên sâu những điểm
mới của BLHS năm 2015 về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt cho
75
đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm.
3.3.2.2. Tăng cường hướng dẫn áp dụng pháp luật, xây dựng án lệ
Hoàn thiện hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành BLHS, BLTTHS nói
chung và các điều luật về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt nói
riêng.
Thông qua thực tiễn hoạt động xét xử, TANDTC giải đáp những vướng
mắc của các Tòa án cấp dưới về đường lối xét xử tội phạm cụ thể hoặc việc
trước mắt cũng như lâu dài, đảm bảo tính liên tục, kế thừa và đồng đều về
chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác của đội ngũ Thẩm phán.
- Thường xuyên kiểm tra chất lượng đội ngũ Thẩm phán về trình độ
chuyên môn nghiệp vụ, năng lực công tác thông qua các phiên tòa rút kinh
nghiệm để có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng nâng cao kiến thức pháp lý, kỹ
năng nghiệp vụ cho đội ngũ Thẩm phán.
+ Đối với Hội thẩm: Nâng cao chất lượng đội ngũ Hội thẩm; đổi mới
tiêu chuẩn tuyển chọn Hội thẩm, tiêu chuẩn của Hội thẩm phải đạt được trình
độ nhất định về kiến thức pháp lý; có quy định bắt buộc về đào tạo, bồi dưỡng
hàng năm cho Hội thẩm; hoàn thiện các quy định của pháp luật về Hội thẩm
để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.
3.3.2.4. Các giải pháp khác
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp, hoàn
thiện cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư pháp nhằm bảo đảm vai trò
lãnh đạo của Đảng đối với các cơ quan tư pháp về chính trị, tổ chức, cán bộ.
Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới
trong hệ thống các cơ quan tư pháp.
Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh nhất là những
cán bộ có chức danh tư pháp theo hướng đề cao quyền hạn và nâng cao trách
nhiệm pháp lý; cụ thể hóa các tiêu chuẩn chính trị, phẩm chất đạo đức, trình độ
chuyên môn nghiệp vụ và kinh nghiệm công tác đối với từng chức danh tư pháp.
Nâng cao chất lượng tranh tụng tại các phiên tòa xét xử, lấy kết quả
77
tranh tụng tại phiên tòa làm căn cứ để phán quyết trong bản án.
Hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử và của nhân dân đối
với hoạt động tư pháp, nhất là hoạt động xét xử của Tòa án.
Có chế độ, chính sách đãi ngộ hợp lý đối với các chức danh tư pháp để
họ yên tâm công tác, chuyên tâm vào công việc chuyên môn.
thể, rõ ràng hơn cả về dấu hiệu định tội và dấu hiệu định khung hình phạt.
Đây là cơ sở pháp lý thống nhất cho việc định tội danh và áp dụng hình phạt
trong thực tiễn xét xử của các Tòa án.
Qua khảo sát thực tiễn áp dụng các quy định của BLHS về các tội xâm
phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, thấy rằng: Mặc dù hoạt động ADPL của các
Tòa án quân sự Quân khu 5 đã đạt được những kết quả nhất định, tỷ lệ án
được đưa ra xét xử chiếm tỷ lệ cao, đảm bảo xét xử đúng người, đúng tội,
đúng pháp luật, không bỏ lọt tội phạm và không làm oan người vô tội, đảm
bảo công bằng trong hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân
khách quan và chủ quan khác nhau nên hoạt động ADPL xét xử các vụ án về
các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trong thời gian qua vẫn còn
những hạn chế, sai sót nhất định trong việc định tội danh, áp dụng hình phạt
cần phải được khắc phục.
Xây dựng hệ thống các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các quy
định của pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
trước hết cần phải quán triệt mục tiêu, quan điểm chỉ đạo được đề ra trong
chiến lược cải cách tư pháp của nước ta từ nay đến năm 2020.
Từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hình sự trong xét xử
các vụ án hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt của Tòa án
quân sự Quân khu 5 cho thấy, bên cạnh những kết quả đã đạt được vẫn còn
một số hạn chế, thiếu sót nhất định. Nguyên nhân của những hạn chế, thiếu
79
sót đó rất đa dạng, có cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan.
Do vậy, tác giả đã đưa ra các giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả ADPLvề các
tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt như: Hoàn thiện quy định của BLHS
về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt; Nâng cao năng lực đội ngũ
Thẩm phán và Hội thẩm xét xử các vụ án hình sự.
Với khả năng và thời gian nghiên cứu có hạn, nội dung của Luận văn