VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ HỒNG VÂN
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN LONG BIÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
HOÀNG THỊ HỒNG VÂN
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA
THÀNH NIÊN PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN LONG BIÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành : Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số
: 60.38.01.04
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 72
LI CAM OAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn ch-a từng đ-ợc ai công bố
trong bất kỳ công trình nào khác.
TC GI LUN VN
Hong Th Hng Võn
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS
: Bộ Luật hình sự
TAND
: Tòa án nhân dân
NCTN
: Người chưa thành niên.
lý; khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của họ còn nhiều hạn chế. Họ dễ
bị kích động, dụ dỗ vào việc thực hiện tội phạm, nhưng cũng dễ uốn nắn, cải
tạo, giáo dục trở thành người có ích cho xã hội. Do đó pháp luật hình sự đã có
những quy định riêng đối với người chưa thành niên phạm tội để xử lý phù
hợp đối với đối tượng này.
Quan điểm của Đảng và Nhà nước ta đối với việc giải quyết tội phạm
nói chung và tội phạm do người chưa thành niên thực hiện chính là tìm ra mọi
giải pháp nhằm làm giảm bớt những hoạt động phạm pháp, không để những
việc sai trái ấy xảy ra chứ không chỉ đơn thuần là xử một vụ án hay trừng phạt
một tội phạm nào đó. Phải đưa ra những phương pháp nhằm tìm kiếm nguyên
nhân, điều kiện để căn cứ vào đó có những giải pháp thích hợp nhằm giảm bớt
tình trạng người chưa thành niên phạm tội.
1
Có thể khẳng định, đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và tội
phạm do NCTN thực hiện nói riêng không phải là nhiệm vụ của riêng cá nhân,
cơ quan, tổ chức nào mà là nhiệm vụ chung của Nhà nước và toàn thể xã hội.
Phòng ngừa, ngăn chặn người chưa thành niên phạm tội phải huy động được lực
lượng đông đảo toàn xã hội tham gia, phải phát động được sức mạnh tổng hợp
của các chủ thể, triệt để khai thác và đẩy mạnh quan hệ phối hợp giữa các cơ
quan bảo vệ pháp luật trong phòng ngừa người chưa thành niên phạm tội.
Mặc dù đường lối xử lý hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội
đã được quy định rõ ràng trong chương X của Bộ luật hình sự 1999 cũng như
trong các bộ luật hình sự trước đây, nhưng việc quyết định hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội trong thực tiễn cho thấy do chưa được nhận thức
một cách khách quan, thấu đáo nên vẫn còn nhiều sai sót. Nhằm đưa ra một cái
nhìn toàn diện, đúng đắn của việc quyết định hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội từ đó nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác xét xử, đặc
yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và công cuộc cải cách tư pháp của
quận Long Biên nói riêng và Thành phố Hà Nội nói chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn và đánh giá thực trạng của việc
quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trên địa bàn quận
Long Biên Làm để làm rõ những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội, thực trạng quy định pháp luật cũng như thực
tiễn hoạt động tố tụng, làm sáng tỏ những hạn chế và đưa ra giải pháp, kiến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả của việc quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội,
vừa đủ tính răn đe, vừa thể hiện sự nhân đạo của pháp luật hình sự.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
3
Thứ nhất, xây dựng các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa để làm rõ những
lý luận về quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
Thứ hai, phân tích các quy định của Bộ luật hình sự hiện hành và so
sánh với Bộ luật hình sự năm 2015 về các vấn đề liên quan đến quyết định
hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.
Thứ ba, phân tích, đánh giá thực trạng quyết đinh hình phạt đối với
người chưa thành niên phạm tội qua thực tiễn xét xử tại Tòa án nhân dân quận
Long Biên – Thành phố Hà Nội.
Thứ tư, phân tích đánh giá những kết quả đạt được, hạn chế, nguyên
nhân, vướng mắc trong việc quyết định hình phạt đối với người chưa thành
niên phạm tội. Rút ra nguyên nhân của những hạn chế yếu kém từ đó làm cơ
sở cho việc nêu lên những giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của việc
quyết định hình phạt, những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật tố tụng hình sự và tăng cường hiệu quả trong việc quyết định hình phạt
đối với NCTN phạm tội.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Danh
mục bảng, Luận văn gồm 3 chương với kết cấu như sau:
Chương 1: Những vấn đề chung về quyết định hình phạt đối với người
chưa thành niên phạm tội.
Chương 2: Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
theo pháp luật hình sự Việt Nam.
Chương 3: Quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm
tội từ thực tiễn quận Long Biên – Thành phố Hà Nội.
5
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LẬP PHÁP VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH
PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN PHẠM TỘI
1.1 Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt đối với người chưa
thành niên phạm tội
1.1.1 Cơ sở thực tiễn
1.1.1.1 Khái niệm người chưa thành niên
Theo pháp luật quốc tế, cụ thể là Điều 1 Công ước quốc tế về quyền trẻ
em năm 1989 quy định : “Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là
người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng đối với trẻ em có quy
định tuổi thành niên sớm hơn” [5] . Bên cạnh đó, Quy tắc Bắc Kinh do Đại
hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 14/12/1990 cũng là một văn bản
pháp luật quốc tế đề cập “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” [1].
Ngoài ra còn nhiều văn bản quốc tế khác cũng có quy định hoặc đề cập rằng
“ Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi”.
Tuy nhiên Ở mỗi quốc gia trên thế giới, tùy thuộc vào sự phát triển
kinh tế - xã hội, lịch sử lập pháp, truyền thống và các yếu tố về tâm – sinh lý
Ở vào độ tuổi chưa thành niên, người ta dễ dàng hành động mà không
cần có sự cân nhắc, tính toán chín chắn. Người chưa thành niên có thể là
những người vị tha, độ lượng, có thể hy sinh thân mình để làm những điều tốt
đẹp. Bên cạnh đó, họ cũng là người dễ bị kích động, dễ bị lôi kéo vào những
hành vi xấu như cờ bạc, trộm cắp, đánh nhau mà không nhận biết được để khi
trưởng thành lại khó để từ bỏ những thói quen, những tệ nạn xấu này.
Như vậy có thể khái quát lại: Người chưa thành niên là những người
dưới 18 tuổi, chưa phát triển đầy đủ và hoàn thiện về thể chất – tâm sinh lý,
chưa có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, chưa có đầy đủ quyền lợi và nghĩa vụ
của công dân.
7
1.1.1.2 Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam
Không phải từ khi sinh ra con người đã có năng lực TNHS. Như vậy
năng lực TNHS chỉ hình thành khi con người đã đạt đến một đổ tuổi nhất định
và năng lực đó sẽ tiếp tục hoàn thiện và phát triển trong những giai đoạn tiếp
theo của cuộc đời con người. Khi đạt đến độ tuổi đó, con người nói chung sẽ
có năng lực TNHS, trừ một số trường hợp đặc biệt (bị mắc bênh tâm thần
hoặc các bệnh khác làm rối loạn tâm thần).
Luật hình sự của các nước dựa trên cơ sở kết quả các công trình nghiên
cứu, khảo sát về tâm lý cũng như căn cứ vào chính sách hình sự của mình mà
quy định tuổi bắt đầu có năng lực TNHS và tuổi có năng lực TNHS đầy đủ.
Pháp luật hình sự Việt Nam có quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý
hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Còn người từ đủ 16 tuổi trở lên phải
chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm” [22]
Như vậy, Nhà nước ta đã xác định trong Bộ luật hình sự từ đủ 14 đến
dưới 16 tuổi là tuổi bắt đầu có năng lực TNHS và từ đủ 16 tuổi trở lên là tuổi
có năng lực TNHS đầy đủ. Chỉ những người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi trở
Một số người nhận thức quyết định hình phạt là việc Tòa án lựa chọn
loại hình phạt cụ thể (bao gồm cả hình phạt chính và có thể có thể cả hình
phạt bổ sung) với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng cho
người phạm tội. Thời gian gần đây, khái niệm quyết định hình phạt này mở
rộng còn bao gồm các hoạt động: Xác định người phạm tội có được miễn
trách nhiệm hình sự hay miễn hình phạt không; Xác định khung hình phạt;
Xác định loại và mức hình phạt cụ thể trong phạm vi khung hình phạt hoặc
dưới khung đó.
Từ những quan điểm nêu trên, có thể đưa ra khái niệm quyết định hình
phạt như sau: “Quyết định hình phạt là hoạt động tư duy của Thẩm phán và
9
Hội thẩm nhân dân lựa chọn loại hình phạt cụ thể (bao gồm hình phạt chính
và có thể cả hình phạt bổ sung, biện pháp chấp hành hình phạt hoặc miễn hình
phạt, các biện pháp tư pháp)… với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để
áp dụng cho chính cá nhân người phạm tội trong phạm vi giới hạn của khung
hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội theo quy định
của Bộ Luật hình sự”.
Bộ luật hình sự năm 2015 đã có thay đổi về cách gọi đối với đối tượng
người chưa thành niên phạm tội. Thay vì cách gọi “người chưa thành niên
phạm tội” từ Bộ Luật hình sự năm 1985 đến Bộ Luật hình sự năm 1999, Bộ
Luật hình sự năm 2015 đã thay cụm từ “người chưa thành niên” bằng cụm từ
“người dưới 18 tuổi”. Việc đổi mới này khiến việc xác định và áp dụng pháp
luật đối với đối tượng này được cụ thể, rõ ràng và đồng bộ hơn. Nhưng về bản
chất thì không thay đổi.
Đối với người chưa thành niên phạm tội, quyết định hình phạt là việc
Tòa án lựa chọn loại hình phạt với mức độ cụ thể trong phạm vi luật định để
áp dụng cho người chưa thành niên phạm tội.
pháp khác không phát huy tác dụng. Đây là điểm khác nhau về mục đích của
quyết định hình phạt giữa người thành niên và người chưa thành niên sửa
chữa sai lầm, phát triển lành mạnh mới phát huy tác dụng.
Hai là, quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội là
việc thực hiện chính sách hình sự của Nhà nước. Chính sách hình sự đối với
người chưa thành niên là đường lối, nguyên tắc pháp lý hình sự trong việc đấu
tranh với tội phạm là người chưa thành niên. Chính sách này thể hiện ở đường
lối xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội; thể hiện qua các biện pháp
cưỡng chế về hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội; thể hiện qua
11
việc quyết định hình phạt và xóa án tích đối với người chưa thành niên phạm
tội. Chung quy lại, chính sách hình sự của nhà nước với mục đích lớn hơn là
nhằm cải tạo, tạo điều iện tốt nhất để người chưa thành niên phạm tội sửa
chữa sai lầm, tái hòa nhập cộng đồng, phấn đấu trở thành người có ích cho gia
đình, xã hội là điều quan trọng nhất.
1.1.2.2 Các nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên
phạm tội
Quyết định hình phạt là một khâu quan trọng của quá trình áp dụng
pháp luật hình sự nhằm đảm bảo bản án được tuyên đúng pháp luật, công
bằng vì vậy, quyết định hình phạt đòi hỏi Tòa án không những tuân thủ triệt
để các nguyên tắc của luật hình sự mà còn tuân thủ các nguyên tắc quyết định
hình phạt.
Nguyên tắc quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm
tội là những tư tưởng mang tính chỉ đạo, định hướng, đồng thời đóng vai trò
kim chỉ nam cho cơ quan và người tiến hành tố tụng trong việc áp dụng các
quy định của Bộ luật hình sự để xử lý người chưa thành niên phạm tội. Việc
quyết định hình phạt phải dựa vào các nguyên tắc sau: Nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa; Nguyên tắc nhân đạo; Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt;
định hình phạt đối với vị cáo là NCTN, Tòa án không được xử phạt chung
thân hoặc tử hình NCTN phạm tội mà chỉ có thể cân nhắc, xem xét, lựa chọn
các hình phạt gồm có cảnh cáo, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn hoặc
các biện pháp tư pháp khác như: đưa vào trường giáo dưỡng, cải tạo tại xã,
phường, thị trấn.
Một đòi hỏi nữa của nguyên tắc pháp chế là khi quyết định hình phạt,
Tòa án phải tuân theo trình tự và các điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ
thể, và chỉ có thể tuyên những hình phạt được quy định trong luật. Nguyên
tắc pháp chế đòi hỏi khi tuyên một hình phạt phải có căn cứ, có tính xác
13
định, có căn cứ lập luận và bắt buộc có lý do. Muốn vậy đòi hỏi Tòa án phải
nghiên cứu kỹ và làm sáng tỏ các tính tiết có trong vụ án để làm căn cứ cho
việc quyết định hình phạt, những tình tiết đó chỉ là những tình tiết đã
được thẩm vấn, kiểm tra trong quá trình xét xử và được Hội đồng xét xử
đánh giá, nhân xét và còn chỉ rõ lý do của việc quyết định hình phạt. Tính
xác định của hình phạt trong bản án buộc tội thể hiện ở chỗ hình phạt được
quyết định đối với bị cáo phải cụ thể về loại hình phạt và thời hạn. Tòa án lựa
chọn loại và mức độ hình phạt một mặt phải đúng pháp luật, mặt khác phải
phù hợp với các nguyên tắc khác, phù hợp với các tình tiết giảm nhẹ và tăng
nặng TNHS, có như vậy mới đảm bảo được tính hợp lý của việc quyết định
hình phạt và là một yêu cầu của nguyên tắc pháp chế.
Thứ hai: Nguyên tắc nhân đạo.
Nguyên tắc nhân đạo trong việc quyết định hình phạt nói chung thể
hiện tập trung nhất ở chỗ khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc một
cách tổng thể thống nhất, biện chứng, hài hoà, hợp lý các lợi ích xã hội, lợi
ích của Nhà nước và cả lợi ích của người phạm tội. Bởi vì không thể nói đến
nhân đạo được nếu khi quyết định hình phạt mà quá đề cao lợi ích của Nhà
nước, của xã hội mà hạ thấp, xem thường lợi ích của người phạm tội hoặc
giảm nhẹ TNHS so với người đã thành niên phạm tội.
Tóm lại, xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo, luật hình sự quy định
đường lối giải quyết đối với NCTN phạm tội, trong đó có việc quyết định
hình phạt nhằm mục đích giáo dục, cải tạo họ sớm tái hoà nhập với xã hội và
cộng đồng. Biện pháp giáo dục phòng ngừa phải được coi là biện pháp được
ưu tiên áp dụng khi xử lý NCTN phạm tội. Điều đó thể hiện lòng tin vào khả
năng cải tạo, giáo dục NCTN phạm tội dưới chế độ ta, đồng thời thấm nhuần
đạo lý của ông cha ta coi cái thiện, cái ác không phải là bản tính vốn sẵn có
của mỗi người từ lúc sinh ra mà về cơ bản tính thiện ác trong mỗi con người
15
được hình thành từ trong môi trường xã hội và sâu xa hơn nữa là mỗi con
người dù có lỗi lầm đến đâu đều có khả năng phục thiện thông qua con
đường giáo dục thích hợp.
Thứ ba: Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt
Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc cá thể hoá hình phạt khi quyết định
hình phạt thể hiện ở chỗ, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào
các quy định của pháp luật hình sự và ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa, cân
nhắc tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm
tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
Nguyên tắc cá thể hoá hình phạt trong quyết định hình phạt được thể
hiện rõ trong các quy định về đồng phạm, Điều 3 BLHS 1999 quy định:
“...Nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối,
lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để
phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất
chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng.
Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người
đồng phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi
thường thiệt hại gây ra.
ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội”[22]
Nguyên tắc công bằng còn đòi hỏi toà án phải thống nhất trong việc
đánh giá các căn cứ của quyết định hình phạt để đảm bảo quyết định hình
phạt công bằng đối với các trường hợp phạm tội có các tình tiết tương
đương. Đồng thời, Toà án phải xem xét tất cả các tình tiết trong vụ án, tránh
tình trạng bỏ sót tình tiết nào dẫn đến việc quyết định hình phạt không thoả
đáng đối với bị cáo.Việc cần nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội.
các đặc điểm nhân thân người phạm tội và các tình tiết khác có trong vụ án
phải đặt trong một thể thống nhất biện chứng mới đảm bảo được tính công
17
bằng của hình phạt. Nếu quá nhấn mạnh, coi trọng đến một yếu tố nào đó mà
bỏ qua hoặc xem nhẹ yếu tố còn lại thì khó có thể quyết định hình phạt một
cách công bằng, khó đạt được mục đích và hiệu quả của hình phạt.
Nguyên tắc công bằng còn đòi hỏi hình phạt được tuyên cần phải phản
ánh một cách đúng đắn dư luận xã hội, ý thức pháp luật và đạo đức xã hội
của chúng ta, phải có đủ sức thuyết phục mọi người ở tính đúng đắn, tính
công bằng trong chính sách xét xử của Nhà nước.
Các nguyên tắc trên có tính độc lập tương đối và cùng tồn tại với nhau.
Nhưng mặt khác, các nguyên tắc trên cũng có những phần, những nội dung
ăn nhập với nhau, bổ sung, tác động qua lại và ăn nhập với nhau tạo thành
một thể thống nhất.
1.1.2.3 Các nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội
Với nhận thức người chưa thành niên là những người chưa hoàn toàn
phát triển đầy đủ về nhân cách, về thể trạng tâm lý, sinh lý còn bị hạn chế về
nhận thức, dễ chịu ảnh hưởng của môi trường xung quanh, dễ bị kích động, dễ
dẫn đến có hành vi vi phạm pháp luật, mà ở mức độ cao là hành vi phạm tội.
Vì vậy, Điều 69 Bộ luật hình sự 1999 đã đặt ra những nguyên tắc riêng khi xử
lý hành vi phạm tội của người chưa thành niên.
lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục,
giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích
cho xã hội. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi,
khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi
phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm.” [26]
Đây là một nguyên tắc có ý nghĩa định hướng cho cán bộ tiến hành tố
tụng khi quyết định lựa chọn biện pháp xử lý cụ thể đối với NCTN, nhằm tìm ra
biện pháp phù hợp nhất.
19