HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ HỒNG NAM

HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI
PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ HỒNG NAM

HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƢỜI DƢỚI 18 TUỔI
PHẠM TỘI THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành

: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số

: 60.38.01.04

1.2. Một số vấn đề chung về hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ....... 14
1.2.1. Khái niệm hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ......................... 14
1.2.2. Mục đích của hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội........................... 18
1.2.3. Một số đặc thù trong quy định của pháp luật hình sự về hình phạt tù đối với
người dưới 18 tuổi ..................................................................................................... 21
1.3. Pháp luật hình sự một số nước về hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội ............................................................................................................................... 24
CHƢƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA
BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ HÌNH PHẠT TÙ ĐỐI VỚI NGƢỜI
DƢỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH ........................................ 27
2.1. Thực trạng quy định của BLHS năm 1999 về hình phạt tù đối với người dưới
18 tuổi phạm tội ........................................................................................................ 27
2.1.1. Thực trạng quy định của BLHS năm 1999 về điều kiện áp dụng hình phạt tù
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ......................................................................... 27
2.1.2. Thực trạng quy định của BLHS năm 1999 về quyết định hình phạt tù đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội ...................................................................................... 28
2.1.3. Thực trạng quy định của BLHS năm 1999 về miễn, giảm, hoãn, tạm đình chỉ
chấp hành hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội .................................... 36
2.2. Thực tiễn áp dụng quy định của BLHS năm 1999 về hình phạt tù đối với người


dưới 18 tuổi phạm tội tại tỉnh Bình Định .................................................................. 43
2.2.1. Khái quát tình hình xét xử người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Bình
Định ........................................................................................................................... 43
2.2.2. Một số hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định của BLHS năm
1999 về hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại tỉnh Bình Định ......... 46
2.2.3. Nguyên nhân của hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng quy định của
BLHS năm 1999 về hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại tỉnh Bình
Định ........................................................................................................................... 52
CHƢƠNG 3. HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM

Người chưa thành niên phạm tội.

TNHS:

Trách nhiệm hình sự.


DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu

Tên bảng

bảng

Trang

Thống kê các vụ án hình sự do người dưới 18 tuổi thực hiện
2.1.

đã được xét xử trên địa bàn tỉnh Bình Định từ năm 2012 đến

44

năm 2016
Thống kê các tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện đã
2.2.

được thụ lý và giải quyết trên địa bàn tỉnh Bình Định từ năm

45

công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm, đáp ứng tiến trình hội nhập và phát
triển của đất nước ta hiện nay.
Đứng trước những đòi hỏi và thách thức đó, Nhà nước ta đã sử dụng Luật
hình sự như một công cụ sắc bén, hữu hiệu để đấu tranh phòng ngừa, chống tội
phạm và để giáo dục, cải tạo người dưới 18 tuổi tuổi phạm tội. BLHS năm 1999 đã
dành riêng Chương X: “Những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội”
với phương châm giúp các em nhận thức, sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và
trở thành công dân có ích cho xã hội. Để đạt được mục đích đó thì vấn đề cần thiết
là phải xác định được hệ thống các chế tài có tính chất đồng bộ. Một trong các chế
tài có hiệu quả là hình phạt tù. Bên cạnh đó, nhìn nhận từ góc độ xây dựng pháp luật
cũng như thực tiễn áp dụng quy định của BLHS năm 1999 về hình phạt tù đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu
của xu thế hội nhập cũng như yêu cầu đấu tranh với tình trạng người dưới 18 tuổi
phạm tội ở nước ta hiện nay. Nghiên cứu một cách có hệ thống hình phạt tù áp dụng

1


đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong pháp luật hình sự Việt Nam không chỉ là
vấn đề có ý nghĩa lý luận mà còn có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc nhằm từng bước hoàn
thiện quy định về hình phạt tù áp dụng đối với người dưới 18 tuổi trong việc giải
quyết, xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội, góp phần nâng cao hiệu quả của việc áp
dụng hình phạt tù, giáo dục người dưới 18 tuổi. Theo khảo sát của bản thân, tính
đến thời điểm hiện tại thì trên địa bàn tỉnh Bình Định chưa có một công trình khoa
học nào nghiên cứu một cách đầy đủ các vấn đề hình phạt tù áp dụng đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội.
Với nhận thức trên, học viên đã lựa chọn đề tài “Hình phạt tù đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Bình
Định” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài

thực tiễn áp dụng pháp luật Việt Nam cũng đã và đang gặp không ít vướng mắc
trong việc quy định và áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Do đó, trong luận văn này, học viên nghiên cứu về hình phạt tù áp dụng đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định của luật hình sự Việt Nam và thực
tiễn áp dụng hình phạt này tại địa bàn tỉnh Bình Định để góp phần nhỏ trong việc
đưa ra những kiến nghị khả thi nhằm xây dựng một hệ thống các chính sách hình sự
và các biện pháp cưỡng chế có hiệu quả trong việc phòng chống các tội phạm do
người dưới 18 tuổi thực hiện trong giai đoạn hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cở sở nghiên cứu một cách tổng thể về lý luận, căn cứ pháp lý và thực
tiễn áp dụng quy định của BLHS Việt Nam hiện hành về hình phạt tù áp dụng với
người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Bình Định, luận văn chỉ ra những bất
cấp, hạn chế và một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định
của pháp luật hình sự về hình phạt tù áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có nhiệm vụ giải quyết những vấn
đề sau:
- Làm rõ một số vấn đề lý luận về hình phạt tù áp dụng đối với người dưới 18
tuổi phạm tội như: khái niệm về người dưới 18 tuổi phạm tội; nguyên tắc xử lý đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội; mục đích của hình phạt tù áp dụng đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội.

3


- Phân tích thực trạng quy định về hình phạt tù áp dụng đối với người dưới
18 tuổi phạm tội theo quy định của BLHS hiện hành từ thực tiễn áp dụng tại tỉnh
Bình Định, qua đó chỉ ra những bất cập hạn chế cần sửa đổi, bổ sung.
- Đưa ra các kiến nghị, đề xuất cho việc hoàn thiện các quy định pháp luật

dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa bàn tỉnh Bình Định, từ đó góp
phần làm sáng tỏ những vấn đề cần lý luận về người dưới 18 tuổi, người dưới 18
tuổi phạm tội và phân tích những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về hình
phạt tù áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Tạo cơ sở lý luận cho việc
nghiên cứu các quy định về biện pháp tư pháp và các biện pháp miễn, giảm TNHS
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Thông qua nghiên cứu đề tài sẽ đánh giá được thực trạng quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam về hình phạt tù áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội,
qua đó tạo cơ sở giúp cho cơ quan xây dựng pháp luật hoàn thiện hơn nữa các quy
định của BLHS về hình phạt tù áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Những
kết quả mà luận văn đạt được có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu, tham
khảo cho sinh viên, học viên, tài liệu tuyên truyền pháp luật nhằm nâng cao nhận
thức cho người dưới 18 tuổi, góp phần làm giảm số vụ án do người dưới 18 tuổi gây
ra, phục vụ những người làm công tác thực tiễn và những ai có sự quan tâm đến lĩnh
vực pháp luật hình sự.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phẩn mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được bố cục
thành ba chương gồm:
Chương 1: Một số vấn đề chung về người dưới 18 tuổi phạm tội và hình
phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Chương 2: Thực trạng và thực tiễn quy định của BLHS năm 1999 về hình
phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại tỉnh Bình Định.
Chương 3: Hoàn thiện quy định của BLHS năm 1999, tiếp tục hoàn thiện
quy định của BLHS năm 2015 và một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định
của BLHS về hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

5



6


hợp quốc về việc áp dụng pháp luật đối với NCTN hay còn gọi là Quy tắc Bắc Kinh
(United Nations Standard Minimum Rules for the Administration of Juvenile
Justice/Beijing Rules) do Đại hội đồng Liên hiệp quốc thông qua ngày 29/11/1985
cũng là một văn bản pháp luật quốc tế quan trọng đề cập đến khái niệm “Người
chưa thành niên là người dưới 18 tuổi” như là một sự kế thừa của Công ước về
Quyền trẻ em, thông qua các quy định cũng giúp chúng ta hiểu NCTN là người dưới
18 tuổi. Tuy nhiên, do sự phát triển của những quốc gia là khác nhau nên khái niệm
NCTN ở các quốc gia cũng khác nhau, bên cạnh việc đưa ra khái niệm này thì Công
ước về quyền trẻ em vẫn còn những điều khoản để ngỏ cho các nước quy định về độ
tuổi NCTN, thậm chí ngay trong một quốc gia các văn bản pháp luật cũng quy định
không thống nhất về vấn đề này.
Khái niệm NCTN (người dưới 18 tuổi) khác với khái niệm trẻ em. Theo Điều
1 Luật Trẻ em năm 2016: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi” [18].
Trong luật hình sự Việt Nam, khái niệm NCTN được nhà làm luật sử dụng
với tư cách vừa là đối tượng tác động của tội phạm vừa là chủ thể thực hiện tội
phạm. Với tư cách là chủ thể thực hiện tội phạm, NCTNPT là khái niệm không
những mang tính pháp lý mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội sâu sắc. NCTNPT là
người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi có năng lực TNHS chưa đầy đủ, do hạn chế bởi các
đặc điểm về tâm sinh lý và có lỗi (cố ý hoặc vô ý) trong việc thực hiện hành vi nguy
hiểm cho xã hội bị Luật hình sự cấm. BLHS năm 1999 quy định NCTN là những
người chưa đủ 18 tuổi, nhưng chỉ những NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi mới
có thể phải chịu TNHS về hành vi nguy hiểm cho xã hội, còn NCTN dưới 14 tuổi
thì không phải chịu TNHS. Người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ
phải chịu TNHS về những tội rất nghiêm trọng do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt
nghiêm trọng, còn NCTN đủ 16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm (Điều
12 BLHS 1999). Đồng thời luật hình sự Việt Nam cũng đưa ra khái niệm NCTNPT
chỉ bao gồm những người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 18 tuổi thực hiện

gia đình không hoàn chỉnh, cha mẹ thường xuyên mâu thuẫn, không tôn trọng nhau,
thường xuyên đánh chửi nhau hoặc bố mẹ ly hôn; bố mẹ chết... thì các em dễ nảy
sinh tâm lý mặc cảm, lo sợ, hoài nghi, không tin tưởng, bất cần... mặt khác, các em
không được bố mẹ quan tâm dạy dỗ, chăm sóc, giáo dục nên dễ dẫn đến các em có
những hành vi lệch lạc; đối với những em thiếu bản lĩnh thì hoàn cảnh, điều kiện gia
đình không tốt sẽ là nguyên nhân dẫn các em có nhận thức không đúng đắn, dễ dẫn
đến việc thực hiện hành vi phạm tội. Nhóm bạn có tác động rất lớn tới sự phát triển

8


tâm lý của người dưới 18 tuổi. Giao tiếp với nhóm bạn xấu, người dưới 18 tuổi dễ bị
lôi kéo vào những hành vi, lối sống xấu, thậm chí các em còn có thể bị lôi kéo vào
việc thực hiện tội phạm [19].
1.1.3. Nguyên tắc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội
Theo quy định tại Điều 68 BLHS năm 1999 về áp dụng BLHS đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu
TNHS theo quy định của chương này, đồng thời, theo những quy định khác của
Phần chung Bộ luật không trái với những quy định của chương này. Như vậy, khi
xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội, cần tuân thủ các quy định tại chương X về người
dưới 18 tuổi phạm tội và các quy định khác của BLHS không trái với các quy định
này [56, tr. 470] .
Với sự cân nhắc yếu tố liên quan nêu trên, việc xử lý người dưới 18 tuổi
phạm tội có những khác biệt đáng kể so với xử lý người từ đủ 18 tuổi phạm tội. Sự
khác biệt này, trước hết được thể hiện trong các quy định về TNHS đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội, trong đó quan trọng nhất là quy định về nguyên tắc xử lý
người dưới 18 tuổi phạm tội. Đây là những quy định giữ vai trò định hướng đối với
việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội. Việc xử lý những hành vi phạm tội do
người dưới 18 tuổi thực hiện cần phải được xem xét kỹ lưỡng nhằm phù hợp và thể
hiện được tinh thần nhân đạo của pháp luật hình sự Việt Nam cũng như phù hợp với

trường hợp phạm tội cụ thể nào người dưới 18 tuổi cũng có đủ năng lực TNHS, tức
là có khả năng nhận thức đầy đủ tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi mà mình thực hiện và hậu quả của nó cũng như khả năng điều khiển hành vi đó.
Vì thế, luật hình sự Việt Nam đòi hỏi trong quá trình tố tụng, các cơ quan và người
tiến hành tố tụng cần áp dụng các biện pháp phù hợp nhằm xác định chính xác mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Ngoài ra, cần làm rõ khả năng nhận
thức của người dưới 18 tuổi phạm tội về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện phạm tội, thiệt hại do tội phạm gây
ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS... Chỉ khi làm rõ những yếu tố ảnh
hưởng trực tiếp đến mức độ nguy hiểm của hành vi và nhân thân người phạm tội thì
cơ quan tư pháp và người người tiến hành tố tụng mới có thể giúp họ nhận thức
được sai lầm, để từ đó có thể giáo dục, uốn nắn những hành vi không phù hợp, làm
cho họ tự giác sửa chữa để trở thành công dân có ích cho xã hội.
Nguyên tắc thứ hai: Người người dưới 18 tuổi phạm tội có thể được miễn
TNHS, nếu người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại

10


không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình, cơ quan, tổ chức nhận giám
sát, giáo dục . Theo tinh thần nguyên tắc này thì người dưới 18 tuổi phạm tội có thể
được miễn TNHS nếu tất cả các điều kiện được nêu trên thỏa mãn.
Miễn TNHS đối với người phạm tội có nghĩa là miễn bị truy cứu TNHS và
đương nhiên kéo theo là miễn phải chịu các hậu quả tiếp theo do sự thực hiện
TNHS từ phía Nhà nước đem lại. Như vậy, để có thể được miễn TNHS trong trường
hợp này cần có những điều kiện sau: i) tội phạm mà người đó thực hiện chỉ có thể là
tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng. Trong bốn loại tội phạm theo
phân loại tại Điều 8 BLHS, gồm tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng,
tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đây là hai loại tội
có tính nguy hiểm cho xã hội thấp hơn. ii) tội phạm mà họ thực hiện gây hại không

Các biện pháp tư pháp được quy định áp dụng đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và biện pháp đưa vào
trường giáo dưỡng. Trong hai biện pháp này, một biện pháp tác động theo hướng
giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội ngay trong chính môi trường sống của họ, một
biện pháp giáo dục người dưới 18 tuổi phạm tội trong một môi trường tập trung có
tính kỷ luật cao. Hai biện pháp này tuy gần giống hai loại hình phạt được quy định
và áp dụng đối với người phạm tội nói chung là cải tạo không giam giữ và tù có thời
hạn, nhưng chúng không gây ra tác động tiêu cực đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội như hai loại hình phạt đó.
Nguyên tắc thứ năm: Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội. Trong hệ thống hình phạt ở nước ta, đây là hai hình
phạt thể hiện tính trừng trị cao nhất: một hình phạt mang tính chất là tước tự do suốt
đời và một hình phạt tước quyền sống của người bị kết án. Với tích chất đó, các
hình phạt này chỉ được áp dụng trong những trường hợp hành vi phạm tội và nhân
thân người phạm tội cho thấy người đó khó hoặc không còn khả năng cải tạo, giáo
dục. Những hình phạt này trái với đường lối xử lý chung đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội.
Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người dưới 18 tuổi phạm tội được
hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi phạm tội tương
ứng. Quy định này phù hợp với sự đánh giá về sự thiếu hoàn thiện trong nhận thức
và kinh nghiệm sống của người dưới 18 tuổi và cũng là biểu hiện của đường lối xử
lý khoan hồng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm hạn chế tác động tiêu cực
của môi trường trại giam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

12


Không áp dụng hình phạt tiền đối với người dưới 18 tuổi phạm tội ở độ tuổi
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Người dưới 18 tuổi phạm tội trong độ tuổi này
thường chưa tham gia lao động để có tài sản nên việc hiểu đúng giá trị của tài sản


đảm bảo sự phát triển bình thường cho các em.
Tóm lại, những quy định tại Điều 69 và Chương X BLHS 1999 đã thể hiện
sâu sắc tính nhân đạo trong chính sách pháp luật của Đảng và Nhà nước ta, phù hợp
với tư tưởng thống nhất xuyên suốt là lấy giáo dục, phòng ngừa làm mục đích trung
tâm trong mọi hoạt động tố tụng của các cơ quan tư pháp đối với bị can, bị cáo là
người dưới 18 tuổi. Điều đó góp phần khuyến khích người dưới 18 tuổi phạm tội
tích cực cải tạo, sửa chữa những sai lầm để trở thành người có ích cho gia đình và
xã hội.
1.2. Một số vấn đề chung về hình phạt tù đối với ngƣời dƣới 18 tuổi
phạm tội
1.2.1. Khái niệm hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Trong lịch sử loài người, hình phạt luôn được coi là công cụ chủ yếu nhất
trong việc đấu tranh và phòng chống tội phạm. Hình phạt không phải một cái gì
khác ngoài phương tiện để tự bảo vệ mình của xã hội chống lại sự vi phạm của các
điều kiện tồn tại của nó [13]. Tuy nhiên, việc nhận thức về những vấn đề liên quan
đến hình phạt nói chung trong khoa học pháp lý hình sự cho đến bây giờ vẫn chưa
có quan điểm thống nhất. Vì vậy, trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền
và cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, việc nghiên cứu những vấn đề lý luận về
hình phạt có ý nghĩa rất quan trọng trên cả ba mặt: lập pháp, khoa học và thực tiễn
áp dụng pháp luật.
Hình phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất được BLHS quy định do
Tòa án nhân danh Nhà nước áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện tội
phạm và thể hiện ở việc tước đoạt hoặc hạn chế các quyền và lợi ích do pháp luật
quy định đối với người bị kết án [5].
Pháp luật hình sự nước ta không cho phép áp dụng hình phạt đối với những
hành vi không phải là tội phạm, không được quy định trong BLHS, không được quy
định trong hệ thống hình phạt hiện hành và trong chế tài của các điều luật cụ thể.
Khi hành vi nguy hiểm cho xã hội được coi là tội phạm đòi hỏi phải quy định loại
hình phạt và mức hình phạt tương xứng với mức độ nguy hiểm của hành vi do tội

thức tuân thủ pháp luật. Việc tước tự do của người phạm tội và buộc họ phải cải tạo
mang mục đích phòng ngừa chung, khi người bị kết án tù và phải chấp hành án tại
trại giam thì họ không còn điều kiện để phạm tội, gây ảnh hưởng đến trật tự, an toàn
xã hội.
Tù có thời hạn có mức quy định thời hạn tối thiểu là 03 tháng và tối đa là 20

15


năm. Tuy nhiên, cần phải hiểu đây là chế tài chung, các chế tài cụ thể của từng Phần
các tội phạm trong BLHS quy định thời hạn tù cụ thể đối với từng cấu thành tội
phạm cụ thể. Trong lịch sử luật hình sự nước ta, tù có thời hạn là hình phạt điển
hình nhất và đã được quy định ngay từ đầu. Những văn bản đầu tiên của Nhà nước
ta, hoặc là không nói rõ thời hạn tù, việc xác định thời hạn được giao cho các Tòa
án, hoặc mức thấp nhất của hình phạt tù được tính bằng ngày, bằng tháng, chứ
không phải là ba tháng như hiện nay. Chẳng hạn, Sắc lệnh 68 ngày 30/11/1945 “ấn
định thể lệ trưng thu và trưng tập tài sản, quy định thời hạn tù từ 06 ngày đến 03
tháng”. Sắc lệnh 157 ngày 16/8/1946 “bắt buộc các thứ thuốc theo cách bào chế Âu
- Mỹ phải dán nhãn hiệu, quy định hình phạt tù từ 03 đến 10 ngày”. Sau này, qua
thực tiễn xét xử, giáo dục, cải tạo người phạm tội ở nước ta đã cho thấy việc sử
dụng thời hạn quá ngắn cho hình phạt tù là không có hiệu quả. Do đó, các hình phạt
tù đó đã được thay thế bằng các biện pháp hành chính hoặc giáo dục tại chỗ. Bắt
đầu từ những năm 50 của thế kỷ XX trở lại đây, các văn bản pháp luật của Nhà
nước ta đã thống nhất quy định thời hạn tù tối thiểu là ba tháng, tại Sắc lệnh số: 223
ngày 17/11/1946 “trừng trị các tội hối lộ thì thời hạn tù được quy định là 20 năm”.
Xét về mặt bản chất, tù có thời hạn là một hiện tượng có mâu thuẫn nội tại
của nó. Một mặt nó giữ người phạm tội không thể gây nguy hại cho đối tượng mà
luật hình sự bảo vệ nhưng lại gây ra yếu tố tiêu cực đối với người bị kết án, mà xét
trong hoàn cảnh bình thường, xã hội không hề muốn có đối với công dân của mình.
Nhà nước cần phải thấy trong người vi phạm pháp luật một phần con người, một

những đặc trưng khác biệt, điều này gây khó khăn ít nhiều cho họ khi mãn hạn tù
trở về với cuộc sống bình thường. Đặc biệt là với người dưới 18 tuổi phạm tội, họ
đang trong lứa tuổi phát triển thể lực, trí lực và nhân cách thì hình phạt này ảnh
hưởng sâu sắc đến tương lai của họ. Đến hiện nay, hình phạt tù vẫn được áp dụng
thường xuyên nhưng có thể thấy rằng hình phạt tù là một biện pháp ít mang lại hiệu
quả trong việc ngăn ngừa tội phạm. Vì vậy, hình phạt tù áp dụng đối với người dưới
18 tuổi phạm tội chỉ được áp dụng khi thật cần thiết và là lựa chọn cuối cùng. Khi
áp dụng hình phạt tù đối với người dưới 18 tuổi phạm tội thì Tòa án phải cân nhắc,
lựa chọn một thời hạn vừa đúng pháp luật vừa phù hợp với từng bị cáo và ngắn nhất
có thể được để đảm bảo mục đích của loại hình phạt, đảm bảo được yêu cầu của
Công ước về Quyền trẻ em cũng như nguyên tắc Bắc Kinh [22].
Điều 74 BLHS 1999 quy định mức hình phạt tù áp dụng đối với NCTNPT
như sau:

17


“Đối với NCTN từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật áp
dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất
được áp dụng không quá 18 năm tù, nếu tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất
được áp dụng không quá ba phần tư mức hình phạt tù mà điều luật quy định.
Đối với NCTN từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật áp
dụng có quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất
được áp dụng không quá 12 năm tù, nếu tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất
được áp dụng không quá một phần hai mức hình phạt tù mà điều luật quy định”.
Có thể khái quát khái niệm về hình phạt tù áp dụng đối với người dưới 18
tuổi phạm tội như sau: Hình phạt tù áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội là
loại hình phạt nghiêm khắc nhất. Loại hình phạt này tước tự do, buộc người bị kết
án phải cách ly khỏi môi trường xã hội bình thường và chấp hành một chế độ quản
lý, giáo dục cải tạo tại trại giam trong một thời hạn nhất định. Mức tối thiểu của


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status