VIỆN HÀN LÂM
KHOA HOC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ GIANG
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
Chuyên ngành : Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Văn Độ
Phản biện 1: …………………………………………
…………………………………………
Phản biện 2: …………………………………………
…………………………………………
Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện Khoa học xã hội ..... giờ ...... ngày ...... tháng ......
năm ......
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội
1
định pháp luật và nâng cao chất lượng quyết định hình phạt đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực
tiễn.
Vì vậy, học viên đã lựa chọn Đề tài “Quyết định hình phạt
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam
từ thực tiễn huyện Bến Lức, tỉnh Long An” làm luận văn thạc sỹ luật
học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu
Thời gian qua, việc nghiên cứu về hình phạt nói chung và
quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội nói riêng ở nước ta đã
có một số công trình khoa học đề cập trực tiếp hoặc gián tiếp đến vấn
đề này. Những công trình nghiên cứu này đã có những đóng góp mới
về lý thuyết góp phần hoàn thiện pháp luật hình sự, cũng như hoàn
thiện lý luận về quyết định hình phạt, nhất là quyết định hình phạt
đối với NCTN phạm tội. Tuy nhiên, có công trình phạm vi nghiên
cứu rộng, trong đó vấn đề quyết định hình phạt đối với NCTN phạm
tội chỉ là một phần trong nội dung nghiên cứu nên chưa được phân
tích sâu cả về mặt lý luận và mặt thực tiễn; có những công trình
nghiên cứu về quyết định hình phạt đối với NCTN phạm tội nhưng
đã được tiến hành cách đây khá lâu nên giá trị lý luận và thực tiễn
không cao. Đặc biệt cho đến nay vẫn chưa có công trình khoa học
nào được công bố về những nghiên cứu cụ thể, toàn diện về quyết
định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật
hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Bến Lức nói riêng và tỉnh Long
An chung.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn và đánh giá thực
những người nghiên cứu, học tập liên quan đến người dưới 18 tuổi
phạm tội. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được sử dụng
3
trong thực tiễn tiến hành hoạt động áp dụng pháp luật, nâng cao hiệu
quả công tác xét xử của Tòa án khi giải quyết các vụ án hình sự do
người dưới 18 tuổi thực hiện tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo,
nội dung Luận văn gồm 03 chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội.
Chương 2. Quy định về quyết định hình phạt đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội và thực tiễn áp dụng tại huyện Bến Lức, tỉnh
Long An.
Chương 3. Yêu cầu và các giải pháp nâng cao chất lượng
quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
4
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH
HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
1.1. Lý luận về người dưới 18 tuổi phạm tội
1.1.1. Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội
Ở nước ta, người được coi là có nhận thức đầy đủ là người từ
18 tuổi trở lên và người dưới 18 tuổi - hay còn gọi là NCTN là
“người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận với đầy đủ các
khi chưa có đủ kiến thức và kinh nghiệm sống như người trưởng
thành. Người dưới 18 tuổi dễ bị người khác kích động, dụ dỗ.
- Đặc điểm về khả năng giáo dục: Có thể nói người dưới 18
tuổi dễ tiếp thu sự giáo dục để trở thành người tốt hơn so với người
đã thành niên. Nếu như sự thiếu chín chắn, thiếu kiến thức và kinh
nghiệm sống có thể dẫn người dưới 18 tuổi đến việc thực hiện xử sự
phạm tội thì đồng thời cũng thể hiện tính chống đối xã hội của những
người ở độ tuổi này khi thực hiện xử sự phạm tội thấp hơn so với
người thành niên trong tình huống tương tự.
- Chính sách của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội: Từ yêu cầu của nguyên tắc nhân đạo và phân hóa TNHS, đặc
biệt là nguyên tắc “việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo
đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi”. Vì vậy TNHS của
người dưới 18 tuổi phạm tội có những đặc thù riêng đó là: Có tính
chất giảm nhẹ hơn so với người phạm tội đã thành niên; được tiến
hành theo thủ tục đặc biệt.
1.2. Lý luận về quyết định hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội.
1.2.1. Khái niệm quyết định hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội.
6
Theo chúng tôi, “Quyết định hình phạt là một giai đoạn, một
nội dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án đưa
ra biện pháp TNHS, lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy
định trong điều luật (khoản điều luật) theo một thủ tục nhất định để
áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong bản án kết tội”.
Người dưới 18 tuổi là đối tượng đặc biệt, BLHS có một
hiện ở chỗ BLHS nước ta quy định các biện pháp miễn, giảm TNHS;
hạn chế sự trừng trị, trong mọi trường hợp không cho phép Tòa án
quyết định hình phạt quá mức cần thiết.
Thứ ba, nguyên tắc cá thể hóa hình phạt: Khi quyết định
hình phạt Tòa án phải căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự
và ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa, cân nhắc tính chất và mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm
tội và các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS để quyết định đối với
bị cáo một loại và mức hình phạt cụ thể.
Thứ tư, nguyên tắc công bằng: Thể hiện ở chỗ, loại và mức
hình phạt do Tòa án tuyên phải tương xứng với tội phạm đã thực
hiện và nhân thân người phạm tội. Nghĩa là tội đã phạm càng nghiêm
trọng và trong những điều kiện khác giống nhau, thì hình phạt càng
nghiêm khắc và ngược lại. Mọi người phạm tội đều phải chịu trách
nhiệm một cách bình đẳng trước pháp luật hình sự.
1.2.2.2. Các nguyên tắc quyết định hình phạt đặc thù
Khi quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội ngoài việc tuân thủ các nguyên tắc quyết định hình phạt chung
nêu trên còn phải tuân thủ một số nguyên tắc riêng đặc thù sau:
Môt là, nguyên tắc giảm nhẹ hình phạt: TNHS nói chung và
hình phạt nói riêng được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội giảm nhẹ hơn so với người đã thành niên phạm tội. Tuy nhiên
mức độ giảm nhẹ hình phạt được xác định trong khuôn khổ luật định.
8
Hai là, nguyên tắc coi trọng và đề cao mục tiêu giáo dục, cải
tạo: Những người phạm tội đều có khả năng phục thiện thông qua
con đường giáo dục thích hợp. Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
thì có khả năng cải tạo, phục thiện cao hơn vì nhân cách của họ đang
cải tạo, giáo dục của bị cáo cũng như hoàn cảnh của họ, khi quyết
định hình phạt Tòa án phải căn cứ cả vào nhân thân người phạm tội.
- Thứ tư, căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng
TNHS: Tòa án phải tuân thủ quy định có tính nguyên tắc, các tình tiết
tăng nặng chỉ là những tình tiết đã được quy định rõ trong luật, còn
các tình tiết giảm nhẹ có thể là những tình tiết được quy định trong
luật, cũng có thể không được quy định cụ thể trong luật nhưng được
Tòa án coi là tình tiết giảm nhẹ và phải nói rõ lý do và ghi rõ trong
bản án.
1.2.3.2. Các căn cứ đặc thù
Đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, khi quyết định hình
phạt Tòa án vừa phải tuân theo những căn cứ chung nêu trên vừa
phải tuân theo các căn cứ đặc thù:
- Căn cứ vào nguyên tắc xử lý đối với NCTN phạm tội.
- Căn cứ vào độ tuổi, tình trạng thể chất, tinh thần và mức
độ nhận thức hành vi của NCTN.
- Căn cứ vào hoàn cảnh, điều kiện sống và điều kiện giáo
dục của NCTN.
10
Chương 2
QUY ĐỊNH VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI VÀ THỰC TIỄN
ÁP DỤNG TẠI HUYỆN BẾN LỨC - TỈNH LONG AN
2.1. Quy định của BLHS về quyết định hình phạt đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội.
2.1.1. Quy định về mục đích hình phạt và các biện pháp
TNHS đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
nhằm tăng khả năng áp dụng các biện pháp có lợi hơn cho NCTN.
* Các hình phạt được áp dụng
Trong trường hợp không có cơ sở để miễn hình phạt hay áp
dụng các biện pháp tư pháp thì Tòa án áp dụng một trong các hình
phạt chính được quy định trong Điều 71 BLHS hiện hành đó là cảnh
cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ và tù có thời hạn. BLHS năm
2015 đã mở rộng khả năng áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ
đối với cả người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm
trọng do cố ý (Điều 100).
2.1.2. Quy định về các căn cứ quyết định hình phạt đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội
2.1.2.1. Các quy định của BLHS
Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào các quy
định của BLHS tức là căn cứ vào các quy định của Phần chung và
Phần các tội phạm của BLHS. Đối với người dưới 18 tuổi - hay còn
gọi là NCTN là đối tượng đặc biệt, BLHS có một chương riêng
(chương X) về việc áp dụng đối với họ. Nên khi quyết định hình phạt
đối với NCTN phạm tội, Hội đồng xét xử phải dựa vào các quy định
ở Phần chung không trái với quy định tại chương X, đồng thời áp
dụng các quy định đặc thù đối với NCTN. Ngoài ra Tòa án phải căn
cứ vào chế tài của điều luật quy định tội phạm mà bị cáo thực hiện.
12
2.1.2.2. Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành
vi phạm tội
Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội ngoài việc
căn cứ vào các quy định của BLHS, Tòa án phải cân nhắc tính chất
và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội. Tính chất và
mức độ nguy hiểm cho xã hội là thuộc tính khách quan của một loại
coi là tình tiết giảm nhẹ và phải nói rõ lý do và ghi rõ trong bản án.
2.1.3. Quy định về nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18
tuổi phạm tội
Thứ nhất, “việc xử lý NCTN phạm tội chủ yếu nhằm giáo
dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành
công dân có ích cho xã hội…” BLHS năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung
theo hướng đề cao nguyên tắc đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người
dưới 18 tuổi khi xử lý hình sự: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm
tội phải đảm bảo lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi…”
Thứ hai, “NCTN phạm tội có thể được miễn TNHS, nếu
người đó phạm tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng, gây hại
không lớn, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và được gia đình hoặc cơ
quan, tổ chức nhận giám sát, giáo dục”.
Thứ ba, việc truy cứu TNHS NCTN phạm tội và áp dụng
hình phạt đối với họ được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và
phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm tội, vào những đặc điểm
về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm.
Thứ tư, khi xét xử nếu thấy không cần thiết phải áp dụng
hình phạt đối với NCTN phạm tội, thì Tòa án áp dụng một trong các
biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của BLHS. BLHS năm
2015 đã sửa đổi theo hướng khi xét xử người dưới 18 tuổi, Tòa án
trước hết phải cân nhắc để áp dụng việc miễn TNHS và áp dụng một
trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc áp dụng biện pháp giáo
14
dục tại trường giáo dưỡng và chỉ áp dụng hình phạt nếu các biện
pháp này không đảm bảo hiệu quả giáo dục, phòng ngừa.
Thứ năm, không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với
NCTN phạm tội. Khi áp dụng hình phạt đối với NCTN phạm tội cần
cứu TNHS và bị đưa ra xét xử cùng một lần. Khi quyết định hình
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp này Tòa
án phải tuân thủ các quy định chung về quyết định hình phạt trong
trường hợp phạm nhiều tội tại Điều 50 BLHS hiện hành, đồng thời
phải tuân thủ những quy định riêng đối với NCTN về tổng hợp hình
phạt trong trường hợp phạm nhiều tội tại Điều 75 BLHS.
BLHS năm 2015 ban hành đã quy định rõ nguyên tắc tổng
hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội và mức phạt cao nhất
áp dụng đối với từng hình phạt cụ thể (Điều 103).
2.1.4.3. Quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp
chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt
Người chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội
đặc biệt nghiêm trọng, thì phải chịu TNHS về tội định thực hiện,
người phạm tội chưa đạt phải chịu TNHS về tội phạm chưa đạt,
(Điều 17, Điều 18, BLHS năm 1999). Vì vậy, NCTN từ đủ 16 tuổi
trở lên sẽ phải chịu TNHS về chuẩn bị phạm tội và tội phạm chưa đạt
như người đã thành niên khác. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng
chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu TNHS về hành vi chuẩn bị phạm tội
đối với tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và chỉ phải chịu TNHS về
hành vi phạm tội chưa đạt đối với tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý
hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. BLHS năm 2015 đã sửa đổi
Điều 17 về chuẩn bị phạm tội, bổ sung thêm Điều 102 về quyết định
hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt.
2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với người dưới 18
tuổi phạm tội của TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An
16
2.2.1. Khái quát tình hình người dưới 18 tuổi phạm tội trên
địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An
18 tuổi phạm tội qua thực tiễn xét xử tại TAND huyện Bến Lức,
Chúng tôi đã so sánh với việc quyết định hình phạt chung của
TAND huyện Bến Lức, đồng thời tiến hành nghiên cứu hơn 50 bản
án có bị cáo là người dưới 18 tuổi. Nhìn chung các bản án đều thể
hiện việc quyết định hình phạt là công bằng, nghiêm minh, hợp lý,
đủ sức răn đe và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo áp dụng đúng pháp
luật. Điều này được thể hiện qua số lượng kháng cáo rất thấp 08/63
bị cáo và không có kháng nghị của Viện kiểm sát. Đặc biệt trong 08
bị cáo là người dưới 18 tuổi kháng cáo, cấp phúc thẩm xét xử kết
quả: Giữ nguyên mức hình phạt của cấp sơ thẩm 06 bị cáo, đình chỉ
xét xử phúc thẩm 01 bị cáo và sửa mức hình phạt 01 bị cáo.
2.2.3. Những vướng mắc, hạn chế trong quyết định hình
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội tại TAND huyện Bến
Lức, tỉnh Long An và nguyên nhân
2.2.3.1. Những vướng mắc, hạn chế
Thứ nhất, việc nhận định về nhân thân bị cáo, về xác định
tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, chưa phân tích sâu tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội mà chỉ phân tích
chung chung, dẫn đến có tình trạng quyết định hình phạt chưa
tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
Thứ hai, hình phạt cải tạo không giam giữ chưa được chú
trọng áp dụng mặc dù có lợi hơn trong việc giáo dục, giúp đỡ người
dưới 18 tuổi sửa chữa sai lầm, tái hòa nhập cộng đồng.
Thứ ba, hình phạt tù chiếm tỉ lệ cao trong số các hình phạt
áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội (40/63 bị cáo ≈
63,49%; án treo là 14/63 bị cáo ≈ 22,22%) là chưa phù hợp với
18
YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
3.1. Các yêu cầu nâng cao chất lượng quyết định hình
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
- Thứ nhất, yêu cầu của Cải cách tư pháp: Cải cách tư pháp
là chủ trương lớn của Đảng nhằm từng bước xây dựng và hoàn thiện
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ quyền con người đáp
ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội bền vững, chủ động hội nhập
quốc tế. Trong đó Tòa án được xác định là cơ quan có vai trò quan
trọng, là điểm trung tâm trong tiến trình cải cách tư pháp. Về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định tại Nghị quyết số
49/NQ-TW của Bộ chính trị.
- Thứ hai, yêu cầu bảo vệ quyền con người trong Nhà nước
pháp quyền theo Hiến pháp 2013: Hiến pháp năm 2013 với mục tiêu
quan trọng là tiếp tục phát huy dân chủ, bảo đảm chủ quyền Nhân
dân, thực hiện tốt hơn quyền con người. Điều 2 Hiến pháp năm 2013
khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì
Nhân dân. Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân
làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân…” Theo Hiến
pháp năm 2013 thì Tòa án là cơ quan xét xử, thực hiện quyền tư
pháp. Sứ mệnh của TAND là bảo vệ công lý, bảo vệ quyền con
người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi
ích của Nhà nước...
- Thứ ba, yêu cầu của chính sách bảo vệ trẻ em: Bảo vệ,
chăm sóc và giáo dục trẻ em là đường lối nhất quán, xuyên suốt
20
Bốn là, BLHS năm 2015 cụ thể hóa điều kiện miễn TNHS áp
dụng riêng cho từng đối tượng NCTN phạm tội (người từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi, người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi”.
Năm là, BLHS năm 2015 mở rộng phạm vi không bị coi là
có án tích đối với NCTN phạm tội.
Sáu là, BLHS năm 2015 bổ sung chế định tha tù trước thời
hạn có điều kiện.
Theo chúng tôi, có lẽ cách tốt nhất để quán triệt và triển khai
thi hành BLHS 2015 là Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao nên ban hành Nghị quyết chuyên đề hướng dẫn một cách đầy đủ,
toàn diện và hệ thống việc áp dụng quy định của Chương XII về
những quy định đối với người dưới 18 tuổi thực hiện.
3.2.2. Tiếp tục hoàn thiện pháp luật
BLHS năm 2015 được ban hành có nhiều điểm mới, bổ sung
những hạn chế trong BLHS hiện hành. Tác giả đồng tình với những
điểm mới mà BLHS năm 2015 đã sửa đổi bổ sung về TNHS của
người dưới 18 tuổi nói chung và quyết định hình phạt đối với người
dưới 18 tuổi nói riêng. Song bên cạnh đó, vẫn còn có một số vấn đề
tác giả cho rằng cần sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định
khác của pháp luật, cụ thể:
Một là, quy định hình phạt cảnh cáo thành một điều luật
riêng với các nội dung tương ứng với hai nhóm độ tuổi từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Hai là, bổ sung một quy định riêng về quyết định hình phạt
trong trường hợp đồng phạm đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
nhằm tạo ra sự đồng bộ trong việc xử lý cho đối tượng này.
Ba là, để tăng việc áp dụng các hình phạt không phải là hình
phạt tù, nhà làm luật cần nghiên cứu tăng số lượng các điều khoản có
22
23