Quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn huyện bến lức, tỉnh long an - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ GIANG

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ GIANG

QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN HUYỆN BẾN LỨC, TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội của Tòa án
nhân dân huyện Bến Lức, tỉnh Long An ........................................................................ 50
Chương 3: YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG
QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI ..... 65
3.1. Các yêu cầu nâng cao chất lượng quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội ............................................................................................................................... 65
3.2. Các giải pháp ............................................................................................................... 68
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 81


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BLHS:

Bộ luật hình sự

NCTN:

Người chưa thành niên

TAND:

Tòa án nhân dân

TNHS:

Trách nhiệm hình sự



ban hành đã lâu, một số quy định của Bộ luật không còn phù hợp với điều kiện phát
triển của đất nước, chưa đáp ứng được yêu cầu của xu thế hội nhập cũng như yêu
cầu đấu tranh, phòng chống tội phạm nói chung và tội phạm dưới 18 tuổi nói riêng.
BLHS năm 2015 đã được ban hành, trong đó một trong những nội dung lớn
được sửa đổi, bổ sung là hoàn thiện chính sách hình sự đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội nhằm bảo đảm sự phù hợp với chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về
tăng cường bảo vệ NCTN, đề cao hiệu quả phòng ngừa và tính hướng thiện trong
việc xử lý người phạm tội được ghi nhận tại Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ
Chính trị, đồng thời bảo đảm sự phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về
Quyền trẻ em và các chuẩn mực pháp lý quốc tế về tư pháp đối với NCTN. Theo
1


BLHS năm 2015, chính sách xử lý đối với NCTN phạm tội đã được sửa đổi, bổ
sung nhiều nội dung như nguyên tắc xử lý, phạm vi TNHS của người từ đủ 14 tuổi
đến dưới 16 tuổi, các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp người dưới 18
tuổi được miễn TNHS, xóa án tích, đặc biệt là các chế định pháp lý về quyết định
hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt, tổng hợp hình
phạt.
Thực tiễn những năm qua cho thấy quyết định hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội còn có nhiều bất cập, hạn chế do nhận thức và áp dụng không
thống nhất các quy định của BLHS. Do đó việc nghiên cứu một cách có hệ thống
các vấn đề lý luận; phân tích các quy định pháp luật hình sự về quyết định hình phạt
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội và đánh giá thực tiễn áp dụng trên một địa bàn
cụ thể; qua đó đề xuất giải pháp góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật và
nâng cao chất lượng thực tiễn quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội có ý nghĩa cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Vì vậy, học viên đã lựa chọn Đề tài “Quyết định hình phạt đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn huyện Bến Lức,
tỉnh Long An” làm luận văn thạc sĩ luật học của mình.

quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Long An. Mặt khác BLHS năm 2015 đã đươc ban hành
trong đó những quy định đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có nhiều sửa đổi bổ
sung so với các quy định trong BLHS năm 1999 và các quy định về pháp luật hình
sự trước đây. Chính vì vậy việc tiếp tục nghiên cứu để hoàn thiện các quy định về
quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội rất có ý nghĩa về mặt lý
luận và thực tiễn.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của Luận văn là trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quyết
định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, phân tích quy định của pháp
luật và thực tiễn áp dụng tại TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An; làm sáng tỏ
những vướng mắc, hạn chế để đưa ra các giải pháp góp phần nâng cao chất lượng
quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
3


3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận liên quan đến quyết định hình phạt đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội;
- Phân tích các quy định của BLHS hiện hành và so sánh với BLHS năm
2015 liên quan đến quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội;
- Đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội tại TAND huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
- Đưa ra những yêu cầu và giải pháp nâng cao chất lượng quyết định hình
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những quy định hiện hành của pháp luật hình sự
Việt Nam về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Nghiên cứu

do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung Luận
văn gồm 03 chương như sau:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về quyết định hình phạt đối với người dưới
18 tuổi phạm tội.
Chương 2. Quy định về quyết định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội và thực tiễn áp dụng tại huyện Bến Lức, tỉnh Long An.
Chương 3. Yêu cầu và các giải pháp nâng cao chất lượng quyết định hình
phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT
ĐỐI VỚI NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI
1.1. Lý luận về người dưới 18 tuổi phạm tội
1.1.1. Khái niệm người dưới 18 tuổi phạm tội
Không phải từ khi sinh ra con người đã có nhận thức đầy đủ về tự nhiên, xã
hội, về chính mình. Khả năng nhận thức được những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội
không tồn tại một cách bẩm sinh mà là kết quả của quá trình sống, hoạt động giao
tiếp trong môi trường xã hội với một thời gian nhất định. Khi khả năng nhận thức
những yêu cầu, đòi hỏi của con người đạt đến một giới hạn nhất định thì họ mới
hiểu được quyền và nghĩa vụ của mình trong đời sống xã hội, mới thấy được những
đòi hỏi của xã hội đối với họ và từ đó mới có thể đánh giá được ý nghĩa xã hội của
hành vi mà mình đã thực hiện. Tuy nhiên ở mỗi quốc gia, do những điều kiện kinh
tế, xã hội khác nhau nên pháp luật cũng quy định độ tuổi đạt được mức độ nhận
thức đầy đủ khác nhau.
Ở nước ta, người được coi là có nhận thức đầy đủ là người từ 18 tuổi trở lên

trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý …”
Như vậy để xác định một người nào đó phải chịu TNHS thì phải xác định đủ các
yếu tố như: sự việc xảy ra có đầy đủ các dấu hiệu của một tội phạm được quy định
trong BLHS; người thực hiện hành vi phạm tội đó phải có năng lực TNHS; sự việc
xảy ra do lỗi của người đó.
Trên cơ sở các lập luận trên, theo tác giả, có thể đưa ra khái niệm về người
dưới 18 tuổi phạm tội như sau: “Người dưới 18 tuổi phạm tội là người từ đủ 14 tuổi
đến dưới 18 tuổi không ở trong tình trạng không có năng lực TNHS, cố ý hoặc vô ý
thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mà BLHS quy định là tội phạm tương ứng
với từng độ tuổi”.
1.1.2. Những đặc điểm của người dưới 18 tuổi phạm tội tác động đến
quyết định hình phạt
- Đặc điểm về tâm sinh lý
So với người thành niên, NCTN nói chung, người đủ 14 tuổi đến dưới 18
tuổi phạm tội nói riêng có các đặc điểm tâm sinh lý xã hội khác biệt nhất định tác
7


động đến việc truy cứu TNHS và quyết định hình phạt đối với họ. Đây là độ tuổi
chuyển giao từ giai đoạn là trẻ em sang giai đoạn trưởng thành với nhiều thay đổi về
tâm sinh lý. Cùng với sự thay đổi mạnh mẽ về thể chất, tâm sinh lý của người dưới
18 tuổi cũng có sự thay đổi lớn, họ thường cố gắng khẳng định sự trưởng thành, sự
độc lập cũng như vai trò của bản thân đối với những người xung quanh bằng cả lời
nói và những xử sự cụ thể. Trong khi chưa có đủ kiến thức và kinh nghiệm sống
như người trưởng thành, việc người dưới 18 tuổi cố gắng thể hiện vai trò, bản lĩnh
của bản thân vừa có thể là động lực để các em phấn đấu học tập, rèn luyện nhưng
cũng có thể dẫn đến việc thực hiện hành vi nông nổi, thiếu chín chắn, trong đó có
thể có những hành vi phạm tội.
Người dưới 18 tuổi thường chưa tích lũy đủ kiến thức và kinh nghiệm sống
cần thiết để có thể giải quyết tốt mọi việc theo yêu cầu của xã hội. Tùy theo độ tuổi

khả năng tự cải tạo của họ cũng thường khá cao.
Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội còn thể hiện trách nhiệm giáo dục
các em của gia đình, nhà trường, xã hội. Mọi trẻ em đều cần và có quyền nhận được
sự giáo dục cần thiết của gia đình, nhà trường và xã hội để có thể trở thành công dân
có ích cho xã hội. Do đó, khi người dưới 18 tuổi không nhận được đủ sự quan tâm,
chăm sóc, giáo dục cần thiết từ các chủ thể có liên quan thì khả năng phạm tội của
họ cao hơn so với những người khác.
Bên cạnh những yếu tố nói trên, việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội cần
cân nhắc sự tác động của nó đối với sự phát triển của người dưới 18 tuổi. Ở độ tuổi
này việc một người bị truy cứu TNHS tác động trực tiếp và nặng nề đến tương lai
của người đó. Đây là giai đoạn các em cần tiếp tục học tập rèn luyện để chuẩn bị
bước vào giai đoạn sống tự lập trong xã hội.
- Chính sách của Nhà nước đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Người dưới 18 tuổi phạm tội là nhóm chủ thể đặc biệt so với nhóm chủ thể là
người đủ 18 tuổi trở lên. Từ yêu cầu của nguyên tắc nhân đạo và nguyên tắc phân
hóa TNHS, đặc biệt là nguyên tắc “việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo
đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi” [21]. Do đó việc xử lý người dưới 18
tuổi phạm tội vừa phải tuân thủ quy định về xử lý tội phạm nói chung, vừa phải tuân
thủ những quy định được xây dựng phù hợp với đặc thù của người dưới 18 tuổi
9


phạm tội. Chính vì vậy TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội có những đặc thù
riêng đó là:
TNHS của người dưới 18 tuổi phạm tội có tính chất giảm nhẹ hơn so với
người phạm tội đã thành niên, tính giảm nhẹ được thể hiện ở chỗ: Về hình phạt
không xử phạt tù chung thân, tử hình. Khi phạt tù có thời hạn thì họ được hưởng
mức phạt tù nhẹ hơn mức áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng;
không áp dụng hình phạt tiền đối với người dưới 16 tuổi phạm tội; không áp dụng
hình phạt bổ sung; án đã tuyên đối với người phạm tội khi chưa đủ 16 tuổi thì

khác nhau và kết quả hoạt động của mình ở giai đoạn xét xử. Quyết định hình phạt
là quá trình sử dụng kết quả điều tra, kết quả buộc tội, kết quả thẩm vấn, tranh luận;
là quá trình đối chiếu các tình tiết của một vụ án hình sự cụ thể với các dấu hiệu của
một cấu thành tội phạm cụ thể gắn liền với việc đánh giá con người cụ thể đã thực
hiện tội phạm để xác định loại và một mức hình phạt cụ thể tối ưu nhất trong việc
cải tạo, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Loại và mức hình phạt được quyết định áp dụng đối với bị cáo phải được thể
hiện trong bản án kết tội theo các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và được công
bố một cách công khai khi tuyên án.
Hình phạt do Tòa án quyết định tùy thuộc vào tình hình cụ thể của vụ án có
thể là nghiêm khắc, ít nghiêm khắc hoặc nhẹ, nhưng trong mọi trường hợp bao giờ
cũng bảo đảm đúng pháp luật, công bằng và cá thể hóa. Điều đó có nghĩa rằng, khi
quyết định hình phạt phải bảo đảm sự tương xứng của hình phạt được tuyên với tính
chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, với các đặc điểm
nhân thân của người phạm tội, với các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS, với
dư luận xã hội, với ý thức pháp luật. Để bảo đảm sự tương xứng đó khi quyết định
hình phạt phải cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã
thực hiện, cân nhắc nhân thân người phạm tội, cân nhắc các tình tiết tăng nặng và
giảm nhẹ TNHS. Ngoài đòi hỏi trên, hình phạt được quyết định đối với bị cáo phải
bảo đảm tính xác định, tính lập luận và bắt buộc có lý do.
Tóm lại, theo chúng tôi, “Quyết định hình phạt là một giai đoạn, một nội
dung của áp dụng pháp luật hình sự thể hiện ở việc Tòa án đưa ra biện pháp TNHS,
lựa chọn loại và mức hình phạt cụ thể được quy định trong điều luật (khoản điều
11


luật) theo một thủ tục nhất định để áp dụng đối với người phạm tội thể hiện trong
bản án kết tội”.
Người dưới 18 tuổi là đối tượng đặc biệt, BLHS có một chương riêng về việc
áp dụng đối với đối tượng này. Vì vậy quyết định hình phạt đối với người dưới 18

tuân thủ thống nhất và phù hợp với pháp luật, tôn trọng tính tối cao của pháp luật
trong suốt quá trình điều chỉnh pháp luật. Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc pháp chế
xã hội chủ nghĩa thể hiện trong quyết định hình phạt là ở chỗ khi áp dụng hình phạt
đối với người bị kết án Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh các quy định của luật
hình sự. Đây là một nguyên tắc vô cùng quan trọng, vì có thể áp dụng các nguyên
tắc khác của chế định quyết định hình phạt vào thực tiễn xét xử chỉ khi tuân thủ
nghiêm chỉnh nguyên tắc này.
Nội dung của nguyên tắc này thể hiện trước hết ở chỗ việc áp dụng hình phạt
chỉ đối với người thực hiện hành vi phạm tội đã được quy định cụ thể trong luật.
Điều 2 BLHS hiện hành nước ta ghi rõ: “Chỉ người nào phạm tội đã được luật hình
sự quy định mới phải chịu TNHS”. Để có tiền đề đúng đắn cho việc quyết định hình
phạt, nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa đòi hỏi phải định tội danh đúng hành vi
phạm tội của bị cáo.
Nội dung của nguyên tắc pháp chế còn biểu hiện ở chỗ: Khi quyết định hình
phạt Tòa án phải tuân theo trình tự và các điều kiện áp dụng các loại hình phạt cụ
thể và chỉ có thể tuyên những hình phạt được quy định trong luật.
Một đòi hỏi nữa của nguyên tắc pháp chế là khi tuyên một hình phạt phải có
tính xác định, có căn cứ lập luận và bắt buộc có lý do. Tính xác định của hình phạt
trong bản án buộc tội thể hiện ở chỗ hình phạt được quyết định đối với bị cáo phải
cụ thể về loại hình phạt và thời gian. Như vậy đòi hỏi Tòa án phải nghiên cứu kỹ và
làm sáng tỏ các tình tiết có trong vụ án làm căn cứ cho việc quyết định hình phạt,
những tình tiết đó phải là những tình tiết đã được thẩm vấn, được kiểm tra lại trong
quá trình xét xử và được Hội đồng xét xử đánh giá, nhận xét và chỉ rõ lý do của việc
quyết định hình phạt.
Đòi hỏi khác của nguyên tắc pháp chế là tính hợp lý của việc quyết định hình
phạt. Tính hợp lý thể hiện ở chỗ, trong số những phương án giải quyết khác nhau
mà luật cho phép, Tòa án phải lựa chọn một loại và mức hình phạt, một mặt phải
13





pháp luật hình sự và ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa, cân nhắc tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các
tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng TNHS để quyết định đối với bị cáo một loại và mức
hình phạt cụ thể tạo điều kiện cho việc đạt được các mục đích của hình phạt.
Nguyên tắc cá thể hóa hình phạt trong quyết định hình phạt được thể hiện rõ
tại Điều 8 BLHS năm 1999. Hình phạt được áp dụng đối với những tội ít nghiêm
trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng là khác nhau. Người
phạm tội nghiêm trọng trở lên có thể phải chịu hình phạt tù, còn đối với người phạm
tội ít nghiêm trọng có thể áp dụng một trong những hình phạt từ cảnh cáo, phạt tiền
với tư cách là hình phạt chính, cải tạo không giam giữ cho đến hình phạt tù. Ngoài
ra nội dung của cá thể hóa hình phạt cũng được thể hiện ở các điều luật quy định
các giai đoạn phạm tội, đồng phạm, tại Điều 3 BLHS năm 1999 quy định: “…
nghiêm trị người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn
đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội
dùng thủ đoạn xảo quệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả
nghiêm trọng.
Khoan hồng đối với người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng
phạm, lập công chuộc tội, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt
hại gây ra.
Đối với người lần đầu phạm tội ít nghiêm trọng, đã hối cải thì có thể áp
dụng hình phạt nhẹ hơn hình phạt tù, giao họ cho cơ quan, tổ chức xã hội hoặc gia
đình giám sát, giáo dục…”
Tư tưởng cá thể hóa hình phạt được thể hiện rất rõ ở việc quy định các chế
tài: Chế tài xác định tương đối và chế tài tùy nghi (lựa chọn). Đa số các chế tài của
các điều luật ở phần các tội phạm quy định khung hình phạt rất rộng và quy định
bằng hai hoặc nhiều loại hình phạt, cho phép Tòa án tùy từng trường hợp cụ thể áp
dụng hình phạt khác đối với bị cáo cho phù hợp.
Thứ tư, nguyên tắc công bằng: Tư tưởng cơ bản của nguyên tắc công bằng

18 tuổi phạm tội là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, chưa có đủ
khả năng để cân nhắc hành vi của mình, thiếu kinh nghiệm xã hội và dễ bị tác động
của môi trường xung quanh. Vì vậy TNHS nói chung và hình phạt nói riêng được
16


áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội giảm nhẹ hơn so với người đã thành
niên phạm tội. Tuy nhiên mức độ giảm nhẹ hình phạt đối với NCTN được xác định
trong khuôn khổ luật định.
Hai là, nguyên tắc coi trọng và đề cao mục tiêu giáo dục, cải tạo: Thấm
nhuần đạo lý của ông cha ta coi cái thiện, cái ác không phải là bản tính vốn sẵn có
của mỗi người từ lúc sinh ra mà về cơ bản tính thiện ác trong mỗi con người được
hình thành từ trong môi trường xã hội. Theo đó phạm tội không phải là cái ác bẩm
sinh của người phạm tội mà được hình thành trong quá trình xã hội của người ấy.
Do không phải là bản chất cố định nên những người phạm tội đều có khả năng phục
thiện thông qua con đường giáo dục thích hợp. Đặc biệt đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội thì càng có khả năng cải tạo, phục thiện cao hơn vì nhân cách của họ đang
trong quá trình hình thành, dễ cải biến nếu được giáo dục, giúp đỡ. Mặt khác, người
dưới 18 tuổi là những người trẻ tuổi, tương lai còn dài, khi được phục thiện cũng có
nhiều cơ hội đóng góp cho xã hội hơn so với người đã thành niên. Vì vậy khi quyết
định hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải đạt mục tiêu giáo dục lên
hàng đầu nhằm cải tạo, giúp đỡ họ trở thành người có ích cho xã hội.
Ba là, nguyên tắc không áp dụng hình phạt đặc biệt nghiêm khắc: Xuất phát
từ hai nguyên tắc giảm nhẹ và coi trọng mục tiêu giáo dục nên những hình phạt
nghiêm khắc không cho người dưới 18 tuổi phạm tội cơ hội được cải tạo, trở thành
người lương thiện, tái hòa nhập công đồng phải được loại bỏ. Vì vậy trong danh
mục những hình phạt được áp dụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội không có
hình phạt loại bỏ người phạm tội ra khỏi xã hội như hình phạt tù chung thân, hình
phạt tử hình. Ngoài ra hình phạt tù có thời hạn dài cũng không nên áp dụng đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội vì nó cũng làm hạn chế cơ hội tái hòa nhập xã hội của

Thứ bảy, hạn chế áp dụng hình phạt tù. Khi xử phạt tù có thời hạn thì cho
hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương
ứng.
Đặc biệt BLHS năm 2015 ban hành tại Điều 91 của Bộ luật đã sửa đổi bổ
sung Điều 69 BLHS năm 1999 theo hướng “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội
phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi”; khi xét xử người dưới 18
tuổi, Tòa án trước hết phải cân nhắc để áp dụng việc miễn TNHS và áp dụng một
18


trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc việc áp dụng biện pháp giáo dục tại
trường giáo dưỡng và chỉ áp dụng hình phạt nếu các biện pháp này không đảm bảo
hiệu quả phòng ngừa...
1.2.3. Các căn cứ quyết định hình phạt
1.2.3.1. Các căn cứ chung
Căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do
luật hình sự quy định hoặc do giải thích luật mà có, buộc Tòa án phải tuân theo khi
quyết định hình phạt đối với người phạm tội.
Nếu như các nguyên tắc quyết định hình phạt là những tư tưởng chỉ đạo, tư
tưởng xuất phát xác định và định hướng hoạt động của Tòa án khi áp dụng chế tài
luật hình sự đối với người thực hiện tội phạm, thì các căn cứ quyết định hình phạt là
những đòi hỏi mà Tòa án phải dựa vào đó để quyết định một hình phạt đúng pháp
luật, công bằng, hợp lý đối với bị cáo. Nghĩa là, khi quyết định hình phạt, Tòa án
một mặt phải tuân theo những tư tưởng chỉ đạo (nguyên tắc) nhất định và mặt khác
phải dựa vào những đòi hỏi (căn cứ) nhất định mới có đầy đủ điều kiện để quyết
định một loại mức hình phạt đúng pháp luật, nhằm đạt được mục đích của hình
phạt.
Để cụ thể hóa những nguyên tắc cơ bản của luật hình sự vào trong việc quyết
định hình phạt, nhằm bảo đảm cho hình phạt đã tuyên có thể đạt được mục đích đã
đặt ra. BLHS hiện hành đã quy định căn cứ quyết định hình phạt tại Điều 45: “Khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status