Áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (tt) - Pdf 45

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, cùng với các chiến lược phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội, Nhà nước ta luôn quan tâm và đẩy mạnh việc thực
hiện chính sách, pháp luật bảo vệ, chăm sóc, giáo dục trẻ em. Dưới
góc độ pháp luật hình sự, Bộ luật hình sự (BLHS) và Bộ luật tố tụng
hình sự (BLTTHS) Việt Nam hiện hành đã có chương riêng quy định
về trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi phạm tội, về thủ tục tố
tụng đối với người dưới 18 tuổi. Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm
tội cũng như thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội chủ
yếu nhằm bảo vệ một cách tốt nhất lợi ích của người dưới 18 tuổi, giáo
dục giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh và trở thành
công dân có ích cho xã hội.
Biện pháp ngăn chặn là một chế định pháp lý quan trọng của
luật tố tụng hình sự, là một trong những nhóm của biện pháp cưỡng
chế. Những biện pháp ngăn chặn mang tính cưỡng chế nghiêm khắc để
kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, ngăn ngừa người phạm tội, bị
can, bị cáo tiếp tục phạm tội, trốn tránh pháp luật hoặc có hành vi gây
khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử cũng như để bảo đảm thi
hành án hình sự. Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn có ý nghĩa rất lớn
trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự và hiệu quả cuộc đấu tranh
phòng chống tội phạm. Những biện pháp ngăn chặn khi được áp dụng
sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quan hệ chính trị, xã hội, nhất là quyền
cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản
pháp luật khác, đặc biệt, đối với những người là người dưới 18 tuổi.
Do địa vị pháp lý và đặc điểm nhân thân của người dưới 18 tuổi, là
người chưa phát triển hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy
đủ các quyền và nghĩa vụ pháp lý như người đủ 18 tuổi, việc áp dụng
1





Xuất phát từ những lý do trên, học viên đã chọn đề tài: “Áp
dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam từ thực tiễn quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng” để làm luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Từ khi BLTTHS năm 2003 có hiệu lực thi hành đến nay, chế
định những biện pháp ngăn chặn là một mảng đề tài được nhiều nhà
khoa học trong nước quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác
nhau với phạm vi nghiên cứu phủ quát từ rộng đến hẹp.
Có rất nhiều các công trình nghiên cứu đã phân tích và làm
sáng tỏ được vấn đề liên quan đến biện pháp ngăn chặn áp dụng đối
với người chưa thành niên phạm tội ớ các góc độ nghiên cứu khác
nhau giúp cho tác giả luận văn xây dựng và hoàn thiện các ý tưởng
khoa học trong quá trình nghiên cứu đề tài này. Tuy nhiên cho đến nay
vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu trực diện về những kết quả
đạt được cũng như vướng mắc trong quá trình áp dụng các biện pháp
ngăn chặn cụ thể đối với người chưa thành niên phạm tội tại địa bàn
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng để từ đó đưa ra giải pháp hoàn thiện
pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao hiệu quả áp dụng của việc áp
dụng biện pháp này.
Do đó, tác giả có thể khẳng định đề tài luận văn của mình
không trùng lặp với bất kỳ công trình nào đã được công bố từ trước
đến nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và quy
định của pháp luật TTHS về các biện pháp ngăn chặn đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội và khảo sát thực trạng áp dụng các biện pháp

bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng.
- Về thời gian khảo sát: Luận văn nghiên cứu số liệu về các
biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội được áp
4


dụng từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Đề tài được thực hiện trên cơ sở
phương pháp luận chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà
nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng
nhà nước pháp quyền, về chính sách nhân đạo đối với người dưới 18
tuổi phạm tội, về vấn đề cải cách tư pháp, về công tác đấu tranh phòng
chống tội phạm và các tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng hệ thống
phương pháp phổ biến hiện nay trong nghiên cứu khoa học như: phân
tích, tổng hợp, thống kê, tham khảo ý kiến chuyên gia để làm cách thức
tiếp cận đề tài. Các biện pháp này quan hệ biện chứng hỗ trợ nhau trong
quá trình thực hiện nhiệm vụ để làm sáng tỏ mục tiêu của đề tài.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa khoa học: Luận văn góp phần nhận thức toàn diện,
sâu sắc về các biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với người dưới 18
tuổi phạm tội. Làm rõ được những bất cập khi áp dụng các biện pháp
ngăn chặn so với quy định trong BLTTHS năm 2003. Đưa ra kiến nghị
nhằm hướng tới hoàn thiện hệ thống pháp luật TTHS về việc áp dụng
các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Qua đó,
nâng cao hiệu quả đấu tranh, phòng chống tội phạm, bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của công dân nhất là đối với người dưới 18 tuổi.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn này nếu được ứng dụng vào
trong thực tiễn sẽ rút ngắn khoảng cách giữa quy định của pháp luật và

dưới 18 tuổi phạm tội
1.1.2.1. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự
Khái niệm biện pháp ngăn chặn như sau: Biện pháp ngăn chặn
là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do người có thẩm quyền
được quy định trong BLTTHS áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc
người bị nghi là phạm tội nhằm kịp thời ngăn chặn họ thực hiện tội
6


phạm hoặc khi có căn cứ họ sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố,
xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội hoặc để đảm bảo thi hành án.
1.1.2.2. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội
Khái niệm biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội như sau: Biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi
phạm tội là biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự do người có
thẩm quyền được quy định trong BLTTHS áp dụng đối với bị can, bị
cáo hoặc người bị nghi là phạm tội từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi
nhằm kịp thời ngăn chặn họ thực hiện tội phạm hoặc khi có căn cứ họ
sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm
tội hoặc để đảm bảo thi hành án.
1.2. Các yêu cầu và ý nghĩa của các biện pháp ngăn chặn
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
1.2.1. Các yêu cầu của việc quy định các biện pháp ngăn
chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
Trong những năm gần đây, tội phạm do người dưới 18 tuổi
thực hiện ngày càng gia tăng về số lượng, đa dạng về loại tội, tính chất
và mức độ nghiêm trọng ngày càng cao. Đặc biệt độ tuổi người dưới
18 tuổi phạm tội ngày càng thấp. Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của người dưới 18 tuổi là một trong những vấn đề phức tạp của TTHS.

tuổi phạm tội góp phần bảo đảm việc thực hiện dân chủ, tôn trọng các
quyền cơ bản của công dân được pháp luật bảo vệ, góp phần quan
trọng trong việc bảo vệ quyền con người trong TTHS nói chung cũng
như quyền và lợi ích hợp pháp của người dưới 18 tuổi phạm tội.
- BLTTHS quy định các căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn
chặn nói chung tại Điều 79 BLTTHS, cũng như áp dụng biện pháp
ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi nói riêng tại Điều 303 BLTTHS
là nhằm mục đích kịp thời ngăn chặn tội phạm và đảm bảo cho quá
trình giải quyết vụ án được tiến hành một cách thuận lợi.
- Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi
8


phạm tội nhằm góp phần bảo đảm trật tự xã hội, bảo vệ tính mạng, sức
khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân, đồng thời trấn áp một
cách mạnh mẽ, kiên quyết đối với tội phạm.
- Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi
cũng góp phần vào việc không để người dưới 18 tuổi tiếp tục phạm tội,
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo thi hành án.
1.3. Các đặc điểm của các biện pháp ngăn chặn đối với
người dưới 18 tuổi phạm tội
Các biện pháp ngăn chặn được áp dụng đối với người dưới 18
tuổi phạm tội bao gồm: Bắt, Tạm giữ, Tạm giam, Cấm đi khỏi nơi cư
trú, Bảo lĩnh, Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm và Giám sát
đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
CHƯƠNG 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ HIỆN
HÀNH VỀ CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN ĐỐI VỚI NGƯỜI
DƯỚI 18 TUỔI PHẠM TỘI VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI QUẬN CẨM LỆ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG

* Bắt người dưới 18 tuổi phạm tội trong trường hợp khẩn cấp
* Bắt người dưới 18 tuổi phạm tội quả tang hoặc đang bị truy nã
2.1.2. Quy định về tạm giữ người dưới 18 tuổi phạm tội
Tạm giữ đối với người dưới 18 tuổi phạm tội có thể được áp
dụng đối với những người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội
quả tang, người phạm tội tự thú, đầu thú, hoặc đối với người bị bắt
theo quyết định truy nã.
Trong thời hạn tạm giữ, nếu không đủ căn cứ khởi tố bị can thì
phải trả tự do ngay cho người bị tạm giữ. Thời hạn bị tạm giữ được trừ
vào thời hạn tạm giam. Một ngày tạm giữ được tính bằng một ngày
tạm giam.
2.1.3. Quy định về tạm giam người dưới 18 tuổi phạm tội
10


Tạm giam đối với người dưới 18 tuổi là biện pháp ngăn chặn
áp dụng đối với bị can, bị cáo từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phạm
tội rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội phạm mà BLHS
hiện hành quy định hình phạt trên 2 năm tù và có căn cứ cho rằng
người đó có thể bỏ trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc
có thể tiếp tục phạm tội. Theo quy định của BLTTHS, áp dụng biện
pháp ngăn chặn tạm giam đối với người dưới 18 tuổi phạm tội phải kết
hợp các điều 80, 88 với Điều 303, theo đó người dưới 18 tuổi phạm tội
chỉ bị tạm giam theo loại tội tương ứng với độ tuổi.
2.1.4. Quy định về cấm đi khỏi nơi cư trú người dưới 18 tuổi
phạm tội
Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với người dưới 18 tuổi là biện pháp
ngăn chặn được áp dụng đối với bị can, bị cáo từ đủ 14 tuổi đến chưa
đủ 18 tuổi có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có mặt của họ theo
giấy triệu tập của CQĐT, VKS, TA.

người dưới 18 tuổi phạm tội tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
2.2.1. Tổng quan người dưới 18 tuổi phạm tội
Người dưới 18 tuổi phạm tội từ năm 2012 đến năm 2016 tại
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng thể hiện qua bảng thống kê sau:
Bảng 2.1. Số đối tượng phạm tội trên địa bàn quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng (2012 – 2016)
Đối tượng là người
Đối tượng là người
Tổng số đối
đủ 18 tuổi
dưới 18 tuổi
tượng bị xử lý
Năm
hình sự
Số đối
Tỷ lệ %
Số đối
Tỷ lệ %
(1)
tượng (2)
(2)/(1)
tượng (3)
(3)/(1)
2012
115
108
93,9
7
6,1
2013

bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng, so với cả nước còn ở mức thấp.
Tuy nhiên, qua số liệu trên chúng ta có thể thấy tội phạm do
người dưới 18 tuổi thực hiện đang là vấn đề nan giải và đang có xu
hướng gia tăng không chỉ ở địa bàn quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng
mà còn ở hầu hết các tỉnh thành trong cả nước.
2.2.2. Tổng quan kết quả biện pháp bắt người
Bảng 2.2. Số đối tượng bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bắt tại quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (2012-2016)
Tổng số đối Tổng số đối
Số đối
Số đối
tượng đủ 18 tượng đủ 18
tượng tượng dưới
tuổi và dưới tuổi và dưới Tỷ lệ dưới 18 18 tuổi bị Tỷ lệ
18 tuổi bị áp
% tuổi bị xử áp dụng
%
Năm 18 tuổi bị
xử lý về
dụng biện
lý về
biện pháp
hình sự
pháp bắt
hình sự
bắt
2012
2013
2014
2015

36,36

7
8
3
9
9

4
2
1
5
2

57
25
33,33
55,55
22,22

(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016)

Thực tế áp dụng biện pháp này tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà
Nẵng cho thấy, sau thực hiện lệnh bắt khẩn cấp, vẫn có tình trạng
CQĐT không báo ngay cho VKS mà tiếp tục ra quyết định tạm giữ rồi
mới gửi đồng thời lệnh bắt khẩn cấp và quyết định tạm giữ cho VKS
cùng cấp phê chuẩn. Hoặc cũng có trường hợp CQĐT ra lệnh bắt khẩn
cấp, tạm giữ vẫn không gởi hồ sơ cho VKS mà hết hạn tạm giữ mới
gửi quyết định gia hạn tạm giữ cùng lệnh bắt và quyết định tạm giữ


(1)

(2)

(2)/(1)

(3)

(4)

(3)/(4)

115
129
143
112
132

19
40
56
30
54

16,52
31
39,16
26,79
40,9

dưới 18
tuổi bị áp
tuổi bị
dụng biện
xử lý về
pháp tạm
hình sự
giữ

Tỷ lệ
%

(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016)

Thực tế áp dụng biện pháp tạm giữ trên địa bàn quận cho thấy
việc tạm giữ hình sự đối với trường hợp phạm tội quả tang do người
dưới 18 tuổi gây ra chủ yếu ở các nhóm tội xâm phạm sở hữu, sức
khỏe và xâm phạm an ninh trật tự chiếm tỷ lệ cao. Tạm giữ hình sự đối
với người dưới 18 tuổi phạm tội đã tạo điều kiện thuận lợi cho các lực
lượng kiểm tra, xác minh kịp thời về vụ việc phạm tội xảy ra, trên cơ
sở đó có những quyết định đúng đắn trong việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn.

14


2.2.4. Tổng quan kết quả áp dụng biện pháp tạm giam
Bảng 2.4. Số bị can bị áp dụng biện pháp tạm giam tại quận Cẩm Lệ,
thành phố Đà Nẵng (2012-2016)

dụng biện
pháp tạm
giam

Tỷ lệ
%

(1)

(2)

(2)/(1)

(3)

(4)

(3)/(4)

115
129
143
112
132

62
83
103
71
99

% trong tổng số 36 đối tượng. Tỷ lệ này cao hơn so với các biện pháp
ngăn chặn khác như biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, biện pháp bảo
lĩnh.
Trên cơ sở đối tượng bị bắt để tạm giam thì việc áp dụng biện
pháp này là ổn định, ít bị thay đổi biện pháp ngăn chặn. Đa số đối
tượng được chuyển từ tạm giữ lên để tạm giam. Qua đó cho thấy
CQĐT đã có chế độ quản lý theo dõi, kiểm tra đôn đốc kịp thời, kết
hợp việc kiểm tra của VKS về chế độ tạm giữ theo quy định.
2.2.5. Tổng quan kết quả áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi
cư trú
15


Bảng 2.5. Số bị can bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư
trú tại quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (2012-2016)

Năm

Tổng số đối
Tổng số đối
tượng đủ 18 tượng đủ 18 tuổi
tuổi và dưới 18 và dưới 18 tuổi
tuổi bị xử lý về bị cấm đi khỏi
hình sự
nơi cư trú

Tỷ lệ
%

Số đối

46,09

7

3

42,86

2013

129

46

35,66

8

4

50

2014

143

40

27,97


7

77,78

(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016)

Qua bảng thống kê cho thấy các cơ quan có thẩm quyền đã quan
tâm đến việc thay đổi biện pháp ngăn chặn, trong đó không áp dụng
biện pháp có tính nghiêm khắc cao chuyển sang áp dụng biện pháp cấm
đi khỏi nơi cư trú để cho người bị áp dụng thấy được sự khoan hồng,
tính nhân đạo của Nhà nước và có tác dụng động viên đối với họ.
2.2.6. Tổng quan kết quả áp dụng biện pháp bảo lĩnh
Bảng 2.6. Số đối tượng phạm tội bị áp dụng biện pháp bảo lĩnh tại
quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (2012-2016)

Năm

2012
2013
2014
2015
2016

Tổng số đối
Tổng số đối
tượng đủ 18 tượng đủ 18 tuổi
tuổi và dưới và dưới 18 tuổi bị
18 tuổi bị xử
áp dụng biện

2,8
0,9
2,27

(3)
7
8
3
9
9

(4)
0
0
0
1
1

Tỷ lệ
%

(3)/(4)
0
0
0
11,11
11,11

(Nguồn: Báo cáo tổng kết công tác kiểm sát – Viện kiểm sát nhân dân quận
Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng năm 2012, 2013, 2014, 2015, 2016)

gửi đồng thời Lệnh bắt khẩn cấp và Quyết định tạm giữ cho VKS cùng
cấp phê chuẩn...
Giữa CQĐT và VKS không thống nhất về hồ sơ, tài liệu liên
quan đến việc bắt khẩn cấp để trình VKS phê chuẩn.
17


Trường hợp đối tượng dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng
bị bắt quả tang nhưng không thể tạm giữ, tạm giam, được cho tại ngoại
chờ kết quả thẩm định, định giá tài sản… Các đối tượng này tuy là
người dưới 18 tuổi nhưng đã thể hiện ý thức coi thường pháp luật, bất
hợp tác, nhưng các cơ quan tố tụng vẫn không thể tạm giữ, tạm giam
vì vướng Điều 303 Bộ luật TTHS là một điều bất hợp lý và gây nhiều
khó khăn trong quá trình áp dụng pháp luật.
Việc tạm giữ hành chính và tạm giữ tố tụng còn lẫn lộn dẫn
đến không phân hóa được đối tượng giam giữ hoặc quá tải ở nhà tạm
giữ; còn có trường hợp tạm giữ người dưới 18 tuổi cùng với đối tượng
đã đủ 18 tuổi.
Đối với biện pháp ngăn chặn bảo lĩnh, thực tế vẫn để xảy ra
trường hợp người nhận bảo lĩnh vi phạm cam kết để bị can bỏ trốn, ảnh
hưởng đến hiệu quả của việc áp dụng biện pháp bảo lĩnh trong TTHS.
2.3.2. Nguyên nhân của những vi phạm, sai lầm
Thứ nhất, các quy định của BLTTHS còn nhiều vấn đề bất
cập, chưa đồng bộ, chưa thống nhất, còn chồng chéo gây khó khăn cho
việc áp dụng.
Thứ hai, do sự phối hợp chưa chặt chẽ giữa các cơ quan THTT.
Thứ ba, do hạn chế về nhận thức, năng lực, kỹ năng nghiệp vụ
của người THTT.
CHƯƠNG 3
CÁC YÊU CẦU VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG

dưới 18 tuổi
Tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm quyền con người, quyền công dân
là tư tưởng xuyên suốt trong Hiến pháp năm 2013.
Quyền con người, đặc biệt là quyền của người dưới 18 tuổi là
những giá trị xã hội cao nhất có ý nghĩa xã hội to lớn về nhiều mặt, do
vậy đòi hỏi các cơ quan có thẩm quyền THTT và người có thẩm quyền
THTT phải có trách nhiệm tôn trọng và bảo vệ một cách có hiệu quả.
Đây cũng chính là yêu cầu cốt lõi bảo đảm áp dụng đúng các biện
pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội.
19


3.1.4. Yêu cầu phòng, chống tội phạm
Tăng cường hơn nữa hiệu lực, hiệu quả công cuộc đấu tranh
phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật, bảo đảm mọi hành vi
phạm tội đều phải được phát hiện và xử lý nghiêm minh, chính xác,
kịp thời, chống bỏ lọt tội phạm, chống làm oan người vô tội là chủ
trương cải cách tư pháp của Đảng và Hiến pháp năm 2013. Đấu tranh
phòng ngừa và chống tội phạm là nhiệm vụ của toàn xã hội, của các cơ
quan nhà nước mà nòng cốt là các cơ quan bảo vệ pháp luật. Các cơ
quan tiến hành tố tụng phải làm tốt chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và
trách nhiệm về áp dụng biện pháp ngăn chặn nói chung và đối với
người dưới 18 tuổi nói riêng mới góp phần đấu tranh phòng ngừa và
chống tội phạm có hiệu quả.
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các biện pháp
ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội
3.2.1. Bảo đảm áp dụng đúng quy định của BLTTHS năm
2015 về các biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm
tội
Thứ nhất, Tập huấn nghiệp vụ chuyên sâu BLTTHS năm

quyền con người của những người tham gia tố tụng và phù hợp hơn
với thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự. Tuy nhiên, qua
nghiên cứu bước đầu quy định việc áp dụng biện pháp ngăn chặn, biện
pháp cưỡng chế đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi, chúng
ta nhận thấy: Điều 419 BLTTHS năm 2015 quy định: Thời hạn tạm
giam đối với người bị buộc tội là người dưới 18 tuổi bằng hai phần ba
thời hạn tạm giam đối với người đủ 18 tuổi trở lên. Chúng tôi cho rằng
quy định như trên còn mang tính chất cào bằng đối với những người
dưới 18 tuổi nói chung, chứ chưa có sự xem xét ưu tiên đối với từng
độ tuổi của người dưới 18 tuổi.
Mặt khác, BLTTHS năm 2015 đi vào thực tiễn chắc chắn sẽ
phát sinh những vướng mắc, bất cập mới, đó là chưa kể những biến
đổi của đời sống xã hội sẽ làm cho những quy định của pháp luật
không còn phù hợp. Do vậy cần có sự tiếp tục hoàn thiện pháp luật
một cách kịp thời, có như vậy mới đáp ứng được yêu cầu phát triển
21


của xã hội.
3.2.3. Nâng cao năng lực và nhận thức của những người có
thẩm quyền THTT
Xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, bản lĩnh, trách nhiệm
luôn là mong mỏi của Bác Hồ lúc sinh thời. Giao nhiệm vụ theo tư
tưởng của Bác là phải dân chủ, rõ nhiệm vụ, đề cao tinh thần trách
nhiệm, phát huy tính sáng tạo của cán bộ.
Hiện nay, đội ngũ cán bộ tư pháp vẫn đang trong tình trạng
thiếu hụt, và trong tương lai gần chúng ta chưa thể đáp ứng ngay nhu
cầu về số lượng cán bộ, do đó tất yếu phải nâng cao trình độ, kỹ năng,
nghiệp vụ của cán bộ tư pháp để áp dụng hiệu quả các biện pháp ngăn
chặn đối với người dưới 18 tuổi nói riêng, cũng như để giải quyết các

dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi nói riêng. Kiểm
tra, giám sát, kiểm soát việc thực hiện quyền lực nhà nước là yêu cầu tất
yếu. Quyền lực không được kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ sẽ bị
tha hóa, lạm quyền. Thiếu kiểm tra, giám sát, kiểm soát trong tố tụng
hình sự càng dẫn đến những nguy cơ nghiêm trọng hơn, bởi lẻ đây là
lính vực liên quan trực tiếp đến công cuộc đấu tranh phòng, chống tội
phạm; đồng thời toàn bộ quá trình đó đụng chạm đến những quyền
thiêng liêng nhất, đến sinh mệnh, quyền tự do của con người. Do đó
phải đặc biệt quan tâm thiết lập các cơ chế nhằm kiểm tra, giám sát,
kiểm soát nghiêm ngặt và toàn diện hoạt động tư pháp. Quy định mọi
hoạt động của của các cơ quan tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án
phải được kiểm tra, giám sát, kiểm soát chặt chẽ bởi nhiều cơ chế, trong
đó cơ chế tự kiểm tra bên trong mỗi hệ thống và cơ chế kiểm soát lẫn
nhau giữa các cơ quan tố tụng cần được tăng cường.
KẾT LUẬN
Người dưới 18 tuổi là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất
và tâm thần, là những đối tượng dễ bị tổn thương, đặc biệt là khi họ
tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết các vụ án, do đó tùy theo
lứa tuổi, mức độ trưởng thành và nhu cầu cá nhân mà họ cần được bảo
vệ theo đúng quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng hình sự. Việc
23


áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi là một vấn đề
nhạy cảm. Từ những đặc điểm đặc thù của việc áp dụng biện pháp
ngăn chặn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội, những quy định của
pháp luật tố tụng hình sự hiện hành và thực tiễn áp dụng trên địa bàn
thành phố Đà Nẵng, luận văn tập trung nghiên cứu và làm rõ nội dung
sau đây:
1. Luận văn đã nghiên cứu, phân tích, luận giải và làm rõ khái


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status