VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ KIM QUY
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
TRẦN THỊ KIM QUY
ÁP DỤNG HÌNH PHẠT ĐỐI VỚI CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 9, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS TRẦN VĂN ĐỘ
3.1. Các yêu cầu bảo đảm áp dụng hình phạt đúng đối với các tội xâm phạm sở
hữu ........................................................................................................................57
3.2. Các giải pháp bảo đảm áp dụng hình phạt đúng đối với các tội xâm phạm sở
hữu ........................................................................................................................59
KẾT LUẬN ..............................................................................................................74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...............................................................76
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ADHP
Áp dụng hình phạt
ADPL
Áp dụng pháp luật
ADPLHS
Áp dụng pháp luật hình sự
ANTT
An ninh trật tự
BLHS
Bộ luật hình sự
Tố tụng hình sự
THA-HS
Thi hành án hình sự
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
XPSH
Xâm phạm sở hữu
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Kết quả thụ lý và xét xử các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận 9,
Thành phố Hồ Chí Minh (2012 – 2016). ..................................................................32
Biểu đồ 2.2. Tỷ trọng về mức hình phạt chính của các tội xâm phạm sở hữu trên
địa bàn Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh (2012 – 2016) ................................. 34
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Bảng các tội danh và hình phạt theo BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ sung
năm 2009) .................................................................................................................. 15
Bảng 2.1. Kết quả thụ lý, xét xử các tội xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận 9,
Thành phố Hồ Chí Minh (2012 – 2016) ................................................................... 31
Bảng 2.2. Loại và mức hình phạt được áp dụng đối với các tội xâm phạm sở hữu
trên địa bàn Quận 9 , Thành phố Hồ Chí Minh (2012 – 2016) ................................ 33
Bảng 2.3. Mức hình phạt được áp dụng đối với tội cướp tài sản trên địa bàn Quận
mới cho đất nước thì mặt trái của kinh tế thị trường cũng phát sinh nhiều tiêu cực.
Song song với sự phát triển về mọi mặt kinh tế-xã hội, tình hình tội phạm của Quận
9 cũng diễn biến ngày càng phức tạp và có chiều hướng gia tăng, trong đó tỷ lệ tội
phạm xâm phạm sở hữu trên địa bàn Quận 9 vẫn ở mức cao so với các loại tội phạm
khác.
Áp dụng hình phạt là công việc trọng tâm, cốt lõi trong hoạt động xét xử của
Tòa án. Nếu việc áp dụng hình phạt đúng sẽ mang lại những hiệu quả tích cực,
ngược lại áp dụng hình phạt sai sẽ để lại nhiều hậu quả tiêu cực về mặt xã hội, giảm
lòng tin của nhân dân đối với Tòa án nói riêng, với các cơ quan tư pháp và các cơ
quan chính quyền nói chung, đồng thời làm giảm hiệu quả của công tác đấu tranh
phòng chống tội phạm nói chung, tội xâm phạm sở hữu nói riêng.
Mặc dù trong thời gian qua Tòa án nhân dân Quận 9 đã có những đóng góp
đáng kể vào công tác đấu tranh phòng chống tội phạm nhưng không hẳn hoạt động
xét xử và áp dụng hình phạt nói chung, áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm
sở hữu nói riêng đã hoàn thiện và đạt kết quả cao nhất. Thực tế cho thấy, trong thời
gian qua việc áp dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu của Tòa án nhân
1
dân Quận 9 còn tồn tại nhiều bất cập; áp dụng hình phạt còn có sự tùy tiện, thiếu
thống nhất, làm ảnh hưởng chung tới kết quả đấu tranh phòng, chống tội phạm, làm
giảm lòng tin của quần chúng nhân dân đối với ngành Tòa án.
Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu một cách khoa học, nghiêm túc để chỉ ra
những tồn tại vi phạm, phân tích các nguyên nhân và đề ra các giải pháp để bảo đảm
áp dụng hình phạt đúng đối với các tội xâm phạm sở hữu trong hoạt động xét xử
của Tòa án nhân dân Quận 9, nhằm nâng cao vai trò và những đóng góp của ngành
TAND tới công tác đấu tranh phòng chống tội phạm là đòi hỏi mang tính cấp thiết.
Chính vì vậy tác giả chọn Đề tài “Áp dụng hình phạt đối với các tội xâm
phạm sở hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận 9, Thành phố Hồ
Hiện nay, chưa có bất kỳ công trình nào tại Việt Nam nghiên cứu về “Áp
dụng hình phạt đối với các tội xâm phạm sở hữu theo pháp luật hình sự Việt Nam từ
thực tiễn Quận 9, Thành phố Hồ Chí Minh”. Hầu hết những công trình nghiên cứu
đã được thực hiện trong thời gian qua chỉ tập trung vào áp dụng hình phạt, cụ thể
như sau:
Ở góc độ Luận án tiến sĩ luật học, có luận án về đề tài “Áp dụng hình phạt
trong Luật Hình sự Việt Nam” của tác giả Dương Tuyết Miên đã bảo vệ thành công
năm 2003. Bên cạnh đó, có rất nhiều Luận văn thạc sĩ luật học đã nghiên cứu vấn đề
áp dụng hình phạt như: “Áp dụng hình phạt trong những trường hợp đặc biệt” của
tác giả Hoàng Chí Kiên bảo vệ năm 2004 tại Đại học Luật Hà Nội; tác giả Phạm Thị
Thanh Nga với đề tài “Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trong việc định tội
danh và áp dụng hình phạt” bảo vệ tại Đại học Luật Hà Nội cùng năm 2004; tác giả
Phạm Đình Dũng đã bảo vệ đề tài “Căn cứ áp dụng hình phạt: những vấn đề lý luận
và thực tiễn” tại khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2006. Ngoài ra còn có các
Luận văn thạc sĩ đã bảo vệ tại khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội như: “Áp dụng
hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội trong luật hình sự Việt Nam” của
tác giả Nguyễn Minh Khuê bảo vệ năm 2007; đề tài “Áp dụng hình phạt trong đồng
phạm” của tác giả Nguyễn Thị Bình bảo vệ năm 2010.
Các công trình trên rất có giá trị để luận văn có thể kế thừa thông tin, số liệu
đối chứng, ý tưởng nghiên cứu mà vẫn không bị trùng lặp vì có sự khác nhau về các
yếu tố như: cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu; thời gian nghiên cứu; không gian
nghiên cứu; chất liệu nghiên cứu
3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Với đánh giá là quận có nhiều tiềm năng phát triển của Thành phố Hồ Chí
Minh, là cửa ngỏ thông thương với các tỉnh Miền Đông, thì tình hình tội phạm, nhất
- Về cơ sở pháp lý, Đề tài đề cập các tội xâm phạm sở hữu qui định tại
chương XIV Bộ luật hình sự năm 1999.
- Về không gian, Đề tài luận văn được thực hiện trên phạm vi Quận 9, Thành
phố Hồ Chí Minh.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng mác-xít, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm của Đảng và Nhà nước ta về Nhà nước và pháp luật, về chính sách hình sự, về
cải cách tư pháp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu cụ thể như: phương pháp lịch
sử; phương pháp so sánh; phương pháp phân tích; phương pháp tổng hợp; phương
pháp nghiên cứu vụ án điển hình; phương pháp thống kê, tổng hợp. Để hoàn thành
mục đích nghiên cứu, tác giả vận dụng kết hợp giữa các phương pháp trong từng
nội dung của đề tài, trong đó phương pháp thống kê và phương pháp so sánh là
những phương pháp được sử dụng nhiều nhất trong đề tài này. Tác giả đã sử dụng
phương pháp thống kê để thống kê số liệu về tội phạm và người phạm tội, từ đó để
xác định các thông số của tình hình tội phạm tội XPSH.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa về mặt lý luận
Kết quả nghiên cứu của luận văn này góp phần hoàn thiện lý luận về các
hành vi xâm phạm sở hữu trong khoa học luật hình sự Việt Nam. Luận văn góp
tiếng nói khoa học về lý luận áp dụng hình phạt và phân tích, đánh giá một số vấn
đề lý luận thông qua thực tiễn ở một địa phương cụ thể là Quận 9, Tp. Hồ Chí
Minh.
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Tác giả mong muốn kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ góp phần làm rõ hơn
5
hình sự có tầm quan trọng đặc biệt, vừa có những đặc điểm chung như các dạng
ADPL khác, vừa có những đặc điểm riêng của mình. Căn cứ vào tính chất của các
hoạt động thực hiện pháp luật, khoa học pháp lý đã phân chia thực hiện pháp luật
thành những hình thức cụ thể như: Tuân thủ pháp luật; thi hành pháp luật; sử dụng
pháp luật; và ADPL.
ADPL là một trong bốn hình thức thực hiện pháp luật cơ bản, có tính chất
đặc biệt, trong đó nhà nước thông qua các cơ quan hoặc người có thẩm quyền hoặc
nhà chức trách cá biệt hoá các quy định của pháp luật vào trong những trường hợp
cụ thể của đời sống xã hội. Nội dung của ADPL bao gồm: 1/ Xác định sự kiện pháp
lý cần áp dụng pháp luật; 2/ Nhận thức quy định của pháp luật áp dụng; 3/ So sánh
sự phù hợp giữa quy định pháp luật áp dụng và sự kiện pháp lý để xác định quy
phạm pháp luật cần áp dụng; 4/ Ra quyết định áp dụng pháp luật.
Trong khoa học pháp lý nước ta, khái niệm áp dụng hình phạt rất ít được sử
dụng; mà thay vào đó là khái niệm quyết định hình phạt.Vậy, phải chăng ADHP và
QĐHP là giống nhau?
Nhiều nhà khoa học dường như coi ADHP và QĐHP là một. PGS. TS.
Nguyễn Ngọc Chí đã đưa ra định nghĩa khoa học về QĐHP như sau: “Áp dụng hình
phạt là việc nhận thức và áp dụng pháp luật hình sự do Tòa án có thẩm quyền, nhân
danh Nhà nước thực hiện sau khi đã định tội danh và tùy thuộc vào từng trường
hợp cụ thể để quyết định khung hình phạt, loại hình phạt (hình phạt chính, hình
phạt bổ sung), mức hình phạt cụ thể áp dụng cho cá nhân người phạm tội trong
phạm vi giới hạn của khung hình phạt do luật định, phù hợp với tính chất, mức độ
7
nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; hoặc miễn hình phạt cho người phạm
tội theo quy định của Bộ luật hình sự” [3, tr.19] . Định nghĩa tương tự cũng được
đưa ra trong các công trình khác.
Theo chúng tôi, khái niệm ADHP nêu trên vẫn còn thiếu những dấu hiệu đặc
trưng của ADPL nói chung, ADHP nói riêng. ADHP là một giai đoạn ADPLHS do
trong các trường hợp đặc biệt (đồng phạm, phạm tội chưa đạt, áp dụng hình phạt
nhẹ hơn quy định của luật, cho hưởng án treo…) hay không.
2/ Tiếp theo, Toà án nhận thức hiệu lực và quy định của BLHS liên quan đến
ADHP, nhất là chế tài của tội phạm. Trong BLHS có rất nhiều quy định liên quan
đến ADHP mà Toà án không thể bỏ qua khi áp dụng. Đó là các quy định về hệ
thống các hình phạt chính và hình phạt bổ sung, nội dung cũng như phạm vi, điều
kiện áp dụng các hình phạt đó; các quy định về căn cứ QĐHP; đặc biệt là chế tài các
quy phạm pháp luật hình sự quy định về tội phạm cụ thể đã được Toà án xác định
trước đó.
3/ Nội dung tiếp theo là việc Toà án lựa chọn ADHP: có căn cứ miễn TNHS,
miễn hình phạt hay không; nếu không có căn cứ miễn thì loại và mức hình phạt cụ
thể áp dụng đối với người bị kết tội;
4/ Ra phán quyết về việc áp dụng hình phạt đối với người bị kết tội. Đồng
thời trong một số trường hợp, Toà án cũng quyết định về việc chấp hành hình phạt
được áp dụng như hoãn chấp hành hình phạt, miễn chấp hành hình phạt có điều kiện
(án treo), phương thức chấp hành hình phạt (phạt tiền)… Phán quyết về ADHP
được thể hiện trong bản án kết tội của Toà án.
Trong luật hình sự Việt Nam đa số hình phạt chính áp dụng cho các loại tội
phạm được quy định trong chế tài lựa chọn. Hình phạt chính áp dụng cho các tội
XPSH cũng có những đặc điểm tương tự. Trong khung hình phạt qui định nhiều loại
hình phạt khác nhau thì ADHP là sự lựa chọn một hình phạt cụ thể trong phạm vi
pháp luật cho phép để áp dụng đối với người phạm tội. Ví dụ: Trường hợp điều luật
qui định hình phạt chính là tù chung thân hoặc tử hình thì việc QĐHP trong trường
hợp này thực chất là việc chọn hình phạt (cân nhắc áp dụng hình phạt này hay hình
phạt kia) để áp dụng chứ không phải lựa chọn mức hình phạt cụ thể trong khung
hình phạt. ADHP bổ sung là việc lựa chọn một hay nhiều hình phạt bổ sung mà
pháp luật cho phép để áp dụng bổ sung cho hình phạt chính. Tuy nhiên, nội dung
9
10
được vận dụng cụ thể với từng vụ án cụ thể. Đây là một đặc điểm rất quan trọng của
hoạt động ADPL nói chung và ADHP nói riêng của Tòa án bởi vì đòi hỏi người
ADHP phải hiểu biết sâu sắc tư tưởng, quan điểm chỉ đạo khi xây dựng luật của
Nhà nước, hiểu biết về các yếu tố, tình tiết liên quan đến từng trường hợp phạm tội
và con người phạm tội thì mới ra được một bản án “tâm phục, khẩu phục”.
- Thứ ba, ADHP của Toà án có quyền lựa chọn và tính tuỳ nghi cao. Đa số
chế tài các tội xâm phạm sở hữu đều mang tính lựa chọn giữa hình phạt tù với tù
chung thân (đối với các tội đặc biệt nghiêm trọng); giữa cải tạo không giam giữ,
phạt tiền, thậm chí cảnh cáo với phạt tù đối với nhiều tội phạm. Khi ADHP, Toà án
lựa chọn một trong các hình phạt chính được quy định đối với người bị kết tội.
Ngoài chế tài lựa chọn, các chế tài quy định về từng loại hình phạt đều có
một khoảng tuỳ nghi nhất định và Toà án có quyền quyết định mức cụ thể trong
phạm vi tuỳ nghi đó.
Khả năng lựa chọn rộng, tuỳ nghi cao đòi hỏi Thẩm phán, Hội thẩm trình độ,
năng lực, bản lĩnh chính trị, nghề nghiệp vững vàng và lương tâm, đạo đức trong
sáng vì công lý... để có thể trong từng trường hợp cụ thể lựa chọn hình phạt hợp lý
áp dụng với người bị kết tội.
- Thứ tư, ADHP với nhóm tội XPSH còn có điểm đặc thù so với việc QĐHP
đối với nhóm các tội phạm khác xuất phát từ đặc điểm của tội phạm XPSH. BLHS
1999 quy định tại Chương XIV. Các tội XPSH là những hành vi nguy hiểm cho xã
hội xâm hại đến quyền sở hữu hợp pháp (chiếm hữu, sử dụng và định đoạt) của cá
nhân, tổ chức thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý, vô ý gây thiệt hại không chỉ về tài
sản cho cá nhân, tổ chức mà còn gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tinh thần
của con người. BLHS quy định nhóm tội phạm này gồm 13 tội (từ Điều 133 đến
Điều 145 BLHS). Mục đích tư lợi của người phạm tội trong đa số các tội xâm phạm
sở hữu, nhất là tội chiếm đoạt, cũng là yếu tố mà Toà án cần phải cân nhắc để
Hình phạt là sự biểu hiện của công bằng xã hội. Trong khi đó, công bằng
(cũng có thể hiểu trong trường hợp này là công bằng xã hội) là một giá trị pháp luật
cơ bản, là một đòi hỏi, dấu hiệu bắt buộc của công lý. Do đó, bảo đảm và thực thi
công lý được nhìn nhận là một chức năng xã hội quan trọng của hình phạt,“Trong
lĩnh vực luật hình sự, sự biểu hiện của công lý trước tiên là kịp thời nhận diện
những hành vi gây nguy hiểm cho xã hội nào là tội phạm, từ đó, đặt ra tính không
12
thể tránh khỏi việc áp dụng hình phạt lên các hành vi phạm tội đó”. [45, tr. 115 116.]
Hình phạt mang ý nghĩa pháp lý khi nó tuân thủ một cách chặt chẽ nguyên
tắc cá thể hóa trách nhiệm hình sự. Nếu mức độ nghiêm trị của hình phạt không
tương xứng với mức độ và hậu quả xã hội mà tội phạm gây ra thì sẽ không thể bảo
đảm cho công bằng xã hội cho những nạn nhân và người bị hại của tội phạm. Nếu
mức độ tác động của hình phạt quá nghiêm khắc, quá mức cần thiết đối với mức độ
và hậu quả xã hội mà tội phạm gây ra thì sẽ không thể bảo đảm sự công bằng đối
với người phạm tội. Nếu cùng một mức độ và hậu quả xã hội mà hình phạt áp dụng
đối với các tội phạm giống nhau mà mức độ nghiêm trị, độ hà khắc của hình phạt lại
khác nhau thì cũng không thể bảo đảm các giá trị công bằng đối với các cá nhân
người phạm tội cụ thể. Hình phạt một mặt nghiêm trị tội phạm, mặt khác, nó là
phương tiện, cách thức khắc phục, phục hồi và bồi hoàn trong khả năng, chừng mực
có thể các hậu quả xã hội do tội phạm gây ra đối với xã hội. Áp dụng hình phạt
đúng còn góp phần quan trọng vào việc duy trì, củng cố nền pháp chế xã hội chủ
nghĩa. Nguyên tắc pháp chế trong áp dụng hình phạt đòi hỏi các cơ quan tiến hành
tố tụng và người tiến hành tố tụng trong hoạt động xét xử và áp dụng hình phạt phải
tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Hiến pháp, pháp luật. Trong hoạt động xét
xử của Tòa án, việc áp dụng hình phạt nói chung, áp dụng hình phạt đối với các tội
xâm phạm sở hữu nói riêng là hoạt động trọng tâm cốt lõi của Tòa án.
Cũng như tội phạm, hình phạt được quy định đối với những người phạm các
án không được đề cao hay coi nhẹ mặt nào mà phải đặt trong mối liên hệ tổng quát
trên cơ sở các căn cứ áp dụng hình phạt để áp dụng một hình phạt cụ thể tương
xứng dành cho người đã thực hiện hành vi phạm tội.
1.2. Quy định của Bộ luật hình sự về áp dụng hình phạt đối với các tội
xâm phạm sở hữu
1.2.1 .Quy định về các hình phạt trong chế tài các tội xâm phạm sở hữu
Chương XIV “các tội xâm phạm sở hữu” của BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009) có 13 điều luật với 57 khoản quy định về tội phạm trong đó có 11
điều luật quy định việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội. Những
tội xâm phạm sở hữu có quy định hình phạt bổ sung là: tội cướp tài sản (Điều 133);
Tội bắt cóc nhằm chiếm đọat tài sản (Điều 134); Tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 135);
14
Tội cướp giật tài sản (Điều 136); Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản ( Điều 137); tội
trộm cắp tài sản (Điều 138);Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139); Tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140); Tội sử dụng trái phép tài sản (Điều
142); Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 143) và Tội thiếu trách
nhiệm gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của Nhà nước (Điều 144).
Đối với hình phạt chính có 65 lượt hình phạt đối với các tội XPSH. Trong đó
có một lượt hình phạt cảnh cáo (Khoản 1 Điều 145); 1 lượt hình phạt tiền (Khoản 1
Điều 142); 8 lượt hình phạt cải tạo không giam giữ; 46 lượt hình phạt tù có thời
hạn; 8 lượt hình phạt chung thân và 01 lượt hình phạt tử hình (Khoản 4 Điều 133).
Đối với hình phạt bổ sung có 24 lượt hình phạt bổ sung có thể áp dụng đối
với người phạm tội. Trong đó có 5 lượt hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm
hành nghề hoặc công việc nhất định; 2 lượt hình phạt cấm cư trú; 2 lượt hình phạt
quản chế; 5 lượt hình phạt tịch thu tài sản và 10 lượt hình phạt tiền.
Bảng 1.1. Bảng các tội danh và hình phạt theo BLHS năm 1999 (sửa đổi, bổ
sung năm 2009)
K3: 12N – 20N
Tịch thu tài sản
K4: 18N – 20N, tù chung thân hoặc tử
hình
2
Bắt cóc nhằm CĐTS (Đ134)
Tù có thời hạn
Phạt tiền;
K1: 2N – 7N
Tù chung thân
Quản chế;
K2: 5N – 12N
Cấm cư trú;
K3: 10N – 18N
Tịch thu tài sản
K4: 15N – 20N hoặc chung thân.
K2: 3N – 10N
K3: 7N – 15N
K4: 12N – 20N hoặc tù chung thân
5
Công nhiên CĐTS (Đ137)
Tù có thời hạn
K1: 6 tháng – 3N
Tùng chung thân
Phạt tiền
K2: 2N – 7N
K3: 7N – 15N
K4: 12N – 20N hoặc tù chung thân
6
Trộm cắp tài sản (Đ138)
Cải
K1: CTKGG đến 3N, tù 6tháng – 3N
giam giữ
K2: 2N – 7N
Tù có thời hạn
cấm hành nghề
K3: 7N – 15N
Tù chung thân
hoặc
K4: 12N – 20N hoặc tù chung thân
làm
công
việc nhất định.
Tịch thu tài sản
8
Lạm dụng tín nhiệm CĐTS (Đ140)
Cải
K1: CTKGG đến 3N, tù 6tháng – 3N
giam giữ
16
K4: 12N – 20N hoặc tù chung thân
hành
định.
Tịch thu tài sản
9
Chiếm giữ trái phép tài sản (Đ141)
Phạt tiền
K1: Phạt tiền, CTKGG đến 2N, tù 3 Cải
10
tạo
không
tháng – 2N
giam giữ
K2: 1N – 5N
Tù có thời hạn
Sử dụng trái phép tài sản (Đ142)
việc
nhất
K3: 3N – 7N
hành
định.
11
Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài Phạt tiền
sản (Đ143)
Cải
tạo
Phạt tiền;
không Cấm đảm nhiệm
K1: Phạt tiền, CTKGG đến 3N, tù 6 giam giữ
CV,
cấm
tháng – 3N
Tù có thời hạn
không Cấm đảm nhiệm
sản của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, giam giữ
CV,
cấm
doanh nghiệp (Đ144)
nghề
hoặc
làm
K1: CTKGG đến 3N, tù từ 6 tháng đến
công
việc
nhất
3N
định.
Tù có thời hạn
tổng kết của Tòa án nhân dân Tối cao hay trong nhiều sách tham khảo và giáo trình
của các trường Đại học, Cao đẳng thuật ngữ này vẫn được sử dụng.
Đến nay, khoa học luật hình sự vẫn chưa có một khái niệm thống nhất về căn
cứ QĐHP. Hiện, có các ý kiến đưa ra khái niệm về căn cứ QĐHP như sau:
Theo TS. Dương Tuyết Miên thì căn cứ QĐHP bao gồm những nội dung cơ
bản như sau: “các căn cứ quyết định hình phạt là những cơ sở pháp lý được quy
định trong Bộ luật hình sự mà Tòa án buộc phải tuân thủ khi quyết định hình phạt
cho người phạm tội nhằm đảm bảo hình phạt đã tuyên đạt được mục đích của hình
phạt”. [9, tr. 120].
Bên cạnh đó, theo tác giả Trần Văn Sơn thì “các căn cứ quyết định hình phạt
là những yêu cầu đòi hỏi có tính bắt buộc do luật hình sự quy định mà Tòa án phải
tuân thủ khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội” [27, tr. 26].
Còn tác giả Võ Khánh Vinh thì cho rằng, “các căn cứ quyết định hình phạt là
những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do luật hình sự quy định hoặc do giải
thích luật mà có buộc Tòa án phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người
thực hiện hành vi phạm tội”. [43, tr. 27]
Điều 45 BLHS Việt Nam năm 1999 quy định: “Khi quyết định hình phạt,
Tòa án căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm
18