Quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn quận 10 – thành phố hồ chí minh - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRUNG TÍNH

QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA BỊ CÁO THEO PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN 10,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRUNG TÍNH

QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA BỊ CÁO THEO PHÁP LUẬT TỐ
TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN 10,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành

: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số

: 60.38.01.04

của bị cáo tại Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh .................................... 56
3.2. Các giải pháp đảm bảo quyền kháng cáo của bị cáo .............................. 69
KẾT LUẬN ................................................................................................... 76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 81


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tàỉ
Có thể nói, quyền con người là thành quả của quá trình phát triển lâu
dài của lịch sử nhân loại, là một trong những giá trị quý báu nhất của nền văn
minh trong thời đại ngày nay. Ghi nhận và bảo vệ quyền con người trên thực
tế là thể hiện của một Nhà nước nhân dân, tiến bộ, dân chủ, văn minh. Các
quyền con người trở thành đối tượng bảo vệ trong việc ghi nhận về pháp lý,
trong hoạt động thi hành pháp luật và xử lý vi phạm pháp luật của Nhà nước.
Quyền kháng cáo là một quyền cơ bản của người tham gia tố tụng, đây
là cách thức để người tham gia tố tụng có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của chính mình trước những phán quyết không hợp pháp, không có căn
cứ của Tòa án cấp sơ thẩm. Bảo vệ và nâng cao quyền kháng cáo cũng góp
phần bảo vệ quyền con người trong hoạt động tố tụng hình sự.
Việt Nam đang ra sức xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, một nhà nước mà trong đó quyền con
người đươc thừa nhân, tôn trọng và bảo vệ. Vì vậy, bảo đảm quyền còn người
nói chung và quyền kháng cáo nói riêng là một yêu cầu cấp thiết nhằm thực
hiện đúng đắn, kịp thời chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước về cải
cách tư pháp trong điều kiện xây dựng Nhà nước pháp quyền hiện nay.
Trong tố tụng hình sự Việt Nam, quyền kháng cáo được ghi nhận từ lâu
và không ngừng được hoàn thiện, mở rộng nhằm đảm bảo quyền con người
của người tham gia tố tụng, về cơ bản các quy định về quyền kháng cáo trong
pháp luật Tố tụng hình sự hiện hành đã đáp ứng được yêu cầu của việc thực
hiện quyền này trên thực tế, đảm bảo được ý nghĩa thực sự của nó.

2


Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn thạc sỹ Luật học “Quyền kháng cáo trong
Tố tụng hình sự Việt Nam” (2015) của tác giả Lê Thị Thùy Dương, Trường
đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu đều đề cập đến quyền kháng
cáo. Tuy nhiên các công trình hoặc nghiên cứu quyền kháng cáo của bị cáo và
của những người tham gia tố tụng khác trong Tố tụng hình sự Việt Nam, hoặc
nghiên cứu quyền kháng cáo của bị cáo trên phạm vi địa phương nhất định, có
đặc điểm kinh tế xã hội khác nhau nên kết quả nghiên cứu có thể khác nhau
khi liên hệ với thực tiễn.
Do đó, việc nghiên cứu, tiếp cận quyền kháng cáo bị cáo trong Tố tụng
Hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh dưới góc độ
là một quyền tố tụng, nghiên cứu một cách toàn diện những vấn đề lý luận,
đồng thời tổng kết đánh giá qua các vụ án hình sự đã đưa ra xét xử trên thực
tế, xem xét quy định của Pháp luật tố tụng hình sự hiện hành, quy định của Bộ
luật Tố tụng hình sự 2015 để từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo là điều cần thiết trong gia đoạn hiện
nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu luận văn là từ việc nghiên cứu lý luận, các quy
định của Bộ luật Tố tụng hình sự về quyền kháng cáo và thực tiễn thi hành
các quy định này trong thực tiễn xét xử trong phạm vi xét xử sơ thẩm các vụ
án hình sự tại Toà án nhân dân Quận 10 Thành phố Hồ Chí Minh, phân tích
các điểm mới của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, từ đó có kết luận, đề xuất các
giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật, nâng cao hiệu quả việc thực
hiện quyền kháng cáo của bị cáo trong Tố tụng hình sự.
3

cáo của bị cáo, tập trung ở việc hoàn thiện các quy định của Pháp luật Tố tụng
hình sự.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Tác giải vận dụng quan điểm của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và lý
luận về nhận thức của triết học Mác - Lê Nin; Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà
nước và Pháp luật, về quyền con người; Quan điểm của Đảng cộng sản Việt
Nam về vấn đề cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng bao gồm :
- Phương pháp phân tích, so sánh, chứng minh dùng để làm rõ về mặt
lý luận các quy định về quyền kháng cáo của bị cáo;
- Phương pháp lịch sử được vận dụng nhằm phân tích, đánh giá sự kế
thừa và phát triển của các quy định trong Pháp luật tố tụng hình sự;
- Phương pháp thống kê, tham khảo ý kiến chuyên gia, khảo sát kết quả
hoạt động xét xử thông qua các bản án sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm để
đánh giá về thực tiễn;
- Phương pháp tổng hợp những kết quả nghiên cứu để đưa ra những
kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng các
quy định về quyền kháng cáo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận

5


So với các công trình khác, đề tài tiếp cận, nghiên cứu quyền kháng cáo
dưới góc độ đây là một quyền năng tố tụng của những người tham gia tố tụng.
Luận văn đã làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về quyền kháng cáo trong Tố
tụng hình sự; góp phần vào việc nhận thức được bản chất, đặc điểm, ý nghĩa


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA BỊ
CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền kháng cáo trong Tố
tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm quyền kháng cáo trong Tố tụng hình sự
Tố tụng hình sự là một lĩnh vực mang tính nhạy cảm và phức tạp, hoạt
động này có thể tác động một cách trực tiếp đến quyền tự do dân chủ của con
người, của công dân. Các phán quyết của Tòa án sẽ quyết định số phận pháp
lý của một cá nhân, quyết định ngay cả đối với quyền được sống của người
phạm tội. Mọi sai lầm, dù lớn hay nhỏ cũng có thể để lại những hậu quả tiêu
cực và có thể sẽ không khắc phục được. Do đó, để có thể phát hiện chính xác,
nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt
tội phạm, không làm oan người vô tội, pháp luật Tố tụng hình sự đã đặt ra rất
nhiều cơ chế, cách thức khác nhau. Một trong những phương thức để đảm bảo
tính chính xác trong phán quyết của Tòa án đó chính việc quy định và đảm
bảo thực hiện có hiệu quả quyền kháng cáo bị cáo để phát sinh thủ tục xét xử
lại ở cấp phúc thẩm.
Quyền kháng cáo là một trong những quyền cơ bản của một số người
tham gia tố tụng nói chung và của bị cáo nói riêng. Hiểu và thực hiện một
cách hiệu quả quyền này giúp bị cáo có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của mình. Các vấn đề liên quan đến quyền kháng cáo như chủ thể có
quyền kháng cáo, thời hạn kháng cáo, thủ tục kháng cáo...được pháp luật quy
định khá rõ ràng và cụ thể, nhưng văn bản pháp lý hiện hành vẫn chưa đưa ra
được một cách hiểu thống nhất về quyền kháng cáo. Việc thống nhất khái

8



kháng cáo không chi dành riêng cho những chủ thể này mà còn có những
người khác.
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “Kháng cáo là biểu thị sự bất đồng của
mình đối với bản án hoặc quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa
án cấp trên xét xử lại ”[10, tr. 215]. Khái niệm này về cơ bản đã giải quyết
được một số vấn đề có liên quan như chủ thể, đối tượng. Tuy nhiên, vẫn còn
những điểm chưa hợp lý như : Khái niệm chỉ mới đề cập đến đối tượng kháng
cáo là bản án hoặc quyết định của Tòa án mà không kèm theo điều kiện phải
là bản án, quyết định chưa có hiệu lực pháp luật; Tác giả dùng từ “mình” khi
nói về chủ thể có quyền kháng cáo, cách sử dụng đại từ này không thể xác
định một cách cụ thể là ai có quyền kháng cáo; Thẩm quyền xét xử phúc thẩm
theo khái niệm mà tác giả Đinh Văn Quế đã đưa ra là thuộc về “Tòa án cấp
trên” là chưa cụ thể.
Theo Luật Tổ chức Tòa án năm 2014 thì hệ thống Tòa án nhân dân
nước ta hiện nay được tổ chức theo 4 cấp : Tòa án nhân dân cấp huyện, quận,
thị xã, thành phố thuộc tỉnh và tương đương; Tòa án nhân dân cấp tỉnh, thành
phố trực thuộc trung ương; Tòa án nhân dân cấp cao và Toà án nhân dân tối
cao. Vì vậy, nếu phát biểu như định nghĩa trên có thể hiểu rằng chỉ cần là Tòa
án cấp trên của Tòa án đã xét xử sơ thẩm là Tòa án có thẩm quyền. Phát biểu
như vậy là chưa chuẩn xác vì Tòa án có thẩm quyền xét xử phúc thẩm theo
quy định hiện hành phải là Tòa án cấp trên trực tiếp.
Theo giáo trình Luật Tố tụng hình sự của trường Đại học Luật Tp. Hồ
Chí Minh, quyền kháng cáo được hiểu “là quyền của những chủ thể theo quy
định của pháp luật được đề nghị Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại bản án
và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật ”[28, tr.
10


525]. Với khái niệm này, có thể đã có được cái nhìn khái quát về kháng cáo
trong Tố tụng hình sự Việt Nam. Nhưng để đưa ra được khái niệm về quyền

Thứ ba, đối tượng để bị cáo kháng cáo là những bản án, quyết định của
Tòa án chưa có hiệu lực pháp luật. Để đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử, bản
án, quyết định của Tòa án sơ thẩm chưa phát sinh hiệu lực ngay mà pháp luật
giành cho bị cáo một khoản thời gian nhất định để xem xét và thể hiện ý kiến
của mình thông qua việc thực hiện quyền kháng cáo. Như vậy, có thể khẳng
định rằng bản án, quyết định của Tòa án đã phát sinh hiệu lực thì không thể là
đối tượng kháng cáo để phát sinh thủ tục phúc thẩm, nếu trong trường hợp cần
xem xét lại vì có vi phạm thì sẽ xem xét theo thủ tục Giám đốc thẩm hoặc thủ
tục Tái thẩm.
Thứ tư, quyền kháng cáo là quyền của bị cáo, quyền này sẽ được đảm
bảo thực hiện bởi các cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, quyền kháng cáo
phải được thực hiện một cách hợp pháp theo đúng quy định về thời hạn, thủ
tục, đúng cách thức cũng như các quy định khác mà pháp luật đã ghi nhận. Có
như vậy, thì kháng cáo mới được xem là cơ sở để phát sinh thủ tục phúc thẩm.
Như vậy, khái niệm về quyền kháng cáo của bị cáo trong Tố tụng hình
sự có thể được hiểu như sau:
“Quyền kháng cáo phúc thẩm hình sự là quyền của một số người tham
gia tố tụng mà pháp luật ghi nhận trong thời hạn bằng thủ tục luật định được
yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án xét lại quyết định mà bản
án, quyết định sơ thẩm đó chưa phát sinh hiệu lực pháp luật”.
1.1.2 Đặc điểm của quyền kháng cáo của bị cáo
Thông qua việc phân tích khái niệm quyền kháng cáo cũng như nghiên
cứu các quy định về quyền kháng cáo trong pháp luật quốc tế và pháp luật

12


Việt Nam có thể rút ra những đặc điểm cơ bản của quyền kháng cáo của bị
cáo như sau:
Thứ nhất, quyền kháng cáo là quyền cơ bản của bị cáo trong lĩnh vực

Quy định quyền kháng cáo và đảm bảo thực hiện quyền này đã tạo cơ
hội cho bị cáo được nói lên được tiếng nói của mình, thể hiện thái độ bất đồng
với những phán quyết của Tòa án sơ thẩm, qua đó góp phần bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của họ thông qua thủ tục xét xử phúc thẩm. Điều đó khẳng
định quyền kháng cáo chỉ có thề tồn tại trong Tố tụng tụng hình sự của những
chế độ có nền dân chủ, tôn trọng quyền con người. Còn ở những chế độ phi
dân chủ như chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến, khi vấn đề quyền con người
không được xem trọng thì người bị kết tội sẽ không có quyền phản đối những
phản quyết của Tòa án.
Thứ ba, quyền kháng cáo của bị cáo là quyền mang tính quốc tế
Sự ra đời của quyền kháng cáo của bị cáo trong Tố tụng hình sự như
một tất yếu khách quan xuất phát từ bản chất dân chủ, tiến bộ của hệ thống tư
pháp hiện đại. Ở bất cứ quốc gia nào mà vấn đề quyền con người trong lĩnh
vực tư pháp hình sự được quan tâm thì ở đó, quyền kháng cáo sẽ tồn tại.
Chính vì vậy, không chỉ được ghi nhận trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt
Nam, quyền kháng cáo còn được ghi nhận trong các văn kiện pháp lý quốc tế,
cũng như trong quy định pháp luật của hầu hết các nước trên thế giới.
Quyền kháng cáo được đề ra lần đầu tiên trong kỳ họp thứ 14 của ủy
ban thứ 3 Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc. Tuy nhiên sau đó, vấn đề này bị
dừng lại, không bàn bạc thêm và cũng không pháp điển hóa thành một quy
định trong Công ước về nhân quyền và các quyền tự do cơ bản của Cộng
đồng Châu Âu. Năm 1966, khi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và
14


chính trị được thông qua, quyền kháng cáo của bị cáo đã chính thức được ghi
nhận tại Khoản 5 Điều 14 của Công ước: “Bất cứ người nào bị kết án là phạm
tội đều có quyền yêu cầu toà án cấp cao hơn xem xét lại bản án và hình phạt
đối với mình theo quy định pháp luật. ”
Một văn bản pháp lý khác ghi nhận quyền kháng cáo đó chính là Công

và quyền bào chữa của bị cáo có mối quan hệ biện chứng lẫn nhau.
1.1.3. Ý nghĩa của quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự
Quyền kháng cáo trong Tố tụng hình sự là quyền năng tố tụng có vai
trò quan trọng đối với những người tham gia tố tụng khác nói chung, đối với
bị cáo nói riêng và đối với các cơ quan có thẩm quyền. Xét cả về mặt lí luận
và thực tiễn, kháng cáo phúc thẩm hình sự là chế định không thể thiếu được
trong pháp luật Tố tụng hình sự Việt Nam, nó là cơ sở pháp lý để đảm bảo
quyền, lợi ích hợp pháp của bị cáo. Nếu không quy định quyền kháng cáo,
những bản án oan, sai được đưa ra thi hành có thể sẽ rất nhiều và quyền, lợi
ích hợp pháp của bị cáo không được xem xét. Ý nghĩa của quyền kháng cáo
được khẳng định thông qua một số nội dung sau:
Thứ nhất, quyền kháng cáo là phương thức để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của bị cáo
Quyền và lợi ích hợp pháp của bị cáo được Nhà nước bảo hộ bằng
nhiều cách thức khác nhau và quyền kháng cáo là một trong những cách thức
đó. Thực hiện quyền kháng cáo tức là bị cáo thể hiện một sự bất đồng với
những phán quyết của Tòa án cấp sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp trên trực
tiếp xét xử lại những vụ án đó nhằm đảm bảo tính chính xác trong việc xét xử.

17


Yêu cầu của việc xét xử là phải đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Tuy nhiên, không phải bao giờ kết quả của hoạt động xét xử cũng đảm bảo
yêu cầu đó. Việc áp dụng có thể có những sai sót do nhiều nguyên nhân khác
nhau. Quyền kháng cáo giúp bị cáo được trình bày ý kiến, nguyện vọng cũng
như những yêu cầu của mình đối với Tòa án khi cho rằng quyền và lợi ích của
họ đã bị xâm phạm do chính nội dung bản án, quyết định mà Tòa án đó đã
ban hành. Khi kháng cáo hợp pháp, vụ án sẽ được xét xử lại theo thủ tục phúc
thẩm để kiểm tra, phát hiện và khắc phục những sai lầm thiếu sót nếu có.

điều kiện. Một trong những điều kiện để phát sinh thủ tục phúc thẩm chính là
quyền kháng cáo của bị cáo.
Như vậy, việc quy định và thực hiện quyền kháng cáo là một trong
những căn cứ, cơ sở pháp lý quan trọng làm phát sinh thủ tục phúc thẩm,
đồng thời cũng là căn cứ xác định phạm vi xét xử của Tòa án cấp phúc thẩm.
Khi kháng cáo hợp pháp, Tòa án cấp phúc thẩm phải mở phiên tòa xét xử và
giải quyết lại đối với vụ án bị kháng cáo đó. Thủ tục phúc thẩm phát sinh là
biểu hiện của nguyên tắc hai cấp xét xử và chính kháng cáo là điều kiện để
đảm bảo thực hiện nguyên tắc này.
Nguyên tắc hai cấp xét xử là nguyên tắc cơ bản của pháp luật Tố tụng
hình sự, có tính bắt buộc chung, thể hiện quan điểm có tính định hướng của
Nhà nước trong việc tổ chức tố tụng để xét xử các vụ án hình sự. Nguyên tắc
thể hiện sự thận trọng của Nhà nước trong việc đưa ra những phán quyết,
quyết định số phận pháp lý của một con người. Chính quyền kháng cáo của bị
cáo đã trở thành một trong những điều kiện tiên quyết để Tòa án có thể xét xử
lại, là cơ chế để có thể đảm bảo được nguyên tắc này.

19


Thứ tư, quyền kháng cáo của bị cáo tạo điều kiện cho Tòa án có thể tự
kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình; phát hiện, khắc phục những sai lầm
thiếu sót đồng thời có những hướng sửa chữa, khắc phục
Như đã phân tích, hoạt động xét xử không phải bao giờ cũng đảm bảo
được những yêu cầu đã đặt ra. Vì vậy, khi bị cáo thực hiện quyền kháng cáo
phúc thẩm cũng chính là cơ hội để Tòa án tự kiểm tra, đánh giá lại hoạt động
xét xử của mình. Thông qua việc xem xét kháng cáo, Tòa án cấp trên không
chỉ khắc phục những sai sót của Tòa án cấp dưới mà còn có có thể hướng dẫn
cho Tòa án cấp dưới nhận thức và áp dụng đúng đắn, thống nhất pháp luật,
nâng cao chất lượng xét xử các bản án.

nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; luôn quan tâm và có cơ chế
để đảm bảo quyền lợi của nhân dân.
1.2. Chủ thể có quyền kháng cáo và chủ thể có trách nhiệm đảm
bảo thực hiện quyền kháng cáo
1.2.1. Chủ thể có quyền kháng cáo
Quyền kháng cáo trong Tố tụng hình sự là quyền cơ bản của con người
trong lĩnh vực tư pháp hình sự; nhưng quyền này chỉ có thể được thực hiện
khi họ tham gia tố tụng trong một vụ án hình sự. Đây là phương tiện để người
tham gia tố tụng tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên,
không phải tất cả những người tham gia tố tụng đều có quyền kháng cáo.
Theo Tố tụng hình sự hiện hành, người tham gia tố tụng hiện nay được chia
thành 3 nhóm:
Người tham gia tố tụng có quyền và lợi ích trong vụ án: Người bị tạm
giữ; bị can; bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự; người có
quyền, nghĩa vụ liên quan.
21


Người tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích cho người khác và
góp phần bảo vệ công lý: Người bào chữa; người bảo vệ quyền lợi cho đương
sự.
Người tham gia tố tụng theo nghĩa vụ pháp lý: Người làm chứng; người
giám định; người phiên dịch.
Trong ba nhóm người tham gia tố tụng này, phù hợp với lý luận Tố
tụng hình sự thì chỉ có một số chủ thể thuộc nhóm thứ nhất có quyền kháng
cáo, vì đây là những chủ thể có quyền và nghĩa vụ pháp lý liên quan đến vụ
án, họ có khả năng bị ảnh hưởng bởi bản án, quyết định của Tòa án, cụ thể đó
là: bị cáo; người bị hại; nguyên đơn dân sự; bị đơn dân sự;người có quyền,
nghĩa vụ liên quan.
Nội dung mà người có quyền kháng cáo được yêu cầu xét xử lại sẽ xác


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status