Quyền kháng cáo của bị cáo trong tố tụng hình sự việt nam từ thực tiễn quận 10 – thành phố hồ chí minh (tóm tắt) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN TRUNG TÍNH

QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA BỊ CÁO THEO PHÁP
LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC
TIỄN QUẬN 10 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: GS. TS. Võ Khánh Vinh

Phản biện 1: .......................................................................
.......................................................................
Phản biện 2: .......................................................................
.......................................................................

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc
sĩ họp tại: Học viện Khoa học xã hội lúc ….. giờ ….. ngày …..
tháng ….. năm …….
Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện Học viện Khoa học xã hội




Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA
BỊ CÁO TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của quyền kháng cáo
trong Tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm quyền kháng cáo trong Tố tụng hình sự
“Quyền kháng cáo phúc thẩm hình sự là quyền của một số
người tham gia tố tụng mà pháp luật ghi nhận trong thời hạn bằng
thủ tục luật định được yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ
án xét lại quyết định mà bản án, quyết định sơ thẩm đó chưa phát
sinh hiệu lực pháp luật”.
1.1.2 Đặc điểm của quyền kháng cáo của bị cáo
Thứ nhất, quyền kháng cáo là quyền cơ bản của con người
trong lĩnh vực tư pháp hình sự, là phương tiện để bị cáo tự bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình
Quyền kháng cáo đối với những bản án, quyết định sơ thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật chính là khả năng mà pháp luật cho phép
bị cáo được quyền bày tỏ sự không đồng ý với phán quyết cùa Tòa
án cấp sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án, quyết
định.
Thứ hai, quyền kháng cáo là quyền gắn liền với một xã hội
mang tính dân chủ. Quy định quyền kháng cáo và đảm bảo thực hiện
quyền này đã tạo cơ hội cho bị cáo được nói lên được tiếng nói của
mình, thể hiện thái độ bất đồng với những phán quyết của Tòa án sơ
thẩm, qua đó góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ.
Thứ ba, quyền kháng cáo là quyền mang tính quốc tế. Sự ra
đời của quyền kháng cáo của bị cáo trong Tố tụng hình sự như một
2

3


của quá trình giải quyết vụ án. Việc giám sát, kiểm sát hoạt động xét
xử là một nhu cầu tất yếu. Thông qua việc giám sát đó, nếu phát hiện
có sai phạm trong việc xử lý vụ án thì bị cáo có quyền kháng cáo,
yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại để đảm bảo tính chính xác trong
các phán quyết.
Thứ ba, quyền kháng cáo là điều kiện để phát sinh thủ tục
phúc thẩm; là cách thức để đảm bảo nguyên tắc hai cấp xét xử. Xét
xử phúc thẩm là việc Tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án chưa
có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp dưới bị kháng cáo hoặc kháng
nghị. Việc quy định, thực hiện quyền kháng cáo là một trong những
căn cứ, cơ sở pháp lý quan trọng làm phát sinh thủ tục phúc thẩm.
Thứ tư, quyền kháng cáo tạo điều kiện cho Tòa án có thể tự
kiểm tra, đánh giá hoạt động của mình; phát hiện, khắc phục những
sai lầm thiếu sót đồng thời có những hướng khắc phục kịp thời. Khi
bị cáo thực hiện quyền kháng cáo cũng chính là cơ hội để Tòa án tự
kiểm tra lại hoạt động xét xử của mình. Tòa án cấp trên không chỉ
khắc phục những sai sót của Tòa án cấp dưới mà còn hướng dẫn, chỉ
đạo cho Tòa án cấp dưới áp dụng đúng đắn và thống nhất pháp luật,
nâng cao chất lượng xét xử.
Thứ năm, quy định và thực hiện quyền kháng cáo giúp tạo niềm tin
của nhân dân vào Đảng, nhà nước và pháp luật. Mỗi bản án, quyết định
đều có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến quyền và lợi ích của cá nhân,
tổ chức có liên quan. Qua việc thực hiện quyền kháng cáo, Tòa án
cấp trên xem xét lại, đảm bảo một cách tối đa nhất tính chính xác của
những bản án, quyết định. Tạo niềm tin tuyệt đối cho nhân dân vào
kết quả của hoạt động xét xử.
1.2. Chủ thể có quyền kháng cáo và chủ thể có trách nhiệm

phạm vi kháng cáo của bị cáo như sau : “Bị cáo, bị hại, người đại
diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ
thẩm… người được Toà án tuyên bố là không có tội có quyền kháng
cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không có tội”.
+ Đối với bị cáo :
Điều 231 Bộ luật Tố tụng hình sự quy định bị cáo có thể
kháng cáo một phần hoặc toàn bộ nội dung bản án, quyết định. Trong
trường hợp bị cáo được Toà án tuyên bố là không có tội cũng có
quyền kháng cáo phần lý do của bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không
có tội.
Cách quy định này có hạn chế : Bị cáo có thể kháng cáo đối
với toàn bộ bản án, quyết định của Tòa án là không phù hợp về mặt
lý luận và thực tiễn bởi vì không phải lúc nào toàn bộ nội dung bản
án, quyết định của Tòa án sơ thẩm cũng ảnh hưởng đến quyền, lợi
ích hợp pháp của bị cáo, nhất là trong vụ án có nhiều đồng phạm,
hoặc vụ án ghép của nhiều vụ án.
+ Người đại diện hợp pháp của bị cáo
Nếu bị cáo là người chưa thành niên hoặc là người có nhược
điểm về thể chất hoặc tâm thần, thì bị cáo vẫn có thể tự mình thực
hiện quyền kháng cáo hoặc thực hiện thông qua người đại diện hợp
pháp của bị cáo. Quyền kháng cáo của bị cáo và người đại diện hợp

6


pháp là độc lập, không làm mất đi quyền kháng cáo của bị cáo. Phạm
vi kháng cáo của người đại diện được xác định tương tự bị cáo.
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (chưa có hiệu lực thi hành)
quy định về người kháng cáo và phạm vi kháng cáo tại điều 331 : “Bị
cáo, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc

thời điểm kết thúc ngày làm việc tiếp theo ngày nghỉ đó”.
"Nếu đơn kháng cáo gửi qua bưu điện thì ngày kháng cáo
được tính căn cứ vào ngày bưu điện nơi gửi đóng dấu ở phong bì.
Trong trường hợp đơn kháng cáo gửi qua Ban giám thị trại tạm
giam, thì ngày kháng cáo được tính căn cứ vào ngày Ban giám thị
trại tạm giam nhận được đơn kháng cáo”.
Trường hợp người kháng cáo nộp đơn trực tiếp cho Tòa án
hoặc đến Tòa án trình bày trực tiếp, tiểu mục 4.2, mục 4, phần I Nghị
quyết số 05/2005/NQ-HĐTP quy định: "Trong trường hợp người
kháng cáo đến nộp đơn kháng cáo tại Toà án hoặc trong trường hợp
họ đến Toà án cấp sơ thẩm trình bày trực tiếp về việc kháng cáo, thì
ngày kháng cáo là ngày Toà án nhận đơn hoặc là ngày Toà án lập
biên bản về việc kháng cáo".
Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (chưa có hiệu lực thi hành)
quy định về thời hạn kháng cáo tại điều 333. Bộ luật mới có bổ sung
về thời hạn kháng cáo đối với quyết định là 07 ngày kể từ ngày
người có quyền kháng cáo nhận được quyết định. Đồng thời, các
hướng dẫn về thời hạn kháng cáo, cách xác định ngày kháng cáo tại
tiểu mục 4.1, mục 4, phần I, và tiểu mục 4.2, mục 4, phần I - Nghị
quyết 05/2005/NQ-HĐTP như phân tích ở trên đã được pháp điển
hoá, bổ sung vào điều luật mới, đây là sự tiến bộ trong xây dựng luật,
đảm bảo sự thống nhất cũng như đảm bảo quyền lợi của bị cáo.
2.2.2. Thời hạn kháng cáo đối với quyết định sơ thẩm
Thời hạn kháng cáo đổi với các quyết định sơ thẩm được quy
định tại Khoản 2 Điều 239 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 là 7 ngày.
Thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo được xác
định tương tự như kháng cáo đối với bản án.
8





cáo phải gửi đơn đến Tòa án đã xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc
thẩm. Trong trường hợp bị cáo đang bị tạm giam, Ban giám thị trại
tạm giam phải đảm bảo cho bị cáo thực hiện quyền kháng cáo.
Người kháng cáo có thể trình bày trực tiếp với Tòa án đã xét xử sơ
thẩm về việc kháng cáo. Tòa án phải lập biên bản về việc kháng cáo
đó theo quy định tại Điều 95 của Bộ luật này ”.
Bên cạnh việc kháng cáo bằng đơn, người kháng cáo có thể
chọn hình thức kháng cáo bàng cách trình bày trực tiếp với Tòa án.
Tòa án cấp sơ thẩm phải tiếp nhận và lập biên bản về việc kháng cáo,
ghi rõ những thông tin cần thiết cũng như những yêu cầu của người
kháng cáo. Việc nhận và xử lý kháng cáo được hướng dẫn tại tiểu
mục 3.1, mục 3, phần I Nghị quyết 05/2005/NQ- HĐTP như sau:
- Đối với việc nhận và xử lý đơn kháng cáo.
Tòa án cấp sơ thẩm thì sau khi nhận được đơn kháng cáo phải
vào sổ nhận đơn và kiểm tra người làm đơn kháng cáo có thuộc chủ
thể có quyền kháng cáo và nội dung kháng cáo có thuộc giới hạn của
việc kháng cáo hay không? Đồng thời kiểm tra kháng cáo có được
làm trong thời hạn quy định tại Điều 234 của Bộ luật Tố tụng hình sự
và được hướng dẫn tại mục 4 Phần I của Nghị quyết số 05/2005/NQHĐTP hay không. Trong trường hợp kháng cáo đảm bảo đầy đủ các
điều kiện theo quy định thì tiến hành thông báo về việc kháng cáo
theo quy định.
Trong trường hợp đơn kháng cáo là của người không có quyền
kháng cáo hoặc nội dung kháng cáo không thuộc giới hạn của việc
kháng cáo thì trong thời hạn ba ngày làm việc kể từ ngày nhận được
đơn, Toà án cấp sơ thẩm trả lại đơn cho người làm đơn và ghi chú
vào sổ nhận đơn về việc trả lại đơn. Trong trường hợp đơn kháng cáo
có nội dung chưa cụ thể, rõ ràng, thì Toà án cấp sơ thẩm phải thông
11

12


2.4. Một số quy định khác về quyền kháng cáo
2.4.1. Thông báo việc kháng cáo và hậu quả của việc kháng
cáo
- Thông báo về việc kháng cáo : Quy định tại Điều 236 Bộ luật
Tố tụng hình sự : “ Việc kháng cáo, kháng nghị phải được Tòa án
cấp sơ thẩm thông báo bằng văn bản cho Viện kiếm sát cùng cấp và
những người tham gia tổ tụng trong thời hạn 7ngày, kể từ ngày nhận
được kháng cáo, kháng nghị”.
- Hậu quả của việc kháng cáo : Khoản 1 Điều 237 Bộ luật Tố
tụng hình sự quy định “Những phần của bản án bị kháng cáo, kháng
nghị thì chưa đưa ra thi hành trừ trường hợp quy định tại khoản 2
Điều 255 của Bộ luật này. Khi có kháng cáo, kháng nghị đối với toàn
bộ bản án thì toàn bộ bản án chưa được đưa ra thi hành”.
Hậu quả của việc kháng cáo, kháng nghị theo quy định tại
Điều 237 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 được vẫn được giữ nguyên,
không có bổ sung gì trong quy định tại điều 339 Bộ luật Tố tụng hình
sự 2015.
2.4.2. Bổ sung, thay đổi, rút kháng cáo
- Quy định về bổ sung, thay đổi kháng cáo: Được quy định tại
khoản 1 Điều 238 Bộ luật Tố tụng hình sự, cụ thể như sau : “Trước
khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo...có
quyền bổ sung, thay đổi kháng cáo, kháng nghị nhưng không được
làm xấu hơn tình trạng của bị cáo...”.
- Quy định về rút kháng cáo: Việc rút kháng cáo cũng được
quy định tại Điều 238 Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, theo đó: “Trước
khi bắt đầu hoặc tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo...có
quyền...rút một phần hoặc toàn bộ kháng cáo...Trong trường hợp rút

được ghi vào biên bản phiên tòa. Tòa án cấp phúc thẩm tiếp tục xét
xử vụ án theo thủ tục chung đối với phần kháng cáo còn lại.
14


Hiện nay, các hướng dẫn tại Nghị quyết 05/2005/NQ - HĐTP
của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối về vấn đề này đã được
pháp điển hoá vào các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 tại
các điều 342, 348.
Điểm khác biệt của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 đó là người
kháng cáo có thể thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo trước hoặc tại
phiên toà phúc thẩm mà không bị ràng buộc bởi quy định “làm xấu
đi tình trạng của bị cáo”. Ràng buộc này chỉ quy định đối với Viện
kiểm sát đã ra quyết định kháng nghị nhằm mục đích nâng cao tính
trách nhiệm của cơ quan này khi ban hành quyết định kháng nghị.

15


Chương 3
THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VỀ QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA BỊ CÁO TẠI QUẬN 10,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH VÀ CÁC GIẢI PHÁP BẢO
ĐẢM QUYỀN KHÁNG CÁO CỦA BỊ CÁO
3.1.

Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về

quyền kháng cáo của bị cáo tại Quận 10 Tp. Hồ Chí Minh
3.1.1 Những kết quả đạt được

thẩm sửa án sơ thẩm giảm mức hình phạt đối với bị cáo.
Bên cạnh đó cũng nhận thấy, số kháng cáo không được cấp
phúc thẩm chấp nhận, y án sơ thẩm cũng tương đối cao (73 vụ/161
vụ, tỉ lệ : 45,34%). Qua đó cho thấy, chất lượng kháng cáo của bị cáo
chưa thật sự cao, cấp sơ thẩm đã xử đúng người, đúng tội và tuyên
mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
- Về cơ chế đảm bảo thực hiện quyền kháng cáo: Thời gian
qua, tại Toà án nhân dân Quận 10, với những kết quả đã đạt được
trong việc thực hiện quyền kháng cáo thì có thể khẳng định rằng Tòa
án, Ban giám thị trại tạm giam Công an Quận 10 đã tạo điều kiện
thuận lợi cho bị cáo có thể thực hiện tốt quyền kháng cáo của mình.
3.1.2. Những vướng mắc trong việc thực hiện quyền kháng
cáo
Thứ nhất, tỷ lệ Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng
cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm còn cao. Trong vòng 05 năm trở lại
đây, số vụ án bị kháng cáo theo thủ tục phúc thẩm là 161 vụ. Trong
đó, cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo, y án sơ thẩm là 73
vụ, chiếm tỉ lệ 45,34%.
Điều này cũng phần nào cho thấy rằng đa số các bản án sơ
thẩm đã xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, các kháng cáo của
bị cáo là mang tính cầu may, kháng cáo được thực hiện một cách tràn
17


lan, không có căn cứ, dẫn đến việc kéo dài thời gian tố tụng, gây khó
khăn cho các cơ quan có thẩm quyền.
Nguyên nhân của vấn đề này là do pháp luật Tố tụng hình sự
nước ta quy định về thủ tục kháng cáo tương đối dễ dàng và thuận
lợi, không quy định rõ căn cứ để kháng cáo, không quy trách nhiệm
đối với các chủ thể kháng cáo không có căn cứ. Bị cáo phải chịu án

tụng như : thông báo quá thời hạn quy định và ghi không đúng nội
dung kháng cáo; Giao bản án cho Viện kiểm sát, bị cáo không đúng
thời hạn, thông báo kháng cáo và gửi hồ sơ kháng cáo cho Tòa án
phúc thẩm quá thời hạn theo quy định. Nguyên nhân của những hạn
chế này chính là do con người, do các cá nhân có thẩm quyền đã
không áp dụng đúng quy định của pháp luật trong hoạt động thụ lý,
thông báo nội dung kháng cáo.
Thứ sáu, một số vấn đề khác. Bên cạnh những hạn chế nổi bật
trên, thực tế hiện nay vẫn còn một số hạn chế như : vẫn có những
trường hợp chủ thể kháng cáo là người không có quyền kháng cáo
như vợ kháng cáo thay cho chồng, mẹ kháng cáo thay cho con... Hay
bị cáo bị tạm giam làm đơn kháng cáo bản án nhưng không có xác
nhận của Trại tạm giam; có trường hợp, bị cáo không chủ động làm
đơn kháng cáo mà do cán bộ Công an trong Trại tạm giam đọc cho
viết.
Nguyên nhân tồn tại, bất cập trên :
Thứ nhất, do hệ thống các quy định về quyền kháng cáo chưa
được hoàn thiện, còn mâu thuần, chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể
dẫn đến việc áp dụng pháp luật còn nhiều vướng mắc.
Thứ hai, do sự hạn chế về trình độ năng lực của cán bộ các cơ
quan có liên quan như Tòa án, Ban giám thị trại tạm giam. Một số
cán bộ chưa làm hết trách nhiệm trong việc thụ lý, kiểm tra, xử lý

19


đơn kháng cáo, thiếu trách nhiệm không giải thích rõ quyền kháng
cáo cho người có quyền kháng cáo.
Do tình trạng thiếu cán bộ, Thẩm phán ở một số địa phương,
đặc biệt là những đơn vị vùng sâu, vùng xa. Một số Thẩm phán, cán

Thứ hai, về thời hạn kháng cáo: Cần quy định thời hạn kháng
cáo trường hợp bị cáo tham gia phiên tòa nhưng bỏ về hoặc bỏ trốn
trong thời gian nghị án. Theo quan điểm của tôi thì thời hạn này nên
được tính kể từ khi Tòa tuyên án.
Về thời điểm bắt đầu, thời điểm kết thúc thời hạn kháng cáo.
Nghị quyết 05/2005/NQ-HĐTP đã hướng dẫn và Bộ luật Tố tụng
hình sự 2015 đã bổ sung thêm quy định về xác định ngày kháng cáo
tại khoản 3 Điều 333. Nhưng Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 pháp điển
hóa quy định này. Đây là thiếu sót của nhà làm luật mà rất dễ có
vướng mắc trong thực tế vì cách tính và cách hiểu không thống nhất.
Thứ ba, kháng cáo quá hạn : Trong quy định của pháp luật
hiện hành và cả thực tiễn áp dụng, chế định này vẫn còn một số các
vướng mắc như : lý do chính đáng; việc thành lập Hội đồng xét xử
để xét lý do kháng cáo quá hạn; tại phiên tòa xét kháng cáo quá hạn
không cần có mặt đại diện Viện kiểm sát; cũng như việc không tiến
hành xét lý do kháng cáo quá hạn đúng luật định...
Những bất cập này đã được Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 khắc
phục một phần tại khoản 1 điều 335 “Việc kháng cáo quá hạn được
chấp nhận nếu có lý do bất khả kháng hoặc do trở ngại khác quan mà
người kháng cáo không thể thực hiện được việc kháng cáo…”
Tuy nhiên, điều luật lại chưa nói rõ về việc như thế nào là “lý
do bất khả kháng” và “trở ngại khách quan”. Trong trường hợp đó thì
thời hạn kháng cáo tính như thế nào. Do đó cần có hướng dẫn hoặc
dẫn chiếu định nghĩa về “lý do bất khả kháng” và “trở ngại khách
quan” trong Bộ luật dân sự. Cần quy định rõ, nếu rơi vào những
trường hợp này thì thời hiệu được tính lại, hay sau khi hết các lý do
đó thì phải làm đơn kháng cáo ngay.
Thứ tư, về thông báo kháng cáo : Pháp luật hiện hành chưa quy
21




phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, trình độ năng lực chuyên môn
nghiệp vụ.
Tăng cường việc nâng cao trình độ, những kiến thức liên quan
đến quyền kháng cáo cho Ban giám thị trại tạm giam. Xây dựng chế
độ, chính sách tiền lương, khen thưởng phù hợp với lao động và sự
cống hiến của cán bộ tư pháp nói chung, cán bộ ngành Tòa án, Trại
tạm giam nói riêng. Ngoài ra, để nâng cao trình độ nghiệp vụ, Tòa án
các cấp cần tăng cường việc tổ chức đánh giá rút kinh nghiệm về
công tác kháng cáo, xử lý đơn kháng cáo.
3.2.3. Giải pháp về công tác tuyên truyền phổ biến pháp luật
Tòa án và các cơ quan hữu quan cần tăng cường các hoạt động
tuyên truyền, phổ biến pháp luật trong đó có các quy định về quyền
kháng cáo như chủ thể có quyền kháng cáo, phạm vi kháng cáo, hình
thức kháng cáo, thời hạn kháng cáo.
KẾT LUẬN
Quyền kháng cáo là một trong những quyền quan trọng đối
với bị cáo trong Tố tụng hình sự. Đây là phương tiện để bị cáo có thể
tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình thông qua việc bày tỏ sự
không đồng ý với kết luận của Tòa án cấp sơ thẩm và yêu cầu Tòa án
cấp trên xét xử lại vụ án, xét lại quyết định đó.
Đảm bảo thực hiện quyền kháng cáo của bị cáo trong vụ án
hình sự nói riêng cũng chính là đảm bảo quyền con người nói chung.
Đây được xác định là mục tiêu của đất nước ta trong quá trình xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Do đó, việc nghiên
cứu về quyền kháng cáo của bị cáo trong Tố tụng hình sự có ý nghĩa
hết sức to lớn cả về mặt lý luận và thực tiễn.
Nhận thức ý nghĩa quan trọng này, pháp luật Tố tụng hình sự
ghi nhận quyền kháng cáo của bị cáo từ rất sớm và ngày càng được


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status