Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn quận long biên, thành phố hà nội - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

THÂN ĐÌNH TRUNG

TỘI CỐ Ý GÂY THƢƠNG TÍCH HOẶC GÂY TỔN HẠI CHO
SỨC KHỎE CỦA NGƢỜI KHÁC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN QUẬN LONG BIÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Trần Hữu Tráng

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu ghi
trong luận văn là trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được
công bố trong bất kỳ công trình nào khác.

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Thân Đình Trung




DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

CTTP

: Cấu thành tội phạm

TNHS

: Trách nhiệm hình sự

CQĐT

: Cơ quan điều tra

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân

VKSNDTC

: Viện kiểm sát nhân dân tối cao

sự phát triển của con người là nhiệm vụ quan trọng của mỗi quốc gia. Việt Nam là
một nước xã hội chủ nghĩa nên yếu tố con người càng được coi trọng bởi Nhà nước
ta là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Đặc biệt, bảo vệ con người trước hết là
bảo vệ sức khỏe và tính mạng là những tài sản vô giá của mỗi người. Hiến pháp
năm 2013 tại Điều 20 quy định “Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về thân thể,
được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm; không bị tra tấn, bạo
lực, truy bức, nhục hình hay bất kỳ hình thức đối xử nào khác xâm phạm thân thể,
sức khỏe, xúc phạm danh dự, nhân phẩm”. BLHS năm 1999 phần các tội phạm sau
chương 11 quy định các tội xâm phạm An ninh Quốc gia là Chương 12 quy định
các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người. Điều đó
thể hiện Nhà nước ta rất coi trọng và bảo vệ quyền con người.
Tuy vậy, những năm gần đây nhóm tội xâm phạm về tính mạng, sức khỏe có
xu hướng gia tăng trong đó tội cố ý gây thương tích đã trực tiếp xâm hại đến sức
khỏe con người, gây bất ổn cho xã hội, là tội phạm thường xuyên diễn ra và là mối
quan tâm nhức nhối của cả nước nói chung và trên địa bàn quận Long Biên, thành
phố Hà Nội nói riêng. Đặc biệt tình trạng thanh thiếu niên tụ tập gây mâu thuẩn để
đánh nhau, các mâu thuẫn trong tranh chấp làm ăn kinh tế, xung đột gia đình không
được giải quyết tốt…đã dẫn đến những hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức
khỏe của người khác, gây ra hậu quả rất lớn, tỷ lệ thương tích gây ra cho người bị
hại cũng rất cao, có trường hợp còn dẫn đến chết người. Gần đây, trên địa bàn còn
xuất hiện và ngày càng gia tăng việc các băng nhóm hoặc lôi kéo thêm người khác
vào cùng gây ra mâu thuẩn để tạo cớ đánh nhau hay trả thù cá nhân. Các đối tượng
thường sử dụng các thủ đoạn để tạo cớ đánh nhau hay trả thù cá nhân. Các đối

1


tượng thường sử dụng các loại hung khí nguy hiểm như mã tấu, dao, xà beng…để
gây thương tích cho người khác.
Trong thời gian qua các Cơ quan tiến hành tố quận Long Biên, thành phố Hà

phạm về thân thể, được pháp luật bảo hộ về sức khỏe, danh dự và nhân phẩm”
BLHS 1999 đã dành hẳn một chương quy định về các tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người trong đó có Tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Có nhiều tác giả quan tâm tới trách nhiệm
hình sự (TNHS) của tội phạm này như Nguyễn Ngọc Hàn, Trần Văn Độ; tác giả
Nguyễn Cường lại quan tâm đến lỗi cố ý, vấn đề khách thể trực tiếp của tội phạm;
các tác giả Vũ Lập Thành, Nguyễn Văn Sơn, Nguyễn Quốc Hội đã tiến hành nghiên
cứu về những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS…, có tác giả lại quan tâm dưới
góc độ tội phạm học như công trình nghiên cứu của tác giả Nguyễn Hữu Cầu “Đặc
điểm tội phạm học của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe của
người khác ở Việt Nam hiện nay và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa”
(Luận án Tiến sĩ Luật học viện cảnh sát nhân dân, Hà Nội 2002). Ngoài ra, các tác
giả như TS. Phùng Thế Vắc và TS. Trần Văn Luyện có công trình “bình luận khoa
học BLHS năm 1999” (phần các tội phạm) do Nxb Chính trị Quốc gia xuất bản
trong đó có đề cập đến tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác. TS. Phạm Văn Beo với “Luật hình sự Việt Nam” phân tích rất rõ các
dấu hiệu pháp lý và hình phạt của loại tội này. TS. Đinh Văn Quế có công trình
nghiên cứu là cuốn “Bình luận khoa học BLHS” (bình luận chuyên sâu) phần các tội
phạm tập I, do Nxb thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2002 đã đề cập đến tội
phạm này…Ngoài ra còn rất nhiều bài viết trên các tạp chí chuyên ngành Viện kiểm
sát nhân dân, Tòa án nhân dân, trên rất nhiều số đã đề cập nhiều về loại tội này trên
nhiều góc độ, nhiều khía cạnh khác nhau. Có thể kể ra một số bài viết tiêu biểu: Bài
viết “Phân biệt tội "Giết người" với tội "Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khoẻ của người khác" trong trường hợp dẫn đến chết người” của tác giả Nguyễn
Nông, đăng trên Tạp chí Kiểm sát, Số 21/2005, tr. 25 - 27; Bài viết “Phân biệt tội cố
ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái
tinh thần bị kích động mạnh với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng” của tác giả Phạm
Mạnh Hùng, đăng trên Tạp chí Kiểm sát, Số 23/2005, tr. 27 - 30; Bài viết “Vấn đề


định tội danh và quyết định hình phạt về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác trên địa bàn quận Long Biên

4


3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn tập trung thực hiện những nhiệm vụ
sau đây:
- Phân tích khái quát lịch sử hình thành; khái niệm và các dấu hiệu pháp lý
của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác;
- Phân biệt tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác với một số tội khác.
- Đánh giá thực tiễn định tội danh tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội và đề xuất một
số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Hình sự về định tội danh
tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
- Đánh giá thực tiễn quyết định hình phạt tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác tại quận Long Biên và đề xuất một số kiến
nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt
đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tác giả luận văn này lấy các quan điểm khoa học, các quy định của pháp luật
hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
cũng như thực tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trên địa bàn quận Long
Biên, thành phố Hà Nội để nghiên cứu các vấn đề lí luận và thực tiễn hoạt động áp
dụng pháp luật về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác trên địa bàn quận Long Biên.

góc độ pháp luật hình sự tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội vừa có ý nghĩa về mặt lí
luận, vừa có ý nghĩa về mặt thực tiễn như sau:
- Về lý luận: Luận văn góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật hình
sự có liên quan đến tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác, đồng thời góp phần hoàn thiện lí luận về định tội danh và quyết định
hình phạt đối với tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác.

6


- Về thực tiễn: Luận văn hoàn thành sẽ là tài liệu tham khảo quan trọng trong
thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng ở quận Long Biên nói riêng
và các cơ quan tiến hành tố tụng nói chung trong quá trình giải quyết các vụ án
phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Luận
văn sẽ góp phần tích cực trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan
tiến hành tố tụng của quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Luận văn cũng là tài liệu
tham khảo quan trọng dùng trong quá trình học tập và nghiên cứu của các cơ sở đào
tạo luật ở nước ta.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 3 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội cố ý gây thương tích
hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.
Chương 2: Áp dụng pháp luật về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác tại quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật đối với tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.


nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực TNHS thực
hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn
8


lãnh thổ Tổ quốc, xâm phậm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc
phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức,xâm
phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích
hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật
xã hội chủ nghĩa”
Trên cơ sở phân tích, đánh giá các định nghĩa khác nhau về tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác và khái niệm về tội phạm
có thể đưa ra định nghĩa về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác như sau: “Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác là hành vi của người đạt độ tuổi luật định có năng lực TNHS đã cố
ý thực hiện hành vi gây ra thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác một cách trái pháp luật xâm phạm quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe của
con người được quy định tại Điều 104 BLHS 1999”
Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thực
chất là hai tội được quy định trong cùng một điều luật, tuy nhiên do hành vi và hậu
quả của chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau cho nên hai loại tội này được các nhà
làm luật xếp vào cùng một điều luật – đó là tội cố ý gây thương tích cho người khác
và tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Như vậy, có thể hiểu “ tội cố ý
gây thương tích” có dấu hiệu bắt buộc là phải có hậu quả thương tích, là vết thương
để lại trên cơ thể con người; tội cố ý gây tổn hại cho sức khỏe của người khác phải
có hậu quả xảy ra làm tổn hại các chức năng, bộ phận trên cơ thể của con người ( ví
dụ: làm rối loạn hệ tuần hoàn, rối loạn tiêu hóa…)[1, Tr.128]
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại
cho sức khỏe của người khác
Việc nghiên cứu các dấu hiệu pháp lý của tội phạm cụ thể đóng vai trò quan

hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là vô cùng quan trọng. Bởi lẽ nếu hành
vi tác động vào đối tượng không phải con người, không phải người còn sống thì
không xâm phạm quyền được bảo vệ về sức khỏe nên sẽ không phạm tội cố ý gây
thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác; hoặc có trường hợp, một
cá nhân nào nó tự gây ra thương tích cho chính mình vì một lý do nào đó thì không
thuộc đối tượng điều chỉnh của Điều 104 BLHS 1999.[56; Tr.33, 34]

10


1.1.2.2. Mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho
sức khỏe của người khác
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm những
biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách quan mà con
người bằng trực quan sinh động có thể nhận biết. Đó là các dấu hiệu: hành vi nguy
hiểm cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
nguy hiểm cho xã hội và hậu quả nguy hiểm cho xã hội; phương tiện, công cụ, thời
gian, hoàn cảnh, địa điểm phạm tội.[56; Tr.27,28]
Trong mặt khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác, hành vi khách quan là dấu hiệu cơ bản và quan trọng nhất.
Các dấu hiệu khác thuộc mặt khách quan như: hậu quả, mối quan hệ nhân quả công
cụ phương tiện phạm tội…chỉ có ý nghĩa khi có hành vi khách quan. Hay nói cách
khác, không thể truy cứu TNHS đối với người không thực hiện hành vi khách quan.
Hành vi khách quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của
người khác là những biểu hiện của con người ra bên ngoài thế giới khách quan dưới
hình thức cụ thể, có sự kiểm soát của lý trí và điều khiển bởi ý chí. Những hành vi
tuy được biểu hiện ra bên ngoài thế giới khách quan nhưng không được ý thức kiểm
soát hoặc tuy được ý thức kiểm soát nhưng không được ý chí điều khiển thì cũng
không phải là hành vi khách quan của tội phạm. Hành vi khách quan của tội cố ý
gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác có thể được thực

lao động vĩnh viễn dựa trên kết quả của giám định pháp y, nhưng trong trường hợp
cần thiết có thể dựa trên kết luận của bác sỹ điều trị khi tiếp nhận bệnh nhân. Về
thực tiễn, nếu tỷ lệ thương tật dưới 11% không gây cố tật thì được coi là thương tích
nhẹ, chưa phải chịu TNHS. Nếu tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên là tỷ lệ cần thiết để
truy cứu TNHS. Tuy nhiên, có một số trường hợp tỷ lệ thương tật không đến 11%
nhưng lại thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1
Điều 104 BLHS 1999 thì hành vi đó vẫn bị truy cứu TNHS. Như vậy, hành vi gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên hoặc dưới
11% nhưng thuộc các trường hợp sau thì cũng phạm tội:
a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hiểm cho nhiều
người

12


* Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 của
Hội đồng Thẩm phán TANDTC thì: “Dùng hung khí nguy hiểm” quy định tại điểm
a khoản 1 Điều 104 của BLHS là trường hợp dùng vũ khí hoặc phương tiện nguy
hiểm theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số
02/2003/NQ-HĐTP ngày 17/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối
cao để cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác.
Theo hướng dẫn tại các tiểu mục 2.1 và 2.2 mục 2 Phần I Nghị quyết số
02/2003/NQ-HĐTP thì:
- "Vũ khí" là một trong các loại vũ khí được quy định tại khoản 1 Điều 1 Quy
chế quản lý vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ (ban hành kèm theo Nghị định số
47/CP ngày 12/8/1996 của Chính phủ). Theo đó, vũ khí bao gồm vũ khí quân dụng,
vũ khí thể thao, súngsăn và vũ khí thô sơ (như dao găm, kiếm, giáo, mác…)
- "Phương tiện nguy hiểm" là công cụ, dụng cụ được chế tạo ra nhằm phục
vụ cho cuộc sống của con người (trong sản xuất, trong sinh hoạt) hoặc vật mà người
phạm tội chế tạo ra nhằm làm phương tiện thực hiện tội phạm hoặc vật có sẵn trong

những người cùng thực hiện tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác. Sự cấu kết chặt chẽ giữa những người thực hiện tội phạm thể hiện mức độ liên
kết, mức độ phân hóa vai trò, nhiệm vụ cụ thể của từng người.
g) Phạm tội trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng
biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục
Người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả
tang người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối
với họ đã có quyết định tạm giữ.
Người bị tạm giam là bị can, bị cáo, bị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ra
quyết định áp dụng biện pháp tạm giam.
Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng áp dụng đối với người chưa thành niên
phạm tội là biện pháp do Tòa án quyết định, áp dụng đối với người chưa thành niên
từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội, nếu thấy không cần thiết áp dụng hình phạt
với họ, nhưng do tính chất của hành vi phạm tội, do nhân thân và môi trường sống
của người đó mà cần đưa người đó vào trường giáo dưỡng. Như vậy, có thể thấy
những người bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện
pháp đưa vào cơ sở giáo dục là những người đang bị áp dụng biện pháp đặc biệt để
quản lý họ, tuy nhiên họ vẫn tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội CYGTT hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của người khác. Đây chính là lí do để tăng nặng TNHS đối với
những người này.
h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê:

16


Gây thương tích thuê là trường hợp người phạm tội vì lợi ích vật chất thấp
hèn, mặc dù có thể không mâu thuẫn, thù hằn gì với nạn nhân, mà vẫn thực hiện
hành vi CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác. Hành vi này thể
hiện nhu cầu vật chất thấp hèn, thể hiện sự suy đồi về nhân cách, đạo đức đáng bị xã
hội lên án.

gây thương tích cho cán bộ thuế đang thu thuế làm cho họ không thu được thuế.v.v.
Nếu người phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người đang thi
hành công vụ nhưng vì động cơ khác không phải để cản trở người thi hành công vụ
thực hiện nhiệm vụ được giao thì tùy từng trường hợp mà người phạm tội bị truy
cứu TNHS các tội danh khác nhau.
1.1.2.3. Chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác
Chủ thể của tội phạm theo luật hình sự Việt Nam hiện hành chỉ có thể là con
người cụ thể. BLHS 2015 đã quy định pháp nhân thương mại có thể là chủ thể của
tội phạm. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 76 BLHS 2015 thì pháp nhân thương
mại không thể là chủ thể của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe
của người khác (quy định tại Điều 134 BLHS 2015)
Chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS đạt độ tuổi nhất định và đã
thực hiện hành vi phạm tội cụ thể. Khi thực hiện hành vi phạm tội chủ thể có khả
năng nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội về hành vi của mình và có khả
năng điều khiển được hành vi ấy. Theo Điều 12 BLHS năm 1999 thì: “Người từ đủ
16 tuổi trở lên phải chịu TNHS về mọi tội phạm”. “Người từ đủ 14 tuổi trở lên,
nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu TNHS về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc
tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.”
Điều 13 BLHS 1999 quy định tình trạng không có năng lực TNHS tại khoản
1 quy định: “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc các
bênh tâm thần hoặc một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng
điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu TNHS. Đối với những người này
phải áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh…”
Như vậy theo quy định của BLHS 1999 thì chủ thể của tội “Cố ý gây thương
tích” là một người có đủ năng lực chịu TNHS và phải đạt độ tuổi nhất định mà xâm
phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật. Những người từ đủ 14

18


19


d- Nếu không xác định được nửa năm nào, quý nào, tháng nào trong năm thì
lấy ngày 31 tháng 12 của năm đó làm ngày sinh của bị can, bị cáo để xem xét trách
nhiệm hình sự đối với bị can, bị cáo”
Tác giả cho rằng quy định này là phù hợp và khoa học đảm bảo nguyên tắc
có lợi cho người bị can bị cáo.
1.1.2.4. Mặt chủ quan của tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức
khỏe của người khác:
Tội phạm là một thể thống nhất của hai mặt khách quan và chủ quan. Mặt
khách quan là những biểu hiện bên ngoài của tội phạm, mặt chủ quan là hoạt động
tâm lý bên trong của người phạm tội. [56; Tr 152]
Mặt chủ quan của tội CYGTT bao gồm: Lỗi, động cơ và mục đích phạm tội.
Trong khoa học Luật hình sự, có nhiều cách định nghĩa khác nhau về lỗi.
Theo GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa thì “Người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội
bị coi là có lỗi nếu khi thực hiện nhận thức được hoặc có đủ điều kiện để nhận thức
được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và có đủ điều kiện lựa chọn, thực hiện
hành vi khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội” [8; tr.91, 92]
Người phạm tội CYGTT hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác chỉ
bị coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của chính họ, họ tự ý
thức và kiểm soát hành vi của mình, trong khi họ có đủ điều kiện khách quan và chủ
quan để lựa chọn và thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội (tức là có
đủ điều kiện lựa chọn xử sự không thương tích hoặc tổn hại cho sức khỏe của người
khác). Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác luôn
được thực hiện với lỗi cố ý, có thể là cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp.
Muốn xác định đúng lỗi của người phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây
tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân là cố ý hay vô ý, thì cần làm sáng tỏ hai vấn đề:
1) Người phạm tội có thấy trước hậu quả nguy hiểm do hành vi của mình
gây ra không;


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status