Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức trong pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh tt - Pdf 45

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

BÙI TRƢỜNG GIANG

TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN,
TỔ CHỨC THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành : Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số : 60.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


Công trình được hoàn thành tại: Học viện khoa học xã hội
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa

Phản biện 1: PGS.TS Trần Đình Nhã
Phản biện 2: TS Phan Anh Tuấn

Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học viện khoa học xã hội lúc 07 giờ 30 ngày 12 tháng 10
năm 2017

Có thể tìm hiểu luận văn tại: Thư viện khoa học xã hội




cho Thành phố Hồ Chí Minh, các hoạt động kinh tế chủ yếu là
thương mại dịch vụ, do vậy, Quận 1 cũng là nơi phát hiện và xét xử
nhiều vụ án hình sự liên quan đến tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ
quan, tổ chức. Do vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Tội làm giả con dấu,
tài liệu của cơ quan, tổ chức trong pháp luật hình sự Việt Nam từ
thực tiễn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh” làm luận văn Thạc sỹ
Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, có rất ít bài viết, luận văn viết và
nghiên cứu về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức như:
Luận văn thạc sỹ “Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
trong Luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn địa bàn
tỉnh Phú Thọ) của Hoàng Văn Bắc, GS.TS Đỗ Ngọc Quang hướng
dẫn năm 2015; bài viết “những nhức nhói nạn làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức” của tác giả Nguyễn Văn Phong đăng trên
Báo sức khỏe và đời sống….Bình luận khoa học BLHS của Tiến sĩ
Trần Minh Hưởng (Học viện Cảnh sát nhân dân) và giáo trình Luật
Hình sự Việt Nam (Phần chung; phần các tội phạm – Quyển 2) của
Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh cũng nêu về Tội phạm
này.
Ở góc độ nhất định, Luận văn đã nêu đề cập đến các khía
cạnh khác nhau về thực trạng và việc thực hiện pháp luật trong công
tác xét xử các vụ án hình sự liên quan đến tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức ở trong lĩnh vực, địa phương khác nhau và
có những nhận định và giải pháp hoàn thiện pháp luật về tội làm giả
con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, với đặc thù là đô
thị lớn, trung tâm kinh tế như Quận 1 thì chưa có đề tài nghiên cứu

2

3


của pháp luật về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Phạm vi nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu trong phạm vi lý luận về tội làm giả
con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức dưới góc độ luật hình sự gắn
với thực tiễn hoạt động xét xử tại Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
từ năm 2012 đến tháng 4 năm 2016.
Các số liệu thống kê trong Luận văn được thu thập tại Cục
thống kê, TAND tối cao, các báo cáo giám sát của Quốc Hội, TAND
Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Điều tra – Tổng hợp, Đội Cảnh sát
Kinh tế Công an Quận 1, VKSND Quận 1, TAND Quận 1.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu.
Phương pháp luận
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của
chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của
Đảng về Nhà nước và Pháp luật về tội làm giả con dấu, tài liệu của
cơ quan, tổ chức.
Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp chung là
phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa
Mác – Lênin. Trên cơ sở đó, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên
cứu như: phương pháp phân tích, tổng hợp (được tác giả sử dụng
xuyên suốt luận văn để thực hiện tất cả các nhiệm vụ nghiên cứu);
phương pháp thống kê, so sánh và nghiên cứu án điển hình (được sử
dụng để giải quyết, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật và kiến nghị
hoàn thiện pháp luật).
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn.

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU
CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC
1.1. Những khái niệm cơ bản.
1.1.1 Khái niệm con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
1.1.1.1 Khái niệm con dấu của cơ quan, tổ chức
Theo từ điển Bách khoa Công an nhân dân: “Con dấu là
vật làm bằng gỗ, kim loại, cao su…mặt dưới hình tròn hoặc hình
vuông, hoặc hình chữ nhật…theo những kích cỡ nhất định, có khắc
chữ hoặc hình, được dùng in trên giấy tờ để làm bằng, làm tin trong
quan hệ giao dịch giữa các cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị vũ tang và
tổ chức kinh tế, xã hội. Con dấu được quản lý chặt chẽ từ việc khắc
đến việc sử dụng. Ở Việt Nam, con dấu được sử dụng trong các cơ
quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức
xã hội – nghề nghiệp, hội quần chúng, tổ chức kinh tế, đơn vị vũ
trang, cơ quan, tổ chức nước ngoài hoạt động tại Việt Nam và một số
chức danh nhà nước”.
1.1.1.2. Khái niệm về tài liệu của cơ quan, tổ chức
Hiện nay, theo quy định tại Luật lưu trữ số 01/2011/QH13
ngày 11/11/2011 của Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam về lưu trữ. Tài liệu “là vật mang tin được hình thành trong quá
trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm văn bản, dự
án, bản vẽ thiết kế, bản đồ, công trình nghiên cứu, sổ sách, biểu
thống kê; âm bản, dương bản phim, ảnh, vi phim; băng, đĩa ghi âm,
ghi hình; tài liệu điện tử; bản thảo tác phẩm văn học, nghệ thuật; sổ
công tác, nhật ký, hồi ký, bút tích, tài liệu viết tay; tranh vẽ hoặc in;
ấn phẩm và vật mang tin khác”.
6




hoạt động bình thường của các cơ quan, tổ chức trong lĩnh vực quản
lý hành chính của Nhà nước về con dấu và các loại tài liệu.
Mặt khách quan của tội phạm
Đối với tội danh này, mặt khách quan bao gồm hành vi
khách quan đó là hành vi làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức hoặc hành vi sử dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ giả nhằm lừa dối
cơ quan, tổ chức, công dân.
Mặt chủ quan của tội phạm
Lỗi của chủ thể thực hiện hành vi phạm tội là lỗi cố ý trực
tiếp. người phạm tội nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm
cho xã hội và mong muốn thực hiện hành vi đó. Mục đích “nhằm lừa
dối cơ quan, tổ chức hoặc công dân”.
Chủ thể của tội phạm
Căn cứ vào mức chế tài quy định tại Điều 267 Bộ luật hình
sự năm 1999 cho thấy: mức độ nghiêm trọng của tội phạm chỉ dừng
lại ở tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng. Do đó, chủ
thể của tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức là người từ
đủ 16 tuổi trở lên, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự theo quy
định của Bộ luật hình sự. Người thực hiện hành vi này không cần
những dấu hiệu đặc biệt, vì vậy chủ thể của tội phạm không phải là
chủ thể đặc biệt.
1.2.2. Các dấu hiệu định khung hình phạt
* Định khung hình phạt theo CTTP cơ bản:
Khung hình phạt cơ bản của tội làm giả con dấu, tài liệu của
cơ quan, tổ chức được quy định tại Khoản 1, Điều 267 BLHS năm
1999. Hình phạt đối với người phạm tội theo CTTP cơ bản này là
“phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc bị phạt
tù từ sáu tháng đến ba năm”.

9


năm mươi triệu đồng”. Như vậy, hình phạt tiền được áp dụng trong
Điều luật vừa là hình phạt chính vừa là hình phạt bổ sung.
1.3 Phân biệt tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức với một số tội danh khác.
1.3.1 Phân biệt tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức với tội sửa chữa, sử dụng giấy chứng nhận và tài liệu của cơ
quan nhà nước.
1.3.2. Phân biệt với tội giả mạo trong công tác
1.3.3. Phân biệt với tội giả mạo chức vụ, cấp bậc
1.4 Những điểm mới của BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ
sung năm 2017) về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ
chức
Tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, BLHS
năm 2015 đã có một số nội dung sửa đổi, bổ sung như sau:
Thứ nhất, tên điều luật “tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ
quan, tổ chức” tại Điều 267 BLHS năm 1999 chưa bao hàm hết nội
dung trong Điều luật. Bởi lẽ, trong nội dung điều luật, ngoài hành vi
làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức, người có hành vi sử
dụng con dấu, tài liệu, giấy tờ (giả) đó nhằm lừa dối cơ quan, tổ chức
hoặc công dân cũng trở thành hành vi phạm tội của tội này. Do đó,
BLHS 2015 đã sửa tên điều luật thành “Tội làm giả con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu giả, tài liệu giả của cơ
quan tổ chức” (Điều 341). Như vậy, tên điều luật đã bao hàm và
chứa đựng đầy đủ nội dung của điều luật.
Thứ hai, về nội dung điều luật. So với quy đinh trong BLHS
năm 1999, BLHS năm 2015 chỉ ra dấu hiệu “sử dụng con dấu, tài
liệu, giấy tờ đó thực hiện hành vi trái pháp luật”, như vậy, hành vi

sở để định khung hình phạt.

11


Các dấu hiệu tăng nặng trong BLHS được giữ nguyên trong
BLHS năm 2015 gồm:
- Có tổ chức;
- Tái phạm nguy hiểm.
Các dấu hiệu tăng nặng khác đã được chỉ rõ và được nêu cụ
thể so với quy định trong BLHS năm 1999 hoặc đã được bổ sung
thêm cho phù hợp với thực tế diễn biến của tội phạm này, cụ thể,
trong BLHS năm 2015 quy định tình tiết tăng nặng định khung hình
phạt:
Khoản 2:
“b) Phạm tội 02 lần trở lên”: BLHS năm 2015 đã chỉ ra cụ
thể, rõ hơn so với quy định “phạm tội nhiều lần” trong BLHS năm
1999. Với quy định này, cơ quan THTT dễ dàng xác ĐTD và QĐHP
hơn so với quy định về “phạm tội nhiều lần” trong BLHS năm 1999.
“c) Làm từ 02 đến 05 con dấu, tài liệu hoặc giấy tờ khác”:
Đây là quy định mới so với BLHS năm 1999, theo đó, người phạm
tội thực hiện từ 02 hành vi phạm tội làm giả trở lên đến 05 hành vi
làm giả là thuộc tình tiết này. Đây là quy định cần thiết để làm rõ
hơn, cụ thể hơn so với quy định “phạm tội nhiều lần”. Ví dụ, tội
phạm thực hiện làm giả 4 con dấu cùng một lúc. Nếu chiếu theo
BLHS năm 1999, đây chưa chắc đã là “phạm tội nhiều lần”, nhưng
rõ ràng, làm nhiều con dấu, tài liệu giả là hành vi nguy hiểm cho xã
hội, mức độ phạm tội cao hơn, thiệt hại gây ra có thể lớn hơn so với
làm 1 con dấu, tài liệu giả. Do đó, BLHS năm 2015 đưa nội dung
trên là tình tiết tăng nặng là hợp lý.


Chƣơng 2
ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT ĐỊNH HÌNH PHẠT VỀ TỘI
LÀM GIẢ CON DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC
TẠI QUẬN 1, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
2.1. Định tội danh tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ
quan, tổ chức
2. 1.1. Lý luận về định tội danh tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh: “ĐTD là hoạt động áp dụng
pháp luật hình sự bao gồm việc tiến hành đồng thời 3 quá trình:
1. Xác định đúng, khách quan các tình tiết thực tế của vụ án;
2. Nhận thức đúng nội dung của các quy định trong BLHS;
3. Lựa chọn đúng QPPL hình sự tương ứng để đối chiếu
chính xác, đầy đủ các dấu hiệu CTTP được quy định trong quy phạm
đó với các tình tiết của hành vi được thực hiện trong thực tế, trên cơ
sở đó đưa ra kết luận có cơ sở, có căn cứ về sự đồng nhất giữa hành
vi thực tế đã được thực hiện với CTTP được quy định trong điều
hoặc khoản cuả điều luật tương ứng. Kết luận đó được trình bày
dưới dạng văn bản áp dụng pháp luật”.
2.1.2. Thực tiễn định tội danh tội làm giả con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức
2.1.2.1. Thực tiễn định tội danh tội làm giả con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức
Nghiên cứu các vụ án hình sự liên quan đến tội làm giả con
dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức trên địa bàn Quận 1 thành phố Hồ
Chí Minh cho thấy, trong những năm qua, việc định tội danh tội làm
giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức được thực hiện theo đúng
14




có hai người trở lên cùng thực hiện một tội phạm”. Như vậy, tình tiết
tăng nặng “tội phạm có tổ chức”: có thể được hiểu là trường hợp có
hai người cấu kết chặt chẽ để cùng thực hiện làm giả con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức”. Do đó, trong trường hợp này, Đức và Hùng đã
“phạm tội có tổ chức”.
2.2. Quyết định hình phạt đối với tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức
2.2.1. Lý luận về quyết định hình phạt đối với tội làm giả
con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
Dưới góc độ luật hình sự, có thể định nghĩa quyết định hình
phạt như sau: “Quyết định hình phạt là sự lựa chọn loại hình phạt và
xác định mức hình phạt cụ thể trong phạm vi luật định để áp dụng
đối với người phạm tội cụ thể”.
Theo quy định tai Điều 26 BLHS năm 1999 quy định “Hình
phạt là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước nhằm
tước bỏ hoặc hạn chế quyền, lợi ích của người phạm tội. Hình phạt
được quy định trong BLHS và do Tòa án quyết định”.
2.2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội làm giả
con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức trên địa bàn Quận 1 thành
phố Hồ Chí Minh
2.2.2.1. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội làm giả
con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức trên địa bàn Quận 1 thành phố
Hồ Chí Minh
Đa số các vụ án về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan,
tổ chức trên địa Quận 1 được phát hiện do người phạm tội sử dụng
các giấy tờ giả để tham gia các quan hệ dân sự, giá trị không lớn, khi
bị phát hiện, người phạm tội thành khẩn khai báo nên việc xác minh,
tìm ra sự thật của vụ án được tiến hành nhanh, kịp thời, bị cáo có tình

nhiên, nghiên cứu các vụ án hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu
17


của cơ quan, tổ chức trên địa bàn Quận 1, thành phố Hồ Chí Minh
cho thấy, đa số các vụ án được đưa ra xét xử thường rơi vào khoản 1
Điều 267, một số trường hợp áp dụng khoản 2 Điều 267 (có tình tiết
tăng nặng), mức phạt tuyên cho các bị cáo thường là „án treo‟ hoặc tù
có thời hạn cũng rất thấp. So với hậu quả tội phạm gây ra cho xã hội,
thì mức phạt này là rất nhẹ, không đủ tính răn đe và phòng ngừa tội
phạm.
Kết luận chƣơng 2

18


Chƣơng 3
CÁC GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ĐỊNH TỘI DANH VÀ QUYẾT
ĐỊNH HÌNH PHẠT ĐÚNG ĐỐI VỚI TỘI LÀM GIẢ CON
DẤU, TÀI LIỆU CỦA CƠ QUAN, TỔ CHỨC; CÁC KIẾN
NGHỊ
3.1 Các giải pháp
1. Ban hành văn bản hướng dẫn xác ĐTD, cần thiết thì ban
hành án lệ để thống nhất xét xử đối với tội làm giả con dấu, tài liệu
của cơ quan, tổ chức. Thực tiễn qua các bản án của TAND Quận 1
các cơ quan THTT xác ĐTD chưa tương xứng (hoặc không đúng)
với hành vi phạm tội của bị cáo, có trường hợp bị cáo chỉ thực hiện
hành vi “sử dụng tài liệu giả” nhưng bản án lại kết luận bị cáo phạm
tội “làm giả tài liệu, con dấu của cơ quan, tổ chức” nghĩa rằng đã
“gom chung” toàn bộ tên điều luật vào hành vi phạm tội của bị cáo,

luận về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức là một đòi
hỏi khách quan trong quá trình nâng cao hiệu quả công tác xét xử nói
chung, công tác xét xử các vụ án hình sự về tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức nói riêng. Hiện nay, dù rằng định kỳ, các
cơ quan THTT có tiến hành đánh giá thực tiễn xét xử, tuy nhiên hiệu
quả đem lại chưa cao, các buổi đánh giá chưa đi sâu vào phân tích
việc ĐTD và QĐHP đối với các vụ án liên quan đến tội làm giả con
dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức, nhìn lại các bản án mà 5 năm qua
TAND Quận 1 xét xử vẫn còn rất nhiều bản án ĐTD và tuyên án
chưa tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Nâng cao ý thức pháp luật
(1) Tuyên truyền, phổ biến pháp luật cho người dân.
(2) Nâng cao ý thức của người dân về tố giác tội phạm.

20


(3) Nâng cao ý thức pháp luật cho đội ngũ cán bộ, công
chức.
Tăng cường phối hợp giữa các cơ quan THTT với các cơ
quan, tổ chức khác.
Thực tế cho thấy, trong một số trường hợp nhất định, khi
tiến hành điều tra và xử lý vụ án, Cơ quan cảnh sát điều tra vẫn chưa
thực hiện tốt mối quan hệ với Viện kiểm sát, chưa nghiêm túc thực
hiện đúng quy trình tiếp nhận, xử lý tố giác, tin báo về tội phạm, có
những vụ việc CQĐT phân công cán bộ thụ lý giải quyết nhưng
không gửi đến Viện kiểm sát để thực hiện hoạt động kiểm sát. Đối
với Viện kiểm sát thực hiện hoạt động kiểm sát còn mang tính hình
thức, bị động, dừng lại ở việc lấy số liệu và kết quả giải quyết.
Kết luận chƣơng 3

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, tác giả nhận
được sự giúp đỡ, hướng dẫn, giảng dạy của quý thầy cô Học viện
22


Khoa học xã hội – Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, sự giúp
đỡ của cơ quan, các ý kiến góp ý của bạn bè, đồng nghiệp,đã giúp tác
giả hoàn thành Luận văn Thạc sỹ với đề tài “Tội làm giả con dấu, tài
liệu của cơ quan, tổ chức trong pháp luật Việt Nam từ thực tiễn Quận
1, Thành phố Hồ Chí Minh”.
Để hoàn thành luận văn thạc sỹ này, tác giả xin được gửi
lời cảm ơn sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Thị Phương Hoa đã tận tình
hướng dẫn và giúp đỡ tác giả trong quá trình học tập và nghiên cứu,
hoàn thiện luận văn này./.

23



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status