MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các tội xâm phạm sở hữu nói chung, các tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt tài sản (sau đây chúng tôi gọi là các tội chiếm đoạt
tài sản) nói riêng là một trong những nhóm tội được quy định sớm
nhất trong pháp luật hình sự nước ta. Bộ luật hình sự 1985 (với 4 lần
sửa đổi) và Bộ luật hình sự hiện hành năm 1999 sửa đổi bổ sung năm
2009 đã quy định tương đối đầy đủ cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho việc
xử lý các hành vi xâm phạm sở hữu. Tuy nhiên, do thiếu thống nhất
về lý luận, nên trong hoạt động lập pháp hình sự, trong thực tiễn điều
tra, truy tố, xét xử về định tội danh, áp dụng hình phạt còn gặp nhiều
bất cập, vướng mắc cần được nghiên cứu, giải quyết.
Trải qua hơn 30 năm đổi mới, bên cạnh những thành tựu đã đạt
được, vẫn còn tồn tại những biểu hiện tiêu cực do mặt trái của cơ chế
thị trường mang lại như sự phân hóa giàu nghèo, các tệ nạn xã hội gia
tăng là cơ sở phát sinh các loại tội trong đó có tội trộm cắp tài sản, tội
cướp tài sản, tội cướp giật tài sản, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản, lừa đảo chiếm đoạt tài sản… những loại tội này xảy ra khá
phổ biến và phức tạp, với tính chất, mức độ ngày càng nguy hiểm, đã
gây ra những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Mặc dù, Đảng và Nhà
nước ta đã có những bước tiến mới trong công cuộc phòng, chống tội
phạm, nhưng tình hình các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
vẫn có chiều hướng gia tăng về mức độ và nghiêm trọng về tính chất.
Quân khu 5 quản lý địa bàn 11 tỉnh, thành phố, gồm: Thành
phố Đà Nẵng, các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú
Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Đăk Lăk, Đăk Nông, Gia Lai, Kon
1
Tum. Tình hình các tội xâm phạm sở hữu thuộc thẩm quyền giải
quyết của các cơ quan pháp luật trong Quân đội cũng diễn biến phức
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn ADPL hình sự về
các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo BLHS Việt Nam
năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009 của Tòa án quân sự 2 cấp
Quân khu 5, đưa ra các giải pháp đảm bảo áp dụng đúng đắn BLHS
về loại tội phạm này ở nước ta.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận văn đề ra các nhiệm vụ
cụ thể cần giải quyết như sau:
- Khái quát những vấn đề lý luận; phân tích làm sáng tỏ
những dấu hiệu pháp lý của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt quy định tại Chương XIV, BLHS Việt Nam năm 1999, được sửa
đổi bổ sung năm 2009.
- Khái quát quá trình lập pháp hình sự về các tội xâm phạm
sở hữu giai đoạn từ năm 1945 đến BLHS năm 2015.
- Phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng các quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5.
- Đưa ra các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng đắn các quy
định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt ở
nước ta.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các vấn đề lý luận,
quy định của BLHS về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đọat
và thực tiễn xét xử của Tòa án quân sự 2 cấp Quân khu 5 về các tội
phạm này.
3
5, từ đó đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả ADPL hình sự để xử
lý các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, góp phần vào công
tác đấu tranh phòng, chống loại tội phạm này trên địa bàn Quân khu
5 nói riêng và các địa phương khác nói chung trong thời gian tới.
7. Cơ cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục các tài liệu tham
khảo, danh mục các chữ viết tắt và danh mục các bảng biểu, Luận
văn có kết cấu gồm 03 chương, cụ thể như sau:
Chương 1: Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý chung của các tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt theo pháp luật hình sự Việt
Nam.
Chương 2: Thực trạng pháp luật về các tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt và thực tiễn áp dụng ở các Tòa án quân sự Quân
khu 5.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và các giải pháp bảo đảm áp
dụng pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt.
5
CHƯƠNG 1
KHÁI NIỆM, CÁC DẤU HIỆU PHÁP LÝ CHUNG CỦA CÁC
TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT THEO
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt là những
tội xâm phạm sở hữu bằng việc chiếm đoạt nên trong cấu thành tội
Mặt khách quan của các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt thể hiện các yếu tố bên ngoài của tội phạm, bao gồm các dấu
hiệu: 1/ Hành vi khách quan của tội phạm; 2/ hậu quả tội phạm và 3/
mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả đó.
Dựa trên tính chất hành vi khách quan của tội phạm, có thể
chia các tội xâm phạm sở hữu thành ba nhóm là: 1/ Các tội có tính
chiếm đoạt; 2/ các tội có mục đích tư lợi không chiếm đoạt và 3/ các
tội gây thiệt hại đến tài sản.
Nhóm các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt gồm các
tội được quy định từ Điều 133 đến 140 Bộ luật hình sự. Mỗi tội
chiếm đoạt tài sản được đặc trưng bởi một thủ đoạn riêng biệt. Cụ thể
là:
- Thủ đoạn của tội cướp tài sản là dùng vũ lực, đe doạ dùng
ngay tức khắc vũ lực hoặc thủ đoạn khác làm cho người bị tấn công
lâm vào tình trạng không thể chống cự được;
- Thủ đoạn của tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản là bắt
người khác làm con tin;
- Thủ đoạn của tội cưỡng đoạt tài sản là đe doạ sẽ dùng vũ
lực hoặt thủ đoạn khác gây áp lực về tâm lý;
7
- Thủ đoạn của tội cướp giật tài sản là tiếp cận, chiếm giữ tài
sản đang có sự quản lý trực tiếp của người khác và nhanh chóng tẩu
thoát;
- Thủ đoạn của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là lợi dụng
sự quản lý tài sản của người khác đang gặp sự trở ngại khách quan để
chiếm đoạt tài sản;
- Thủ đoạn của tội trộm cắp tài sản là lén lút chiếm đoạt tài
phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.
Bộ luật hình sự năm 2015 đã thu hẹp phạm vi trách nhiệm
hình sự của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Theo quy định của
Điều 12 (được sửa đổi, bổ sung 2017), người từ đủ 14 tuổi đến dưới
16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về các tội cướp tài sản
(Điều 168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều
169), tội cưỡng đoạt tài sản (khoản 2, 3, 4 Điều 170), tội cướp giật tài
sản (khoản 2, 3, 4 Điều 171), tội trộm cắp tài sản (khoản 3, 4 Điều
173).
1.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là
thái độ tâm lý của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã
hội do họ thực hiện và với hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội
hoặc đối với khả năng gây ra hậu quả đó.
Mặt chủ quan của mọi tội phạm bao gồm lỗi, động cơ, mục
đích. Tuy nhiên yếu tố lỗi là dấu hiệu bắt buộc đối với mọi tội phạm,
còn động cơ, mục đích chỉ là yếu tố bắt buộc đối với một số tội
phạm.
Lỗi bao gồm hai yếu tố cấu thành, đó là: Lý trí (thể hiện khả
năng nhận thức của chủ thể) và ý chí (thể hiện khả năng điều khiển
hành vi của chủ thể), căn cứ vào hai yếu tố đó người ta chia lỗi thành
hai loại, đó là: Lỗi cố ý (Cố ý trực tiếp, cố ý gián tiếp) và lỗi vô ý (Vô
9
ý vì quá tự tin, vô ý vì cẩu thả).
Các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt quy định từ
Điều 133 đến Điều 140 Bộ luật hình sự được thực hiện với lỗi cố ý.
1.3. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam về các
tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
người phạm tội) và chúng còn nằm trong sự chiếm hữu, quản lí của
chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản.
- Về hành vi khách quan thuộc mặt khách quan của tội phạm:
Hành vi phạm tội được thực hiện chủ yếu bằng hành động; chỉ có tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được thực hiện bằng không
hành động . Các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt có
hành vi khách quan khác nhau. Đó có thể là hành vi dùng vũ lực, đe
doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người
bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (đối với tội
11
cướp tài sản); hành vi bắt cóc con tin và hành vi đe dọa chủ tài sản
(đối với tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); hành vi đe doạ sẽ dùng
vũ lực hoặc hành vi uy hiếp tinh thần người khác (đối với tội cưỡng
đoạt tài sản); hành vi chiếm đoạt (đối với các tội cướp giật tài sản,
công nhiên chiếm đoạt tài sản, trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt
tài sản). Tuy nhiên, thủ đoạn, cách thức thực hiện hành vi và điều
kiện khi thực hiện hành vi là khác nhau. Cụ thể, đối với tội Cướp giật
tài sản, dấu hiệu công khai là thuộc tính của hành vi chiếm đoạt và
dấu hiệu nhanh chóng phản ánh thủ đoạn của người phạm tội; đối với
tội Công nhiên chiếm đoạt tài sản, đó là dấu hiệu công nhiên (tính
công khai của hành vi chiếm đoạt) và hoàn cảnh, điều kiện tự nhiên
mà hành vi chiếm đoạt được thực hiện (chủ tài sản không có điều
kiện ngăn cản cho dù người phạm tội không hề sử dụng thủ đoạn
nào); đối với Trộm cắp tài sản, đó là thủ đoạn lén lút của người phạm
tội khi thực hiện hành vi chiếm đoạt; đối với Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản, đó là thủ đoạn gian dối được thực hiện trước khi hành vi chiếm
đoạt được thực hiện.
Thủ đoạn phạm tội là cách thức (lén lút, công khai, dùng vũ
2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt
2.2.1. Tình hình thụ lý, giải quyết các vụ án của Tòa án quân
sự Quân khu 5
Trong giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016, Tòa án quân sự
Quân khu 5 đã thụ lý 190 vụ với 353 bị can và đã xét xử 185 vụ với
344 bị cáo. Việc giải quyết các vụ án hình sự của Tòa án quân sự
Quân khu 5 đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để
lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Tỷ lệ án bị kháng cáo,
kháng nghị thấp trong tổng số vụ án hình sự đã đưa ra xét xử sơ
thẩm. Trong tổng số vụ án được đưa ra xét xử phúc thẩm không có
bản án nào bị hủy, 11 bản án bị cải sửa, còn lại là y án sơ thẩm. Hình
13
phạt Tòa án quân sự Quân khu 5 tuyên phạt đối với các bị cáo là phù
hợp, đáp ứng được mục đích phòng ngừa chung và phòng ngừa riêng,
đảm bảo công bằng trong hoạt động xét xử của Tòa án.
2.2.2. Thực tiễn xét xử các vụ án xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt của Tòa án quân sự Quân khu 5
Từ năm 2012 đến năm 2016, Tòa án quân sự Quân khu 5 đã
thụ lý và xét xử 29 vụ phạm tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
với 51 bị cáo (cả sơ thẩm và phúc thẩm), chiếm tỷ lệ 15,68 % trong
tổng số các vụ án mà Tòa án quân sự Quân khu 5 thụ lý, xét xử. Số
vụ án các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được Tòa án quân
sự Quân khu 5 đưa ra xét xử sơ thẩm đạt tỉ lệ tuyệt đối. Tòa án đã
đưa các vụ án ra xét xử kịp thời, không để tồn đọng án, đáp ứng yêu
cầu phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm, đảm bảo tính nghiêm
minh của pháp luật. Thực tiễn ở Tòa án quân sự Quân khu 5 cho thấy
hàng năm, tuy có số lượng các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt nhất định phải xét xử phúc thẩm, nhưng hầu như các vụ án đều
- Không chứng minh được mục đích và hành vi chiếm đoạt
trong dấu hiệu chiếm đoạt của các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt nên cơ quan tố tụng đã hình sự hóa các quan hệ dân sự
dẫn đến truy cứu TNHS sai đối với người vi phạm.
- Trưng cầu giám định chưa theo đúng quy định tại các văn bản
pháp luật nên dẫn đến vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hình sự.
2.2.2.2. Thực tiễn áp dụng hình phạt
Thực tiễn xét xử của Tòa án quân sự Quân khu 5, các cơ quan
tiến hành tố tụng đã áp dụng khá đầy đủ các quy định của BLHS,
BLTTHS và các văn bản hướng dẫn cụ thể để làm căn cứ áp dụng
hình phạt một cách hiệu quả. Trên cơ sở xem xét, căn cứ tính chất,
mức độ nguy hiểm và hành vi phạm tội cụ thể mà quyết định khung
hình phạt tương ứng; hoạt động quyết định hình phạt sau khi định tội
15
danh các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt được thực hiện cơ
bản là đúng quy định của pháp luật, mang lại hiệu quả cao trong công
tác đấu tranh phòng chống tội phạm và đặc biệt là đạt được mục đích
của hình phạt. Tuy nhiên, việc quyết định hình phạt cũng còn một số
hạn chế, thiếu sót nhất định cụ thể như: không đồng nhất quan điểm
giữa các thẩm phán, giữa hội thẩm và thẩm phán; có trường hợp chưa
vận dụng triệt để văn bản hướng dẫn; v.v... Tỷ lệ các vụ án sau khi
xét xử phúc thẩm có sửa về phần hình phạt cũng có xảy ra. Có một số
trường hợp kết quả xét xử phúc thẩm sửa phần hình phạt về biện
pháp chấp hành hình phạt, như chuyển từ giam qua cho hưởng án
treo.
Thực tiễn ở ngành Tòa án quân sự Quân khu 5 cho thấy việc áp
dụng hình phạt bổ sung đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt là không nhiều. Hình phạt tiền với tư cách là hình phạt bổ
CHƯƠNG 3
HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ CÁC TỘI XÂM PHẠM
SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT
3.1. Các quan điểm yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật hình sự trong hoạt động xét xử các tội xâm phạm sở hữu
có tính chiếm đoạt ở Tòa án quân sự Quân khu 5
- Quán triệt chính sách hình sự hướng thiện trong cải cách tư
pháp, coi trọng tính phòng ngừa, giảm hình phạt tù, tăng cường hình
phạt tiền và hình phạt cải tạo không giam giữ;
- Cụ thể hoá tư tưởng tôn trọng và bảo vệ quyền con người
của Hiến pháp năm 2013; quyền con người, quyền công dân chỉ có
thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý
do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội;
- Đảm bảo tính cụ thể, minh bạch, khả thi trong kỹ thuật lập
pháp; QPPL ban hành phải bảo đảm thuận tiện, dễ áp dụng và có tính
thống nhất trong ADPL;
- Sớm hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến các tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt, xem giải pháp về pháp luật là
một trong những giải pháp trọng yếu để nâng cao chất lượng xét xử
các vụ án hình sự về tội này.
- Đẩy mạnh và thực hiện tốt công tác tổng kết thực tiễn xét
xử và giải thích, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật về các tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
3.2. Khái quát các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt theo BLHS năm 2015
Trong BLHS năm 2015, các tội xâm phạm sở hữu có tính
19
20
1. Người nào chiếm đoạt tài sản của người khác một cách
công khai, nhanh chóng tẩu thoát thì…..”
Thứ ba, cần sửa đổi Điều 138 BLHS theo hướng :
“Điều 138. Tội trộm cắp tài sản:
1. Người nào lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác,
thì….”
Thứ tư, sửa đổi tình tiết định khung tăng nặng của Điểm đ
Khoản 2 Điều 138 BLHS “tội trộm cắp tài sản” quy định tình tiết
định khung tăng nặng “hành hung tẩu thoát”. Hành vi này được xem
là bản năng của con người, không nên xem là tình tiết tăng nặng
TNHS áp dụng đối với tội trên.
Đối với các tội CĐTS có quy định tình tiết định khung tăng
nặng phạm tội “đối với nhiều người ”, BLHS cần sửa đổi theo hướng
cụ thể hơn.
Mở rộng quy định của tội lừa đảo CĐTS tại Điều 139 BLHS.
Theo đó, tội phạm này sẽ bao gồm cả một số hành vi CĐTS quy định
trong tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS tại Điều 140 BLHS. Sau khi điều
chỉnh như vậy, có thể bỏ tội lạm dụng tín nhiệm CĐTS cho phù hợp
với bản chất thực tế của hành vi này do chỉ còn là các quan hệ dân sự,
thương mại vay, mượn tài sản… Việc xử lý giải quyết các vụ việc lúc
đó được thực hiện thông qua quy định của pháp luật tố tụng dân sự
3.3.1.2 Hoàn thiện chế tài
- Cần quy định hình phạt tiền áp dụng là hình phạt chính
trong chế tài khung cơ bản đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt sau: Tội cướp giật tài sản; tội công nhiên chiếm đoạt tài
sản; tội trộm cắp tài sản; tội lừa đảo CĐTS; tội lạm dụng tín nhiệm
CĐTS.
môn của những người THTT; Nâng cao phẩm chất chính trị, đạo đức
nghề nghiệp của những người THTT; Nâng cao chế độ trách nhiệm,
22
chế độ chính sách và dành sự quan tâm hơn cho những người làm
nhiệm vụ bảo vệ pháp luật.
3.3.2.4. Các giải pháp khác
Trong phạm vi của Luận văn, tác giả trình bày những kiến
nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử các vụ án
hình sự nói chung và các vụ án xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
nói riêng.
23
KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn của Tòa án quân sự
Quân khu 5, đưa ra khái niệm, các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, khái
quát lịch sử lập pháp về các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
Luận văn đã đi sâu phân tích mặt lý luận cũng như thực tiễn
hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối với các tội xâm
phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn của Tòa án quân sự
Quân khu 5. Qua đó thấy rằng các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt theo pháp luật hình sự nước ta khi đưa vào áp dụng trong
thực tiễn còn khá nhiều vướng mắc, bất cập. Từ đó, Luận văn đưa ra
một số kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả của hoạt động xét xử
các vụ án hình sự nói chung, các vụ án xâm phạm sở hữu có tính
đoạt nói riêng.