Tội buôn lậu trong pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn tỉnh quảng ninh - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ QUỲNH TRANG

TỘI BUÔN LẬU TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành

: Luật hình sự và Tố tụng hình sự

Mã số

: 60380104

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS CAO THỊ OANH

HÀ NỘI - NĂM 2016


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của
các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng như thời
gian nghiên cứu đề tài luận văn.
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành


XÁC NHẬN CỦA
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN

NGƯỜI CAM ĐOAN

PGS.TS Cao Thị Oanh

Lê Quỳnh Trang


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

CHXHCN

: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa

CQTHTT

: Cơ quan tiến hành tố tụng

CTTP


XHCN

: Xã hội chủ nghĩa


MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ..................................................................................................... 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI BUÔN LẬU
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ........................................................... 6
1.1. Khái niệm tội buôn lậu .................................................................................. 6
1.2. Lịch sử lập pháp hình sự về tội buôn lậu ở nước ta ........................................ 9
1.3. Tội buôn lậu theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999........................... 15
1.3.1. Các dấu hiệu cấu thành tội phạm cơ bản của tội buôn lậu ...................... 15
1.3.2. Các dấu hiệu định khung tăng nặng hình phạt trong tội buôn lậu ........... 25
1.3.3. Phân biệt tội buôn lậu với một số tội phạm khác trong Bộ luật hình sự
1999 và hành vi buôn lậu với hành vi gian lận thương mại .............................. 37
Chương 2. THỰC TIỄN ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ VỀ
TỘI BUÔN LẬU TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH ................................... 43
2.1. Định tội danh tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh ............................. 43
2.1.1. Các đặc trưng trong hoạt động định tội danh tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh .................................................................................................... 43
2.1.2. Định tội danh theo cấu thành tội phạm và một số vướng mắc trong việc
định tội danh tội buôn lậu................................................................................ 46
2.2. Quyết định hình phạt đối với tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh...... 65
2.2.1. Kết quả thực hiện quyết định hình phạt đối với tội buôn lậu trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh ............................................................................................. 65
2.2.2. Một số vấn đề vướng mắc trong việc quyết định hình phạt tội buôn lậu. 70
Chương 3. NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ VỀ TỘI BUÔN LẬU ............................................................................ 74
3.1. Yêu cầu nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội

đó có tội phạm buôn lậu.
Buôn lậu được xác định là một trong những tội phạm nguy hiểm, không chỉ
làm thiệt hại đến nền kinh tế đất nước, gây thất thu thuế cho Nhà nước mà còn đe
dọa phá vỡ chính sách kinh tế đất nước, xã hội, ảnh hưởng không nhỏ đến lợi ích
của thương nhân cũng như người tiêu dùng. Ở nước ta, trong những năm gần đây,
hoạt động buôn lậu diễn biến rất phức tạp với quy mô ngày càng lớn, địa bàn ngày
càng rộng, phương thức thủ đoạn tinh vi hơn. Những vụ án buôn lậu bị phát hiện
và xử lý cho thấy hành vi phạm tội đang ngày càng nghiêm trọng, hoạt động buôn
lậu có tổ chức và chuyên nghiệp cao, đối tượng buôn lậu đang lợi dụng những bất
cập về cơ chế, chính sách trong điều hành xuất nhập khẩu để hoạt động mạnh mẽ
hơn. Nhận định về tình hình hoạt động buôn lậu tại Cuộc Tọa đàm trực tuyến
chống buôn lậu và gian lận thương mại với chủ đề “Vì thị trường lành mạnh” do
Cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức ngày 31/10/2014, ông Nguyễn Văn Cẩn,
Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Hải quan, Chánh văn phòng Ban Chỉ đạo 389
Quốc gia về chống buôn lậu, gian lận thương mại và hàng giả khẳng định: “Hoạt


2

động buôn lậu đang ngày càng diễn biến hết sức phức tạp với thủ đoạn ngày càng
tinh vi, quy mô rộng khắp và thực sự trở thành một “quốc nạn” nhức nhối”.1
Mặc dù vậy, tình hình xét xử loại tội phạm này trên thực tế lại tồn tại nhiều bất
cập với những hạn chế, sai lầm trong việc định tội danh và quyết định hình phạt,
làm giảm đi ý nghĩa của quá trình đấu tranh phòng và chống tội phạm. Trước thực
trạng đó, pháp luật hình sự đã liên tục có những biện pháp khắc phục nhưng nhìn
chung những vấn đề bất cập nói trên vẫn còn tồn tại và chưa được giải quyết triệt
để. Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, cần phải thẳng thắn nhìn nhận các
nguyên nhân chủ quan xuất phát từ vấn đề chưa nhận thức được đúng đắn và đầy đủ
các quy định của pháp luật hiện nay về tội buôn lậu dẫn tới việc lúng túng và nhầm
lẫn trong việc xác định tội danh và quyết định hình phạt của các cơ quan pháp luật,

“Tội buôn lậu hàng hóa, tiền tệ qua biên giới”, luận văn thạc sĩ của tác
giả Trần Đức Thìn, 1996;
“Tội buôn lậu trong luật hình sự Việt Nam (trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn
địa bàn tỉnh Bắc Giang giai đoạn 2009-2013)”, luận văn thạc sĩ luật học của tác giả
Nguyễn Thị Vui, khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, 2014;
Các công trình luận văn, luận án nghiên cứu cả về mặt lí luận cũng như thực
tiễn dưới góc độ Tội phạm học bao gồm:
“Buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền tệ qua biên giới đất liền
Việt – Trung - Thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả phòng ngừa và đấu
tranh của Bộ đội biên phòng tỉnh Quảng Ninh”, luận án Tiến sĩ của tác giả Vũ
Đình Nông, 1997;
“Đấu tranh phòng chống tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng
hóa, tiền tệ qua biên giới”, luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Đức Bình - 2000;
“Đấu tranh phòng, chống tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh”, luận
văn thạc sĩ luật học của tác giả Dương Thị Nhàn - 2006;
Bên cạnh đó còn có một số bài viết:
"Buôn lậu và chống buôn lậu" của tác giả Bùi Toản, Tạp chí Kiểm sát,
số 1 và 2 năm 1999, trang 56 - 58;
"Phòng, chống buôn lậu trong lĩnh vực hải quan khi Việt Nam gia nhập
WTO" của tác giả Nguyễn Phi Hùng, Tạp chí Quản lý nhà nước Học viện Hành
chính Quốc gia, số 12/2006, trang 12 - 16.
Ngoài ra, còn nhiều công trình, bài viết nghiên cứu của các tác giả khác
trên các tạp chí Hải quan, Công an nhân dân....Các công trình nghiên cứu trên
đã làm rõ về mặt lí luận và thực tiễn trong công tác đấu tranh phòng, chống
tội buôn lậu, đồng thời cũng đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
công tác đấu tranh chống buôn lậu.
Tuy nhiên, những đề tài, công trình nghiên cứu nói trên hoặc do được viết đã
lâu, không còn tính thời sự và nhiều ý nghĩa đối với giai đoạn hiện nay; hoặc do
được nghiên cứu một cách chung nhất trong phạm vi toàn quốc mà chưa đi sâu vào
thực tiễn địa phương; hoặc do chỉ được nghiên cứu tập trung dưới góc nhìn Tội

Trong luận văn, một số câu hỏi sau đây được tác giả đưa ra nghiên cứu, xem
xét:
- Những vấn đề về mặt lí luận và pháp luật cần khai thác về tội buôn lậu theo
pháp luật Việt Nam?
- Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội buôn lậu trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh, những kết quả đạt được và có hay không các sai phạm?
- Để nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội buôn
lậu, cần có những giải pháp và kiến nghị gì?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn


5

Luận văn giải quyết các nội dung khoa học của đề tài dựa trên cơ sở phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng thuộc Triết học Mác – Lênin; tư tưởng
Hồ Chí Minh; các đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng; các văn bản quy
phạm pháp luật do Nhà nước ban hành; các đề tài, công trình nghiên cứu khoa học
trước đó và các tài liệu tham khảo chuyên ngành.
Đồng thời, luận văn cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành
như: phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp thống kê số liệu; phương pháp
so sánh đối chiếu.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của tác giả dưới góc độ luật hình
sự, có ý nghĩa về mặt lí luận cũng như thực tiễn đối với công tác định tội danh và
quyết định hình phạt với tội phạm buôn lậu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh nói riêng
và trên phạm vi cả nước nói chung.
Về mặt lí luận, luận văn là công trình đóng góp cho việc hoàn thiện hơn nữa
những nhận thức về bản chất loại tội phạm này, đồng thời luận văn còn có ý nghĩa
góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo nhằm phục vụ công tác
giảng dạy và nghiên cứu khoa học pháp luật hình sự.

Quốc Hội thông qua ngày 21/12/1999, sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009 (sau đây
gọi tắt là BLHS 1999) quy định:
Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình
sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô
ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm
phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật
tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác
của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội chủ
nghĩa.
Theo pháp luật hình sự, các hành vi thỏa mãn các yếu tố được quy định trong
Điều 8 BLHS nêu trên mới được coi là tội phạm. Chính vì lí do đó, hành vi buôn lậu
để được coi là tội phạm cũng phải thỏa mãn các yếu tố được quy định trong Điều 8
BLHS 1999.
Tội buôn lậu được quy định tại Điều 153 thuộc “Chương XVI – Các tội xâm
phạm trật tự quản kinh tế” của BLHS. Để hiểu được khái niệm của tội buôn lậu
cũng như ý nghĩa vị trí của tội danh này trong BLHS, cần phải tìm hiểu khái niệm
những cụm từ, thuật ngữ tạo nên tên của tội danh.
Theo Từ điển tiếng Việt, “buôn” được hiểu là việc mua đi bán lại một loại
hàng hóa nào đó nhằm kiếm lợi nhuận, “lậu” chỉ sự không chính đáng, lén lút, trái


7

pháp luật, “buôn lậu là buôn bán hàng hóa trốn thuế hoặc hàng quốc cấm”.2 Như
vậy, nếu hiểu theo nghĩa thông thường, buôn lậu chỉ đơn giản là hành vi buôn bán
những mặt hàng cấm hoặc những hàng hóa trốn đóng thuế theo quy định của pháp
luật.
Cụ thể hơn khái niệm tại Từ điển tiếng Việt, Từ điển bách khoa Việt Nam giải
thích như sau: “Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những


3


8

vấn đề được các quốc gia phát triển đặc biệt quan tâm, do vậy, pháp luật các quốc
gia này không tập trung vào các biện pháp hạn chế xuất khẩu hàng hóa mà chỉ thắt
chặt các biện pháp hạn chế nhập khẩu. Đối với các quốc gia có nền kinh tế kém phát
triển hơn, sức sản xuất hạn chế, giá cả hàng hóa cao, nhu cầu tiêu dùng của xã hội
lớn, hành vi buôn lậu trở nên phức tạp hơn rất nhiều, bao gồm các hành vi nhập
khẩu (phổ biến là hàng hóa tiêu dùng, hàng cấm...) và xuất khẩu (phổ biến là tài
nguyên thiên nhiên, động thực vật quý hiếm...).
Với những đặc điểm nói trên, BLHS 1999 quy định tội buôn lậu tại Điều 153:
“Người nào buôn bán trái phép qua biên giới…hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ,
kim khí quý, đá quý có giá trị… vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa,…hàng
cấm có số lượng lớn…”
Căn cứ vào Điều 153 Bộ luật hình sự 1999 có thể đưa ra khái niệm về tội
buôn lậu như sau: “Tội buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới quốc
gia các loại hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, các loại vật
phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa, các loại hàng cấm nhằm mục đích kiếm lời”.
Từ khái niệm trên có thể thấy rằng giữa khái niệm “buôn lậu” hiểu theo nghĩa
thông thường và khái niệm “buôn lậu” theo Luật hình sự Việt Nam có sự khác
biệt. So với khái niệm “buôn lậu” trong cuốn “Từ điển tiếng Việt”, có thể thấy
rằng khái niệm “buôn lậu” với ý nghĩa là một tội phạm trong Bộ luật hình sự phải
có yếu tố bắt buộc là “qua biên giới”, nếu hành vi buôn bán các mặt hàng kể trên
mà không qua biên giới thì đó không phải là hành vi buôn lậu. Đồng thời, đối
tượng của hành vi buôn lậu theo Luật hình sự Việt Nam được cụ thể hơn, thay vì:
“hàng hóa trốn thuế, hàng quốc cấm”, đối tượng của tội buôn lậu trong Bộ luật
hình sự được cụ thể bao gồm: hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá

định này nhằm góp phần đẩy lùi nạn đói năm 1945.
Sau đó, Nhà nước ta đã ban hành rất nhiều văn bản pháp luật nhằm đấu tranh
với loại tội phạm này và một trong những văn bản quan trọng phải kể đến đó là
“Pháp lệnh trừng trị các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép”
ban hành ngày 30/06/1982. Khác với các văn bản trước đó, Pháp lệnh ngày
30/06/1982 đã quy định rõ ràng một tội danh với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của
nó, có thể nói, tại văn bản này khái niệm tội buôn lậu lần đầu tiên chính thức được
ghi nhận trong pháp luật hình sự của Nhà nước. Trong pháp lệnh ngày 30/06/1982,
tội buôn lậu được quy định ở hai điều luật khác nhau: Điều 3 – “Tội buôn lậu, tàng
trữ hàng cấm” là hành vi: “…Buôn lậu, tàng trữ vàng bạc, kim khí quý, đá quý,
ngoại tệ, vật tư kỹ thuật hoặc các hàng hóa khác mà Nhà nước cấm buôn bán, tàng
trữ…” và Điều 4 – Tội buôn lậu hoặc tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên
giới là hành vi: “Buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên
giới…”4 (hàng hóa ở đây được hiểu là mọi hàng hóa ngoài những loại hàng hóa
được coi là hàng cấm, quy định tại Điều 3 của Pháp lệnh). Đối với hành vi buôn bán
4

Pháp lệnh số Pl/1982 ngày 30 tháng 06 năm 1982 của Hội đồng Nhà nước (1982) về trừng trị

các tội đầu cơ, buôn lậu, làm hàng giả, kinh doanh trái phép.


10

trái phép hoặc vận chuyển hàng hóa qua biên giới, nếu có mục đích kinh doanh thì
đó là buôn lậu, nếu không có mục đích kinh doanh thì được coi là vận chuyển trái
phép hàng hóa qua biên giới. Buôn lậu thời kỳ này được quan niệm như là một tội
phạm về kinh tế.
* Giai đoạn khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự năm 1999

11

Sau hơn 10 năm áp dụng các quy định của BLHS năm 1985 trong đó có tội
buôn lậu đã bộc lộ nhiều bất cập. Trước tình hình này, ngày 21/12/1999 tại kỳ họp
lần thứ VI – Quốc hội khóa X đã thông qua BLHS mới có hiệu lực thi hành từ ngày
01/07/2000 thay thế BLHS 1985.BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung ngày 19/6/2009) đã
tách riêng tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới và quy
định hai tội này ở hai điều luật khác nhau trong đó tội buôn lậu được quy định tại
Điều 153 với nội dung:
1. Người nào buôn bán trái phép qua biên giới thuộc một trong các trường hợp
sau đây, thì bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng hoặc phạt
tù từ sáu tháng đến ba năm:
a) Hàng hoá, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý có giá trị từ một
trăm triệu đồng đến dưới ba trăm triệu đồng hoặc dưới một trăm triệu đồng
nhưng đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy định tại Điều này hoặc tại một
trong các điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160 và 161 của Bộ luật này hoặc đã
bị kết án về một trong các tội này, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, nếu
không thuộc trường hợp quy định tại các điều 193, 194, 195, 196, 230,
232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này;
b) Vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hoá;
c) Hàng cấm có số lượng lớn hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi quy
định tại Điều này hoặc tại một trong các điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160
và 161 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về một trong các tội này, chưa được
xoá án tích mà còn vi phạm, nếu không thuộc trường hợp quy định tại các điều
193, 194, 195, 196, 230, 232, 233, 236 và 238 của Bộ luật này.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba
năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;

nhà làm luật quy định như vậy là phù hợp với bản chất của tội buôn lậu, điều đó đã
góp phần không nhỏ trong việc củng cố nhận thức về loại tội phạm này cũng như có
những biện pháp đấu tranh, ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi tội phạm buôn lậu.
* Bộ luật hình sự năm 2015 – những điểm mới đáng lưu ý
Bên cạnh những kết quả đạt được, sau hơn 10 năm thi hành, theo sự phát triển
của kinh tế, xã hội, tình hình tội phạm đã có nhiều thay đổi hết sức phức tạp với
những phương thức tinh vi và thủ đoạn xảo quyệt hơn, BLHS 1999 đã dần thể hiện
những bất cập, hạn chế, ảnh hưởng không nhỏ đến công tác đấu tranh phòng chống
tội phạm. Trước tình hình đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã ban hành Nghị quyết
số 433/NQ-UBTVQH13 về việc thành lập Ban soạn thảo Bộ luật hình sự 2015.
Trên cơ sở đó, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với các
Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức liên quan tiến hành soạn thảo dự án Bộ luật hình sự
2015 nhằm khắc phục một cách đầy đủ, toàn diện những bất cập của BLHS 1999,


13

góp phần bảo vệ và thúc đẩy hơn nữa sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo
định hướng XHCN.
Mặc dù vẫn chưa có hiệu lực thi hành, nhưng những thay đổi, điều chỉnh tích
cực trong quy định pháp luật hình sự về tội buôn lậu tại BLHS 2015 đã cho thấy sự
quan tâm sát sao của cơ quan lập pháp tới loại tội phạm này. Trên cơ sở những khó
khăn mang tính thực tế trong hoạt động định tội danh và quyết định hình phạt đối
với tội buôn lậu theo Điều 153 BLHS 1999, BLHS 2015 đã có những điều chỉnh, bổ
sung tích cực, trong đó nổi bật lên là các nội dung:
Một là, BLHS 2015 đã hoàn thiện quy định pháp luật đối với tình tiết “hàng
cấm có số lượng lớn, rất lớn hay đặc biệt lớn” trong BLHS 1999 bằng việc loại bỏ
tình tiết này ra khỏi CTTP tội buôn lậu (Điều 188), đồng thời quy định chi tiết tại
Điều 190 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm làm cơ sở cho các CQTHTT viện dẫn và
áp dụng thống nhất pháp luật đối với hành vi buôn lậu hàng cấm.

cách áp dụng pháp luật trong cả nước.
Nhìn nhận thấy tính bất hợp lí trong quy định tình tiết “gây hậu quả nghiêm
trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng” BLHS 2015 cũng đã loại bỏ tình
tiết này ra khỏi CTTP tội buôn lậu.
Bốn là, BLHS 2015 đã hoàn thiện các quy định pháp luật đối với tình tiết “qua
biên giới”, một trong các tình tiết chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể để thống nhất
cách hiểu. Theo đó, BLHS 2015 quy định hành vi buôn lậu là hành vi “buôn bán
qua biên giới hoặc từ khu phi thuế quan vào nội địa hoặc ngược lại trái quy định của
pháp luật”. Đây là cách giải thích phù hợp, đáp ứng yêu cầu thực tế đối với loại tội
phạm này trong tình hình kinh tế, xã hội hiện nay.
Năm là, BLHS 2015 đã bổ sung quy định về TNHS đối với pháp nhân thương
mại phạm tội buôn lậu tại Khoản 6 Điều 188. Đây là BLHS đầu tiên quy định chế
định TNHS của pháp nhân. Đánh giá về điểm mới này, Ban nội chính Trung Ương
khẳng định trong kì họp thứ 10 Quốc hội khóa XIII: “Đây là điểm đổi mới nổi bật,
mang tính đột phá trong chính sách hình sự nước ta, làm thay đổi nhận thức truyền
thống về vấn đề tội phạm và hình phạt. Phải nói rằng, việc bổ sung chế định trách
nhiệm hình sự của pháp nhân vào BLHS xuất phát từ yêu cầu cấp bách của thực tiễn
và là kết quả của gần 16 năm (từ 1999 đến nay) kiên trì, bền bỉ nghiên cứu, đề xuất
của Chính phủ và đã được Quốc hội chấp thuận nhằm góp phần khắc phục những
bất cập, hạn chế trong việc xử lý các vi phạm pháp luật của pháp nhân trong thời
gian qua, nhất là những vi phạm trong các lĩnh vực kinh tế và môi trường, đồng thời
tạo điều kiện bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người bị thiệt hại do các vi phạm của
pháp nhân gây ra”.5

5

Hà Thanh (2016), “Quy định về trách nhiệm hình sự của pháp nhân trong Bộ luật hình sự năm
2015”, Trang thông tin điện tử tổng hợp của Ban nội chính Trung Ương, tại địa chỉ:
ngày truy cập 15/06/2016.


kinh tế nhưng cũng có thể có tính chất riêng cho từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế.
Hành vi phạm tội của tội buôn lậu là hành vi xâm phạm chế độ quản lí ngoại thương
của Nhà nước CHXHCN Việt Nam.

6

Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên, 2013), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam tập 1, Nxb Công an nhân
dân, Hà Nội, tr. 86.


16

Theo quy định của BLHS, đối tượng của hành vi phạm tội này là các hàng
hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý, vật phẩm thuộc di tích lịch sử,
văn hóa, hàng cấm.
Hàng hóa: là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con
người thông qua trao đổi hay buôn bán.7Hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản là: giá trị
sử dụng và giá trị. Giá trị sử dụng của hàng hóa là ích dụng của hàng hóa thỏa mãn
nhu cầu nào đó của con người. Một hàng hóa có thể có một công dụng hay nhiều
công dụng nên nó có thể có nhiều giá trị sử dụng khác nhau. Giá trị của hàng hóa
là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa. Khi đưa ra
ngoài thị trường để trao đổi, mua bán thì giá trị của hàng hóa thể hiện qua giá trị
trao đổi hay giá cả của hàng hóa. Khái niệm hàng hóa là đối tượng của hành vi buôn
lậu hiểu theo quy định tại Điều 153 BLHS bao gồm tất cả các loại hàng hóa mang
hai thuộc tính cơ bản trên, trừ một số loại hàng hóa do tính chất đặc biệt đã được
BLHS Việt Nam quy định là đối tượng của các tội phạm khác, đó là:
- Vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 230);
- Công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 231);
- Vật liệu nổ (Điều 232);
- Vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 233);

“Kim khí quý bao gồm vàng, bạc, bạch kim và các loại kim loại quý khác”. “Đá quý
bao gồm kim cương (hạt xoàn), ruby (hồng ngọc), emorot (lục bảo ngọc), saphia
(bích ngọc), ngọc trai (trân châu) và các loại đá quý khác”.
Vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa. Theo quy định tại Khoản 3 Điều 4
Luật di sản văn hóa được Quốc hội thông qua ngày 29/06/2001 sửa đổi bổ sung năm
2009, “Di tích lịch sử văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa
học”. Tuy nhiên, luật di sản văn hóa lại không quy định thế nào là “Vật phẩm thuộc
di tích lịch sử, văn hóa”, do vậy, cần phải dựa vào nội hàm khái niệm “Di tích lịch
sử văn hóa” nói trên để liệt kê ra các vật phẩm thuộc nhóm này. Đó là các di vật, cổ
vật, bảo vật quốc gia - những sản phẩm vật chất có giá trị văn hóa, giá trị thẩm mĩ
của dân tộc ta từ những thời kì lịch sử nhất định và còn được lưu giữ đến nay. Theo
quy định tại khoản 5,6,7 Điều 4 Luật di sản văn hóa thì:
5. Di vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
6. Cổ vật là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn
hóa, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên.
7. Bảo vật quốc gia là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm
tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hóa, khoa học.
Hàng cấm: là những hàng hóa mà Nhà nước cấm buôn bán trên lãnh thổ Việt
Nam và cấm xuất – nhập khẩu. Ở tội buôn lậu có thể hiểu hàng cấm là những loại
hàng thuộc phạm vi quy định của Điều 155 BLHS. Danh mục hàng cấm không cố
định mà có sự thay đổi ở mỗi giai đoạn nhất định, phù hợp với tình hình chính trị,
xã hội thực tế và sự thay đổi, phát triển của nền kinh tế. Hiện nay theo quy định tại
Văn bản hợp nhất số 19/VBHN-BCT ban hành ngày 09/05/2014 quy định chi tiết

9

Wikimedia Foundation,Inc, “Ngoại hối”, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, tại địa chỉ:
ngày truy cập 10/06/2016.


11. Giống cây trồng không có trong danh mục được phép sản xuất, kinh
doanh; giống cây trồng gây hại đến sản xuất và sức khỏe con người, môi
trường, hệ sinh thái;
12. Giống vật nuôi không có trong danh mục được phép sản xuất, kinh doanh;
giống vật nuôi gây hại cho sức khỏe con người, nguồn gen vật nuôi, môi
trường, hệ sinh thái;
13. Khoáng sản đặc biệt, độc hại;


19

14. Phế liệu nhập khẩu gây ô nhiễm cho môi trường;
15. Các loại thuốc chữa bệnh cho người, các loại vắc xin, sinh phẩm y tế, mỹ
phẩm, hóa chất và chế phẩm diệt côn trùng, diệt khuẩn trong lĩnh vực gia
dụng và y tế chưa được phép sử dụng tại Việt Nam;
16. Các loại trang thiết bị y tế chưa được phép sử dụng tại Việt Nam;
17. Phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, vi chất dinh dưỡng,
thực phẩm chức năng, thực phẩm có nguy cơ cao, thực phẩm được bảo
quản bằng phương pháp chiếu xạ, thực phẩm có gen đã bị biến đổi chưa
được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép;
18. Sản phẩm, vật liệu có chứa amilăng thuộc nhóm amfibole;
19. Thuốc lá điếu, xì gà và các dạng thuốc lá thành phẩm khác nhập lậu.
Tuy nhiên, theo quy định của BLHS, một số hàng cấm đã là đối tượng của tội
phạm khác thì sẽ không là đối tượng của tội buôn lậu như các chất ma túy tại Điều
193, 194, 195, 196; vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự tại Điều 230;
vật liệu nổ tại Điều 232; vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ tại Điều 233; chất phóng
xạ tại Điều 236 và chất cháy, chất độc tại Điều 238.
Giá trị của đối tượng tác động của hành vi buôn lậu (trừ vật phẩm thuộc di
tích lịch sử văn hóa) là một căn cứ quan trọng trong việc xác định có CTTP hay
không và cân nhắc quyết định hình phạt đối với người phạm tội buôn lậu. Việc đưa

quý, đá quý.
Hành vi này bị coi là tội phạm khi hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí
quý, đá quý có giá trị từ một trăm triệu đồng trở lên hoặc dưới một trăm triệu đồng
nhưng đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án, chưa được xoá án tích về hành vi
quy định tại Điều này hoặc một trong các Điều 154, 155, 156, 157, 158,159,160 và
161 BLHS mà còn vi phạm.
- Buôn bán trái phép qua biên giới vật phẩm thuộc di tích lịch sử văn hóa.
Hành vi này bị coi là tội phạm không phụ thuộc vào giá trị lớn hay nhỏ của vật
phẩm bị buôn bán qua biên giới.
- Buôn bán trái phép qua biên giới hàng cấm.
Hành vi này bị coi là tội phạm khi hàng cấm được buôn bán qua biên giới có
số lượng lớn hoặc người buôn bán đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án và
chưa được xóa án tích về hành vi quy định tại Điều này hoặc một trong các Điều
154, 155, 156, 157, 158,159,160 và 161 BLHS mà còn vi phạm.
Buôn bán trái phép qua biên giới các mặt hàng kể trên là hành vi trao đổi các
mặt hàng này qua biên giới quốc gia trái với quy định của Nhà nước như không khai
báo, khai báo gian dối, dùng giấy tờ giả mạo, giấu giếm hàng hóa, không có giấy tờ
10

Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên, 2013), tlđd chú thích 3, tr. 99.



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status