1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
LÊ QUỲNH TRANG
TỘI BUÔN LẬU TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành
Mã số
: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
: 60380104
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS CAO THỊ OANH
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
2
Trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn này, bên cạnh sự nỗ lực
của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, động viên và hướng dẫn của
các thầy cô giáo, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp trong suốt khóa học cũng như thời
gian nghiên cứu đề tài luận văn.
bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng cũng như
kết quả luận văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
XÁC NHẬN CỦA
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
NGƯỜI CAM ĐOAN
PGS.TS Cao Thị Oanh
Lê Quỳnh Trang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
4
BLHS
: Bộ luật hình sự
BLTTHS
: Bộ luật tố tụng hình sự
CHXHCN
: Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
: Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
MỤC LỤC
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI BUÔN LẬU
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
6
1.1. Khái niệm tội buôn lậu
1.2. Lịch sử lập pháp hình sự về tội buôn lậu ở nước ta
1.3. Tội buôn lậu theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999
6
9
15
1.3.1. Các dấu hiệu cấu thành tội phạm cơ bản của tội buôn lậu
15
buôn lậu trong giai đoạn hiện nay
74
3.2. Các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự về
tội buôn lậu
76
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật hình sự
76
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của cơ quan tư pháp và các cơ
quan phối hợp khác
80
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
88
6
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế thị trường và những đặc trưng của nó đã mở ra nhiều điều kiện thuận
lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, thúc đẩy nền kinh tế trong nước và quan hệ
ngoại giao, thông thương buôn bán giữa các quốc gia phát triển một cách mạnh mẽ.
Với định hướng đúng đắn trong phát triển nền kinh tế thị trường - một nền
kinh tế thị trường với nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai
trò chủ đạo, cùng những thắng lợi trong công cuộc đổi mới, Nhà nước ta đã từng
bước đưa đất nước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá với nhiều thành tựu
đáng kế trong những năm qua. Đất nước đã thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội,
kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ, nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ
nghĩa bước đầu được thiết lập, quan hệ quốc tế được mở rộng, vị thế nước ta trên
trạng đó, pháp luật hình sự đã liên tục có những biện pháp khắc phục nhưng nhìn
chung những vấn đề bất cập nói trên vẫn còn tồn tại và chưa được giải quyết triệt
để. Bên cạnh các nguyên nhân khách quan, cần phải thẳng thắn nhìn nhận các
nguyên nhân chủ quan xuất phát từ vấn đề chưa nhận thức được đúng đắn và đầy đủ
các quy định của pháp luật hiện nay về tội buôn lậu dẫn tới việc lúng túng và nhầm
lẫn trong việc xác định tội danh và quyết định hình phạt của các cơ quan pháp luật,
làm ảnh hưởng tới chất lượng xét xử, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu tranh phòng
chống tội phạm. Trước tình hình đó, yêu cầu đặt ra với các nhà nghiên cứu luật hình
sự là phải làm rõ các vấn đề về mặt lí luận của tội buôn lậu để làm cơ sở cho nhận
thức thống nhất loại tội phạm này trong thực tiễn.
Với ý nghĩa góp phần giải đáp những yêu cầu nói trên, đóng góp những tri
thức luận nhằm phục vụ công tác nghiên cứu khoa học pháp luật hình sự và phục vụ
cho công tác đấu tranh phòng và chống loại tội phạm này trong giai đoạn hiện nay,
tác giả đã chọn “Tội buôn lậu trong pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh
Quảng Ninh” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực tế trước đây đã có một số đề tài, công trình nghiên cứu khoa học về
tội buôn lậu dưới góc độ lí luận và thực tiễn.
Các công trình sách nghiên cứu về mặt lí luận bao gồm:
Tội buôn lậu, bài giảng nằm trong chương XXII - các tội xâm phạm trật tự
quản lý kinh tế, Tác giả GS.TS Nguyễn Ngọc Hòa (chủ biên,2013), Giáo trình Luật
hình sự Việt Nam tập 2, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, trang 81 - 85.
Bình luận khoa học Bộ luật hình sự phần các tội phạm tập VI – Các tội xâm
phạm trật tự quản lý kinh tế (Bình luận chuyên sâu), Tác giả Đinh Văn Quế (2003),
Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, Tp. Hồ Chí Minh.
Bình Minh (2014), “Buôn lậu đang là quốc nạn”, Báo Biên phòng, tại địa chỉ:
http://www.bienphong.com.vn/buon-lau-dang-la-quoc-nan/ ngày truy cập 16/06/2016.
1
công tác đấu tranh chống buôn lậu.
Tuy nhiên, những đề tài, công trình nghiên cứu nói trên hoặc do được viết đã
lâu, không còn tính thời sự và nhiều ý nghĩa đối với giai đoạn hiện nay; hoặc do
được nghiên cứu một cách chung nhất trong phạm vi toàn quốc mà chưa đi sâu vào
thực tiễn địa phương; hoặc do chỉ được nghiên cứu tập trung dưới góc nhìn Tội
phạm học. Vì vậy, việc nghiên cứu về tội buôn lậu trên địa bàn một trong những
9
tỉnh có nền kinh tế phát triển nhất vùng Đông Bắc Bắc Bộ - tỉnh Quảng Ninh - sẽ
mang tới những cái nhìn cụ thể hơn, sâu sắc và thời sự hơn của loại tội phạm này.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Tội buôn lậu theo quy định của pháp luật hình sự Việt
Nam từ thực tiễn áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng tại tỉnh Quảng
Ninh.
- Phạm vi nghiên cứu: Những vấn đề lí luận và thực tiễn trong việc định tội
danh và quyết định hình phạt đối với tội buôn lậu trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
trong thời gian 06 năm, từ năm 2010 đến năm 2015.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những thành quả của các đề tài, công trình
nghiên cứu đi trước, luận văn hướng tới mục đích nghiên cứu sâu sắc thêm về mặt
lí luận và pháp luật của tội buôn lậu thông qua việc nghiên cứu, đánh giá thực tiễn
loại tội phạm này trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, từ đó đề ra các biện pháp nhằm
nâng cao hiệu quả áp dụng quy định pháp luật đối với tội buôn lậu.
Để làm sáng tỏ các mục đích nghiên cứu trên, luận văn đi vào thực hiện những
nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu về các vấn đề lí luận chung của tội buôn lậu theo quy định của
pháp luật hình sự Việt Nam.
- Nghiên cứu về thực tiễn định tội danh và thực tiễn quyết định hình phạt đối
và trên phạm vi cả nước nói chung.
Về mặt lí luận, luận văn là công trình đóng góp cho việc hoàn thiện hơn nữa
những nhận thức về bản chất loại tội phạm này, đồng thời luận văn còn có ý nghĩa
góp phần làm phong phú thêm nguồn tài liệu tham khảo nhằm phục vụ công tác
giảng dạy và nghiên cứu khoa học pháp luật hình sự.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu thể hiện trong luận văn là tư liệu góp
phần giúp đỡ các cơ quan THTT và người THTT trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh cũng
như trên phạm vi toàn quốc áp dụng đúng các quy định của pháp luật về tội phạm
này trong thực tiễn, nhận thức đầy đủ và chính xác trong việc định tội danh và quyết
định hình phạt đối với loại tội phạm này, tránh bỏ lọt tội phạm hay oan sai cho
người vô tội, đóng góp cho việc nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng và
chống tội phạm.
8. Bố cục (các chương) của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
cơ cấu thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lí luận và pháp luật về tội buôn lậu theo pháp luật
hình sự Việt Nam.
Chương 2: Thực tiễn áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về tội buôn lậu
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.
Chương 3: Nâng cao hiệu quả áp dụng quy định của pháp luật hình sự về tội
buôn lậu.
11
Chương 1.
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI BUÔN LẬU
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm tội buôn lậu
Tội phạm nói chung và tội buôn lậu nói riêng là một hiện tượng tiêu cực của
vậy, nếu hiểu theo nghĩa thông thường, buôn lậu chỉ đơn giản là hành vi buôn bán
những mặt hàng cấm hoặc những hàng hóa trốn đóng thuế theo quy định của pháp
luật.
Cụ thể hơn khái niệm tại Từ điển tiếng Việt, Từ điển bách khoa Việt Nam giải
thích như sau: “Buôn lậu là hành vi buôn bán trái phép qua biên giới những
loại hàng hóa hoặc ngoại tệ, kim khí và đá quý, những vật phẩm thuộc về di
tích lịch sử, văn hóa, những hàng cấm xuất khẩu hay nhập khẩu hoặc buôn
bán hàng hóa nói chung mà trốn thuế và trốn sự kiểm tra của Hải quan”.3 Tuy rõ
ràng hơn nhưng khái niệm này vẫn chưa thật sự thuyết phục bởi chưa khái quát
được đầy đủ bản chất của hành vi buôn lậu làm cơ sở phân biệt nó với các vi phạm
hay hành vi phạm tội khác. Chính vì vậy, để tìm ra khái niệm chính xác về hành vi
buôn lậu và tội buôn lậu, bên cạnh việc tìm hiểu khái niệm các cụm từ, thuật ngữ
tạo nên tên tội danh, người nghiên cứu cũng cần tìm hiểu nguồn gốc và bản chất của
hành vi buôn lậu.
Buôn lậu xuất hiện trước hết là do những khác biệt cơ bản của sự phát triển
kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội, dẫn đến sự không đồng nhất giữa các nước, đặc
biệt là các nước trong cùng khu vực về sức sản xuất (nguồn cung), nhu cầu tiêu
dùng (cầu). Trong điều kiện quốc tế hóa, việc phân công sản xuất mang tính chuyên
môn hóa cao đã giúp các nước có nền kinh tế phát triển ngày càng tiết kiệm triệt để
chi phí sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm dẫn đến giá thành hạ trong khi sản
phẩm chất lượng vượt trội hơn hẳn các quốc gia đang hoặc chậm phát triển. Sự
chênh lệch ngày càng lớn về giá thành, chất lượng sản phẩm giữa các nước trong
cùng một khu vực tạo ra lợi nhuận siêu ngạch cho người làm lưu thông hàng hóa.
Đây chính là điều kiện sâu xa khiến hành vi buôn lậu tồn tại và phát triển như một
tất yếu khách quan.
Với bản chất là một hoạt động kinh tế bất hợp pháp mang tính xã hội, buôn lậu
luôn chịu sự tác động của các quy luật kinh tế. Việc quan niệm về buôn lậu của từng
quốc gia trong từng giai đoạn và điều kiện chính trị, văn hóa, xã hội cũng vì thế mà
khác nhau. Những quốc gia có nền kinh tế phát triển thì khuyến khích xuất khẩu
hàng hóa ra nước ngoài để chiếm lĩnh thị trường, nâng tầm thương hiệu quốc gia –
tượng của hành vi buôn lậu theo Luật hình sự Việt Nam được cụ thể hơn, thay vì:
“hàng hóa trốn thuế, hàng quốc cấm”, đối tượng của tội buôn lậu trong Bộ luật
hình sự được cụ thể bao gồm: hàng hóa, tiền Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá
quý có giá trị… vật phẩm thuộc di tích lịch sử, văn hóa, hàng cấm có số lượng
lớn. So với khái niệm “buôn lậu” trong cuốn Từ điển bách khoa Việt Nam thì khái
niệm “buôn lậu” theo Luật hình sự Việt Nam cũng có điểm khác biệt về đối tượng
của tội buôn lậu, trong BLHS, không chỉ có ngoại tệ mà cả tiền Việt Nam cũng là
đối tượng của tội buôn lậu, đồng thời tội buôn lậu trong Bộ luật hình sự còn có
thêm dấu hiệu mục đích của người phạm tội là mục đích kiếm lời, đây là một dấu
hiệu quan trọng nhằm phân biệt giữa tội buôn lậu và tội vận chuyển trái phép hàng
hóa, tiền tệ qua biên giới.
Hành vi buôn lậu là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm tới trật tự quản
lí kinh tế được pháp luật bảo vệ. Hành vi này đã được quy định thành một tội danh
14
cụ thể tại Điều 153 thuộc “Chương XVI – Các tội xâm phạm trật tự quản kinh tế”
của BLHS với tên gọi “Tội buôn lậu”.
1.2. Lịch sử lập pháp hình sự về tội buôn lậu ở nước ta
* Giai đoạn từ Cách mạng tháng 8 năm 1945 đến trước khi ban hành Bộ
luật hình sự năm 1985
Tội buôn lậu với tính chất là một hiện tượng tiêu cực của xã hội đã gây ra
những thiệt hại nghiêm trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước,
khiến cho Nhà nước không kiểm soát được hàng hóa xuất nhập khẩu, gây thất thoát
thuế nhập khẩu và thuế xuất khẩu hàng hóa; làm cho thị trường hàng hóa bị rối loạn,
mất ổn định, làm cho sự cạnh tranh trên thị trường thiếu lành mạnh. Để đấu tranh
với hiện tượng tiêu cực này, Nhà nước ta đã đưa ra rất nhiều biện pháp để ngăn
chặn và tiến tới loại trừ hành vi này ra khỏi xã hội.
Sau Cách mạng Tháng tám 1945, Nhà nước đã ban hành một số văn bản pháp
phạm về kinh tế.
* Giai đoạn khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1985 đến trước khi ban
hành Bộ luật hình sự năm 1999
Trước bối cảnh nền kinh tế đất nước ngày càng phát triển mạnh mẽ, đời sống
nhân dân ngày càng được nâng cao nhưng kéo theo đó là tình hình tội phạm có xu
hướng tăng, thủ đoạn xảo quyệt hơn và diễn biến ngày càng phức tạp, Nhà nước ta
đã ban hành BLHS năm 1985 quy định cụ thể, đồng thời thống nhất về tội phạm và
hình phạt để đáp ứng công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong hoàn cảnh
mới, trong đó có tội phạm buôn lậu. Sự ra đời của BLHS năm 1985 đã đánh dấu
bước phát triển mới của ngành lập pháp hình sự nước ta. Trong BLHS 1985 (với 4
lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997) tội buôn lậu được quy
định trong cùng một điều luật với tội vận chuyển trái phép hàng hóa tiền tệ qua biên
giới tại Điều 97 với tên gọi “Tội buôn lậu hoặc vận chuyển trái phép hàng hóa, tiền
tệ qua biên giới”. Điều 97 BLHS 1985 được quy định như sau:
1. Người nào buôn bán trái phép hoặc vận chuyển trái phép qua biên giới hàng
hóa, tiền tệ Việt Nam, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý hoặc vật phẩm thuộc di
tích lịch sử, văn hóa thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.
2. Phạm tội trong những trường hợp sau đây thì bị phạt từ năm năm đến mười
hai năm:
a) Có tổ chức;
b) Vật phạm pháp có số lượng lớn hoặc giá trị lớn; thu lợi bất chính lớn;
c) Lợi dụng chiến tranh;
d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan Nhà nước,
tổ chức xã hội;
đ) Phạm tội nhiều lần hoặc tái phạm nguy hiểm.
3. Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười năm
đến hai mươi năm, tù chung thân.
Trong thời kỳ này, tội buôn lậu hoặc tội vận chuyển trái phép hàng hóa qua
biên giới lại được quan niệm là một tội phạm thuộc nhóm các tội xâm phạm an ninh
quốc gia.
a) Có tổ chức;
b) Có tính chất chuyên nghiệp;
c) Tái phạm nguy hiểm;
d) Vật phạm pháp có giá trị từ ba trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu
đồng;
đ) Hàng cấm có số lượng rất lớn;
e) Thu lợi bất chính lớn;
g) Lợi dụng chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh hoặc hoàn cảnh đặc biệt khó khăn
khác;
17
h) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;
i) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
k) Phạm tội nhiều lần;
l) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm
đến mười lăm năm:
a) Vật phạm pháp có giá trị từ năm trăm triệu đồng đến dưới một tỷ đồng;
b) Hàng cấm có số lượng đặc biệt lớn;
c) Thu lợi bất chính rất lớn;
d) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai
năm đến hai mươi năm, tù chung thân:
a) Vật phạm pháp có giá trị từ một tỷ đồng trở lên;
b) Thu lợi bất chính đặc biệt lớn;
c) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đồng đến ba mươi triệu
đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm
tình tiết này ra khỏi CTTP tội buôn lậu (Điều 188), đồng thời quy định chi tiết tại
Điều 190 Tội sản xuất, buôn bán hàng cấm làm cơ sở cho các CQTHTT viện dẫn và
áp dụng thống nhất pháp luật đối với hành vi buôn lậu hàng cấm.
Hai là, BLHS 2015 đã hoàn thiện các quy định pháp luật đối với tình tiết “thu
lợi bất chính lớn, rất lớn hay đặc biệt lớn” bằng việc thay thế quy định mang tính
định tính tại Điều 153 BLHS 1999: “thu lợi bất chính lớn”, “thu lợi bất chính rất
lớn” và “thu lợi bất chính đặc biệt lớn” bằng các quy định mang tính định lượng
tương ứng là “thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng”,
“thu lợi bất chính từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng” và “thu lợi
bất chính 1.000.000.000 đồng trở lên” (Điều 188 BLHS 2015). Bằng cách quy định
này, BLHS 2015 đã giải quyết dứt điểm tình trạng không có cách hiểu rõ ràng,
thống nhất dẫn tới không thể áp dụng tình tiết này trong truy tố và xét xử của các
CQTHTT.
Ba là, BLHS 2015 đã loại bỏ tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm
trọng hay đặc biệt nghiêm trọng ra khỏi cấu thành tội phạm tội buôn lậu.
Được xác định cụ thể là hành vi xâm hại đến quan hệ xã hội đảm bảo cho sự
ổn định và phát triển của nền kinh tế quốc dân và được pháp luật bảo vệ, cụ thể là
ảnh hưởng đến tình hình ngoại thương, hậu quả của tội phạm buôn lậu chỉ bao gồm
các hậu quả về mặt kinh tế. Những hậu quả khác mặc dù đều phát sinh từ hành vi
buôn lậu như hậu quả về mặt giáo dục (đối với hành vi buôn lậu các sản phẩm văn
hóa phản động, đồi trụy....), y tế (đối với hành vi buôn lậu các loại trang thiết
bị y tế chưa được phép sử dụng tại Việt Nam...), an ninh trật tự xã hội (đối với hành
vi buôn lậu ma túy...) hay thậm chí là cả quốc phòng, an ninh (đối với hành vi buôn
lậu vũ khí quân dụng…) đều sẽ được xem xét tại các tội danh cụ thể khác. Do vậy,
19
ngoài hậu quả về mặt kinh tế đã được quy định bởi các tình tiết số lượng hàng cấm
và thu lợi bất chính, không có khả năng người phạm tội bị truy tố về tội buôn lậu
5
20
Tóm lại, buôn lậu được coi là một tội phạm có tính truyền thống, tội phạm này
cũng có những thay đổi theo từng thời kỳ lịch sử. So với các giai đoạn trước, tội
buôn lậu trong BLHS 2015 đã được sửa đổi, bổ sung cả về dấu hiệu pháp lý cũng
như đường lối xử lý, phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm của loại tội phạm
này trong từng trường hợp cụ thể, đồng thời đáp ứng yêu cầu đấu tranh, phòng
chống tội phạm trong giai đoạn mới.
1.3. Tội buôn lậu theo quy định của Bộ luật hình sự năm 1999
1.3.1. Các dấu hiệu cấu thành tội phạm cơ bản của tội buôn lậu
1.3.1.1 Khách thể của tội buôn lậu
Khách thể của tội phạm là một trong những vấn đề trung tâm của khoa học
pháp hình sự. Luật hình sự Việt Nam trên cơ sở thừa nhận tính giai cấp của pháp
luật nói chung cũng như của luật hình sự nói riêng, khẳng định: “Khách thể của tội
phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại”.6 Nếu
một hành vi bất kỳ không xâm hại tới một trong các quan hệ xã hội được pháp luật
bảo vệ và quy định tại Điều 8 BLHS thì không thể coi là tội phạm. Khách thể của
tội phạm có ý nghĩa quan trọng đối với việc xác định tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, đối với việc định tội danh, quyết định hình
phạt trên thực tế.
BLHS Việt Nam đặt tội buôn lậu vào “Chương XVI – Các tội xâm phạm trật
tự quản lí kinh tế” cho thấy quan điểm rất rõ ràng của Nhà nước ta về việc xác định
khách thể của tội buôn lậu: đó là quan hệ xã hội đảm bảo cho sự ổn định và phát
triển của nền kinh tế quốc dân và được pháp luật bảo vệ. Nền kinh tế đó, theo
Khoản 1 Điều 51 Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 2013 là “nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
kinh tế; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. Hành vi xâm hại tới quan hệ xã hội
- Vũ khí thô sơ hoặc công cụ hỗ trợ (Điều 233);
- Vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ (Điều 234, Điều 235);
- Chất phóng xạ (Điều 236, Điều 237);
- Chất cháy, chất độc (Điều 238);
- Văn hoá phẩm đồi trụy (Điều 253).
Tiền Việt Nam: Đồng tiền trong tội buôn lậu không thực hiện chức năng trao
đổi hay thanh toán thông thường mà nó được coi là hàng hóa, là đối tượng của hành
vi mua bán. Tiền là đối tượng của tội buôn lậu phải là tiền Việt Nam hiện hành (do
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành). Đồng tiền Việt Nam đang lưu hành hiện
nay gồm tiền giấy (cotton hoặc polymer) và tiền kim loại (tiền xu).8
Ngoại tệ: được hiểu là tiền nước ngoài, không phải là đồng tiền do Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam phát hành. Trên thực tế có thể hiểu, ngoại tệ là đồng tiền nước
Wikimedia Foundation,Inc, “Hàng Hóa”, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, tại địa chỉ:
https://vi.wikipedia.org/wiki/H%C3%A0ng_h%C3%B3a, ngày truy cập 10/06/2016.
8
Wikimedia Foundation,Inc, “Đồng (Tiền)”, Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, tại địa chỉ:
https://vi.wikipedia.org/wiki/%C4%90%E1%BB%93ng_(ti%E1%BB%81n) ngày truy cập
10/06/2016.
7
22
ngoài hoặc đồng tiền chung của một nhóm nước thống nhất phát hành, bao gồm tiền
giấy, tiền kim loại còn hiệu lực lưu hành.9
Kim khí quý, đá quý: là các loại kim khí, đá thuộc loại quý hiếm dạng tự
nhiên hoặc các chế phẩm làm từ kim khí quý, đá quý theo danh mục do Nhà nước
Việt Nam ban hành. Theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 3 Thông tư
17/2014/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 15 tháng 09 năm 2014 của Ngân hàng Nhà
23
luật thương mại về hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh và kinh
doanh có điều kiện, danh mục hàng cấm bao gồm 19 loại hàng hóa sau:
1. Vũ khí quân dụng, trang thiết bị, kỹ thuật, khí tài, phương tiện chuyên
dùng quân sự, công an; quân trang (bao gồm cả phù hiệu, cấp hiệu, quân
hiệu của quân đội, công an), quân dụng cho lực lượng vũ trang; linh kiện,
bộ phận, phụ tùng, vật tư và trang thiết bịg chương, tác
giả xin phép đi vào phân tích quyết định hình phạt, không tóm tắt lại vụ án.
Trong vụ án buôn lậu 1596,535 tấn than cám, loại than cám 5 từ Việt Nam
sang Trung Quốc, khi quyết định hình phạt cho bị cáo Nguyễn Văn Giới, TAND
tỉnh Quảng Ninh đã căn cứ quyết định hình phạt như sau:
- Về căn cứ vào các quy định của BLHS: Căn cứ vào hành vi phạm tội của bị
cáo được thể hiện cùng với giá trị vật phạm pháp: tổng số giá trị số than trên hai tàu
trị giá 1.085.643.800 VNĐ (Một tỉ, không trăm tám mươi năm triệu, sáu trăm bốn
74
mươi ba nghìn, tám trăm đồng) và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đối chiếu
với các quy định của phần Các tội phạm của BLHS, đủ căn cứ kết luận: Bị cáo
Nguyễn Văn Giới phạm tội “Buôn lậu” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 153
BLHS.
- Về căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm
tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm tới các quy
định của Nhà nước về quản lý, điều tiết các hoạt động kinh doanh, thương mại, làm
ảnh hưởng đến sự ổn định cũng như công tác quản lý nền kinh tế của đất nước. Bị
cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm
pháp luật song vì tham lợi bất chính, ý thức coi thường pháp luật, bị cáo vẫn cố ý
Văn Giới nhẹ hơn quy định của Bộ luật mà trong bản án ghi nhận là căn cứ vào quy
định tại Điều 47 BLHS do có hai tình tiết giảm nhẹ TNHS. Tuy nhiên, trong phần
buộc tội, bản án chỉ đưa ra một tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại khoản 1 Điều
46 là điểm p – “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”. Theo quy
định tại Điều 47, phải có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46,
Tòa mới được phép áp dụng Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật.
Thứ hai, trong phần xét thấy, TAND tỉnh Quảng Ninh kết luận vai trò của bị
cáo Nguyễn Văn Giới chỉ là người giúp sức cho ABa thực hiện hành vi phạm tội
nên có vai trò sau ABa, do vậy thuộc trường hợp đồng phạm theo khoản 1 và khoản
2 Điều 20, Điều 53 BLHS “Quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm”.
Tuy nhiên, ngay tại mục 2.1.2.3, tác giả đã phân tích việc VKSND tỉnh Quảng Ninh
trong vụ án này không truy tố bị can ABa, TAND tỉnh Quảng Ninh không trả hồ sơ
điều tra bổ sung trong trường hợp “có căn cứ để cho rằng bị cáo phạm một tội khác
hoặc có đồng phạm khác” (điểm b, khoản 1 Điều 179 BLTTHS), vậy vì Tòa cũng
không có lí do để áp dụng quy định pháp luật về đồng phạm theo khoản 1 và khoản
2 Điều 20, Điều 53 BLHS nhằm giảm nhẹ TNHS cho bị cáo Nguyễn Văn Giới
trong vụ án.
Quyết định hình phạt là một giai đoạn chiếm vị trí đặc biệt trong quá trình áp
dụng pháp luật hình sự, là giai đoạn mà Tòa án nhân danh Nhà nước và tuyên bố áp
dụng hình phạt cụ thể đối với người phạm tội, thể hiện sự lên án của Nhà nước đối
với người phạm tội về hành vi phạm tội mà họ đã thực hiện, đồng thời trừng trị họ.
Đây là một giai đoạn khó, đòi hỏi sự chính xác trong kết quả của các giai đoạn
TTHS trước đó và chuyên môn cao, phầm chất đạo đức tốt của người THTT. Qua
nghiên cứu 15 bản án điển hình trong giai đoạn từ 2010 – 2015, có 11 bản án quyết
định hình phạt tác giả đánh giá là tương xứng với hành vi phạm tội, chiếm 73% tổng
số lượng bản án, 3 bản án quyết định hình phạt chưa tương xứng với hành vi phạm
tội, chiếm 27% tổng số lượng bản án nghiên cứu. Đây cũng là kết quả đáng mừng
đối với một tỉnh thuộc vùng Đông Bắc, nơi mà số lượng thẩm phán còn ít và hạn
chế trong chuyên môn nghiệp vụ như Quảng Ninh.
2.2.2. Một số vấn đề vướng mắc trong việc quyết định hình phạt tội buôn lậu