VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐẶNG XUÂN SƠN
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học:
TS. PHẠM MINH TUYÊN
Phản biện 1: PGS.TS HỒ SỸ SƠN
Phản biện 2: PGS.TS BÙI MINH THANH
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học Viện Khoa học Xã hội vào lúc: 13 giờ, ngày 18 tháng 10
năm 2017
Có thể tìm hiểu luận văn tại:
- Thư viên Học viện Khoa học Xã hội
quyết định hình phạt, bảo đảm tăng cường hiệu quả áp dụng pháp luật
đối với tội danh này trong tình hình hiện nay. Học viên đã mạnh dạn
1
chọn đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp
luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn tỉnh Thanh Hóa” làm đề tài
nghiên cứu của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội LDTNCĐTS không phải là vấn đề mới và đã có khá nhiều
công trình khoa học, các bài viết đề cập đến loại tội phạm này, như:
TS. Nguyễn Ngọc Chí, Chương VI - Các tội xâm phạm sở hữu,
trong: “Giáo trình Luật hình sự Việt Nam” phần các tội phạm; tập
thể tác giả do GS. TSKH Lê Cảm chủ biên, Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản –
Một số vướng mắc trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện”; Tác giả
Hoàng Thị Hạnh với công trình nghiên cứu “Tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản theo quy định của Bộ luật hình sự”. Bên cạnh đó
còn có một số bài viết trên các tạp chí khoa học chuyên ngành, các
nghiên cứu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản dưới góc độ
tội phạm học hay dưới góc độ luật hình sự ...Tuy nhiên, chưa có bất
kì một công trình nghiên cứu về thực tiễn định tội danh và quyết định
hình phạt đối với tội LDTNCĐTS trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất ra các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật, nâng cao
có hiệu quả của công tác áp dụng pháp luật đối với loại tội phạm
LDTNCĐTS trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, phân tích các quy định của Bộ Luật hình sự và
nạp, diễn dịch, mô tả ... và các phương pháp nghiên cứu của khoa học
hình sự.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Về lý luận: Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần làm rõ
hơn lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Về thực tiễn: Có thể là nguồn tài liệu tham khảo trong quá
trình điều tra, truy tố, xét xử đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản. Một số đề xuất, kiến nghị của luận văn sẽ cung cấp
3
những luận cứ khoa học phục vụ cho hoạt động thực tiễn áp dụng Bộ
luật hình sự Việt Nam liên quan đến tội LDTNCĐTS, qua đó góp
phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội này ở
tỉnh Thanh Hóa hiện nay và thời gian tới.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội Lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Chương 2: Định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội
Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Các giải pháp hoàn thiện pháp luật nâng cao hiệu
quả áp dụng pháp luật hình sự về tội LDTNCĐTS
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ TỘI LẠM
DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
1. 1. Lịch sử hình thành và phát triển quy phạm pháp luật hình sự
Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Ngày 17/6/1985 BLHS đầu tiên của nước CHXHCN Việt
Nam được Quốc hội thông qua và có hiệu lực kể từ ngày 01/01/1986,
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lúc bấy giờ được quy định
tại Điều 135 và Điều 158. Do phải đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng
chống tội phạm trong tình hình đất nước phát triển, BLHS năm 1985 tiếp
tục có bốn lần sửa đổi vào các năm 1989, 1991, 1992 và 1997.
1.1.4. Giai đoạn bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực thi
hành
Ngày 21/12/1999 Quốc hội khóa X nước CHXHCN Việt
Nam đã thông qua BLHS năm 1999 và có hiệu lực từ ngày
01/7/2000. Các tội trong chương xâm phạm sở hữu XHCN và
chương xâm phạm sở hữu của công dân đã được nhập lại thành một
chương duy nhất: “Các tội xâm phạm sở hữu”. Ngày 19/6/2009,
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII, kỳ
5
họp thứ 5 đã họp và thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của
BLHS năm 1999. Theo đó, kể từ ngày 01/01/2010 giá trị tài sản bị
chiếm đoạt tại khoản 1 Điều 140 BLHS năm 1999 đã được thay đổi
từ mức một triệu đồng lên bốn triệu đồng.
1.2. Khái niệm và các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.1.1. Khái niệm
Tội LDTNCĐTS là hành vi của chủ thể có năng lực trách
nhiệm hình sự (TNHS) và đạt độ tuổi theo quy định của pháp luật
hình sự đã vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được
tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng hoặc dưới bốn
triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành
1.3. Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
với các giao dịch dân sự, kinh tế và một số tội phạm có liên quan
1.2.1 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
với các giao dịch dân sự, kinh tế
Tội LDTNCĐTS và các giao dịch dân sự, kinh tế đều có những
điểm giống nhau đó là: các bên đã giao kết xác lập một giao dịch dân
sự, kinh tế hoàn toàn ngay thẳng, hợp pháp dưới hình thức hợp đồng.
Tuy nhiên, để phân biệt tội LDTNCĐTS với các giao dịch dân sự,
kinh tế, phải chứng minh được yếu tố chiếm đoạt hoặc sử dụng tài
sản đó vào mục đích bất hợp pháp, dùng thủ đoạn gian dối, hoặc đến
thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình
không trả, bỏ trốn để nhằm chiếm đoạt tài sản đó.
1.2.2. Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
với một số tội danh khác
* Phân biệt tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo
chiếm đạt tài sản:
Điểm khác nhau cơ bản nhất giữa hai tội này là mục đích
chiếm đoạt xuất hiện trước hay sau khi nhận được tài sản.
Ở tội LDTNCĐTS, người phạm tội nhận được tài sản một cách
ngay thẳng hợp pháp thông qua một giao dịch dân sự, kinh tế; lúc đó
người phạm tội chưa có ý thức chiếm đoạt, chỉ sau khi nhận được tài
7
sản thì họ mới có ý thức chiếm đoạt. Còn ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản, việc thông qua các hợp đồng dân sự, kinh tế, chỉ là một dạng của
hành vi lừa đảo và người phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài sản từ
trước.
* Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội
tham ô tài sản
BLHS năm 2015, điều 175 so với điều 140 BLHS năm 1999:
Một là, thay đổi về nội hàm của khái niệm “hành vi lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điều 175 BLHS năm 2015 quy định
thêm hành vi “đến thời hạn trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện, khả
năng trả nhưng cố tình không trả” là dấu hiệu khách quan của tội
LDTNCĐTS.
Hai là, thay đổi về các dấu hiệu định khung hình phạt:
BLHS năm 2015 cụ thể hóa một số dấu hiệu định khung điểm
e khoản 2, điểm b khoản 3, điểm b khoản 4 BLHS năm 1999 là sử
dụng các tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng”, “gây hậu quả rất
nghiêm trọng”, “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” làm tình tiết
định khung hình phạt. Điều 175 còn bổ sung thêm dấu hiệu định
khung hình phạt mới, đó là tình tiết “phạm tội có tính chất chuyên
nghiệp”, điểm b, khoản 2; tình tiết gây ảnh hưởng xấu đến an ninh,
trật tự an toàn xã hội, điểm b, khoản 3; đã bị xử phạt vi phạm hành
chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm hoặc đã bị kết án
về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172,
173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi
phạm hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị
hại (khoản 1 điều 175 BLHS năm 2015).
Ba là, thay đổi về các mức hình phạt
BLHS năm 2015, điều 175 bỏ hình phạt tù chung thân trong
một số tội, trong đó có tội “ lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
Các mức hình phạt quy định tại các khoản 3, 4, 5 điều 175
BLHS năm 2015 đều theo hướng có lợi hơn cho người phạm tội so
với các khoản 3, 4, 5 điều 140 BLHS năm 1999.
9
Chương 2
này quy định cấu thành tội phạm mà nhờ đó ta xác định được sự phù
hợp của các dấu hiệu của một hành vi nguy hiểm cho xã hội cụ thể
được coi là cơ sở thực tế của việc định tội. Điều 2 Bộ luật hình sự
năm 1999 đã quy định nguyên tắc “Chỉ người nào phạm tội đã được
luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”.
2.1.3. Thực trạng việc định tội danh lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
* Khái quát tình hình định tội danh “Lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản” trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Từ năm 2012 đến năm 2016 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đã
xảy ra 10.187 vụ phạm tội với 19.105 bị cáo, trong đó, vụ phạm tội
LDTNCĐTS là 173 vụ (chiếm 1.69%) với 192 bị cáo (chiếm 1,05%);
số vụ phạm tội LDTNCĐTS có năm tăng, có năm giảm, nhưng nhìn
chung là có xu hướng gia tăng. Nếu so với năm 2012 thì năm 2016 số
vụ phạm tội tăng 1,03%.
* Định tội danh theo cấu thành tội phạm cơ bản
Thực tiễn định tội danh theo cấu thành tội phạm cơ bản tội
LDTNCĐTStừ 2012 – 2016 trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa chỉ diễn ra
ở các cơ quan tiến hành tố tụng cấp huyện với 116 vụ án, không có
vụ án nào diễn ra ở cơ quan tiến hành tố tụng cấp tỉnh. Phần lớn các
vụ án được định tội danh theo điểm a khoản 1 Điều 140 BLLHS năm
1999. Số ít vụ án có hành vi cấu thành tội phạm tại điểm b khoản 1
Điều 140 BLHS
11
+ Định tội danh theo khách thể của tội phạm: Từ năm 2012 –
2016, các vụ án LDTNCĐTS trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa đều xâm
phạm tới tài sản thuộc sở hữu của công dân = 97,1%, còn lại là sở
sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả
năng trả lại tài sản.
* Định tội danh theo cấu thành tội phạm tăng nặng
Tội LDTNCĐTS theo quy định tại Điều 140 BLHS có 3
khung tăng nặng từ khoản 2 đến khoản 4 với nhiều tình tiết định
khung tăng nặng khác nhau, tuy nhiên thực tiễn xét xử trong các năm
2012-2016 TAND hai cấp tỉnh Thanh Hóa chỉ giải quyết xét xử các
vụ án có các tình tiết định khung tăng nặng sau:
Thứ nhất, chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 50 triệu đồng đến
dưới 200 triệu đồng: có 33/156 vụ án (chiếm 21,15%) và có 43/172
bị cáo (chiếm 25%) được Tòa án hai cấp của tỉnh Thanh Hóa xét xử
sơ thẩm.
Thứ hai, tái phạm nguy hiểm theo Điểm đ khoản 2 Điều 140
BLHS năm 1999; Điểm e khoản 2 Điều 175 BLHS năm 2015: chiếm
số lượng ít, chỉ có 03 vụ án, chiếm 1.7% với 03 bị cáo
Thứ ba, theo Khoản 3 Điều 140 BLHS năm 1999 và Khoản 3 Điều
175 BLHS năm 2015: chiếm tỷ lệ không nhiều, chỉ có 16 vụ = 9,2%
* Tình tiết định khung tăng nặng: Khoản 4 Điều 175 BLHS
năm 2015: Phạm tội chiếm đoạt tài sản có giá trị từ 500 triệu trở lên.
Đây là tình tiết định khung tăng nặng cuối cùng của tội
LDTNCĐTS theo quy định tại Điều 175 BLHS năm 2015.
Trong 5 năm, cấp sơ thẩm TAND tỉnh Thanh Hóa xét xử 6 vụ, 07 bị
cáo bị truy tố và xét xử theo điểm a khoản 4 Điều 140 BLHS. Trong
số 6 bản này có 2 bản án xét xử các bị cáo về các tội “Lừa đảo chiếm
đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản" trong cùng
một bản án.
Khung áp dụng tình tiết gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
theo điểm b khoản 4 điều 140 BLHS. Bộ luật hình sự năm 2015 Điều
175 đã phi hình sự hóa tình tiết định khung tăng nặng này
14
2.2.2. Thực tiễn quyết định hình phạt đối với tội “Lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
TAND tỉnh Thanh Hóa trong thời gian từ năm 2012 đến năm
2016 đã QĐHP đối với 192 bị cáo phạm tội LDTNCĐTS. Trong đó,
cấp sơ thẩm có 172 bị cáo, gồm: cải tạo không giam giữ 02 bị cáo,
cho hưởng án treo 49 bị cáo, tù từ 3 năm trở xuống chiếm số lượng
lớn nhất là 102 bị cáo, tù từ 3 năm đến 7 năm có 11 bị cáo, tù từ trên
7 năm đến 15 năm là 8 bị cáo; cấp phúc thẩm có 20 bị cáo, trong đó
có 01 bị cáo tăng hình phạt, 05 bị cáo giảm hình phạt, 10 bị cáo giữ
nguyên hình phạt, 01 bị cáo chuyển từ án tù sang tù, cho hưởng án;
02 vụ và 02 bị cáo hủy án sơ thẩm để xét xử lại và hủy bản án sơ
thẩm do có tình tiết mới 01vụ với 01 bị cáo
Trong tổng số 192 bị cáo có 02 bị cáo bị áp dụng hình phạt bổ
sung; 07 bị cáo tái phạm, tái phạm nguy hiểm; 15 bị cáo là người dân tộc
thiểu số và 01 bị cáo là đảng viên. Trong thời gian trên chưa có bị cáo
nào bị xử phạt trên 15 năm tù giam hoặc bị xử phạt tù chung thân.
Qua phân tích số liệu thống kê và đọc trên 100 bản án, TAND
hai cấp tỉnh Thanh Hóa xét xử theo khoản 1, 2 Điều 140 BLHS năm
1999 là chủ yếu. Tòa án chỉ áp dụng khung hình phạt chính đối với
các bị cáo.
* Quyết định hình phạt theo tính chất và mức độ nguy hiểm
cho xã hội của hành vi phạm tội
Khi QĐHP đối với người phạm tội, ngoài việc căn cứ vào các
quy định của BLHS, Tòa án hai cấp tỉnh Thanh Hóa còn cân nhắc
đến tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội,
Tòa án đã dựa vào những tình tiết, tính chất và mức độ lỗi, tính chất
nào khác là tình tiết tăng nặng TNHS cho bị cáo.
Thứ tư, khi có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 4
điều 46 BLHS. Tòa án có thể quyết định một hình phạt dưới mức thấp
nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn của điều luật quy định. Đối
với các tình tiết tăng nặng TNHS thì Tòa án cũng không được quyết
định hình phạt vượt quá giới hạn mức tối đa của khung hình phạt.
16
* Một số vấn đề vướng mắc trong việc quyết định hình phạt về
tội lạm dụng tín nhiếm chiếm đoạt tài sản
- Trường hợp “Bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản”. Trường hợp này
vẫn chưa được các cơ quan có thẩm quyền giải thích, hướng dẫn.
- Trường hợp vay, mượn tiền với số lượng lớn sau đó ăn chơi,
tiều sài hoang phí dẫn đến không có khả năng trả nợ, lại không bị coi
là phạm tội-trường hợp sử dụng tài sản sai mục đích, sai cam kết ban
đầu dẫn đến không còn khả năng chi trả lại chưa có quy định để xử lý
TNHS.
- BLHS năm 2015 đã khắc phục một phần là: “Nếu đến thời
hạn trả lại tài sản, mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình
không trả”, nhưng để xác định được căn cứ chứng minh này cần phải
có văn bản hướng dẫn pháp luật áp dụng cụ thể, rõ ràng và thống
nhất.
- Về tình tiết định tội: 4 triệu đồng trở lên nhưng tội lừa đảo
chiếm đoạt chỉ quy định 2 triệu. So với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài
sản” thì tính nguy hiểm của tội LDTNCĐTS có tính chất nguy hiểm
và hậu quả xảy ra tương đương nhau.
- Về tình tiết “Phạm tội có tính chất chuyên nghiệp” khi có đầy
đủ các điều kiện sau: Mục 5.1 Nghị quyết 01, ngày 12/5/2016 của
- Về tình tiết “… Hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó”. Tình
tiết nàyđược xem như là một dấu hiệu, căn cứ để xác định hành vi
phạm tội của tội LDTNCĐTS. Trên thực tế, những người nhận được
tài sản thông qua các hình thức hợp đồng ngay thẳng (vay, mượn,
thuê tài sản) sau đó bỏ trốn sẽ thuộc một trong các trường hợp:
18
Thứ nhất, Vì một lý do nào đó họ không còn khả năng trả lại tài sản,
có thể vì lý do khách quan như, hành vi không trả lại tài sản của người đó
không có lỗi cố ý trực tiếp nên không phải là hành vi chiếm đoạt.
Trường hợp lý do dẫn đến việc người đó không có khả năng trả
lại tài sản là do lỗi chủ quan. Người đó đã sử dụng tài sản vào mục
đích bất hợp pháp là sự định đoạt trái pháp luật của chủ thể đối với
tài sản không phải là của mình, những trường hợp này đã được quy
định là một hành vi khách quan của tội LDTNCĐTS.
Thứ hai, Người đó có hành vi bỏ trốn nhưng có khả năng trả lại
tài sản nhưng bỏ trốn cùng với số tài sản nhận được. Trường hợp này
trùng với trường hợp “đến thời hạn trả lại tài sản, mặc dù có điều
kiện, khả năng nhưng cố tình không trả” chính hành vi bỏ trốn cùng
số tài sản nhận được đã thể hiện thái độ cố tình không trả của chủ thể
trách nhiệm hình sự.
Khi sửa đổi bộ luật hình sự năm 2017, nhà làm luật lại tiếp tục
hình sự hóa tình tiết “hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản”. Để quy
định này thực sự đi vào cuộc sống, tránh tình trạng bỏ lọt người phạm
tội; làm oan người vô tội hoặc hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế,
các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cần thiết phải có văn bản
hướng dẫn cụ thể về tình tiết này để pháp luật được áp dụng thống
nhất và cụ thể.
- Cần phải sửa đổi, hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp
để tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các hoạt động giám định, định giá
tài sản.
3.1.2. Ban hành án lệ
Cần phải phát triển án lệ nhằm tránh sự tùy tiện của các cơ
quan tiến hành tố tụng khi xử lý hành vi phạm tội giúp cho các Thẩm
phán đối chiếu, tham khảo để đưa ra phán quyết đúng, góp phần làm
kết quả xét xử của tòa án được khách quan, chính xác, công bằng,
đúng pháp luật.
3.1.3. Cần quy định niềm tin nội tâm là căn cứ để quyết định
hình phạt
20
Bộ luật hình sự hiện quy định 4 căn cứ để QĐHP, gồm: Căn
cứ vào các quy định của BLHS; căn cứ vào tính chất và mức độ nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; căn cứ vào nhân thân người
phạm tội; căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm
hình sự.
Theo tác giả, các nhà làm luật cần nghiên cứu để ghi nhận
thêm một căn cứ để quyết định hình phạt đó là “niềm tin nội tâm”.
Bởi vì: Nguyên tắc khi xét xử, thẩm phán độc lập và chỉ tuân theo
pháp luật được quy định trong các bản hiến pháp của Việt Nam và
các đạo luật khác được ban hành như BLTTHS, BLTTDS; không phụ
thuộc vào bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào khi đưa ra các nhận định
đánh giá và phán quyết của mình về vụ án. Khi giải thích, áp dụng
các chuẩn mực, thẩm phán cần hành động dựa vào pháp luật và niềm
tin nội tâm. Niềm tin chính là bộ lựa chọn thông tin và chỉ lối cho
mọi hành động, nó được xuất phát từ những gì mình cho là đúng và
niềm tin nội tâm được hình thành bên trong trái tim của những người
3.3. Giải pháp nâng cao năng lực nhận thức và trình độ
chuyên môn, kỹ năng vận dụng quy định pháp luật hình sự về tội
“Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”
- Các cơ quan tiến hành tố tụng cần thường xuyên tổ chức
các lớp đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ,
năng lực thực hiện, tuyên truyền, giáo dục đào tạo nghề nghiệp cho
cán bộ ngành mình nhằm nâng cao năng lực nhận thức và vận dụng
quy định của pháp luật.
- Mỗi cán bộ, đảng viên phải không ngừng rèn luyện, tu dưỡng
phẩm chất đạo đức chính trị, học tập nâng cao trình độ chuyên môn,
năng lực thực tiễn, phát triển toàn diện đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc trong thời đại ngày nay.
- Cần tăng cường cơ chế phối hợp hoạt động qua các cơ quan
tiến hành tố tụng. Duy trì việc tổ chức giao ban định kỳ đối với liên
ngành, thông qua đó tháo gỡ khó khăn, vướng mắc để đi đến phương
án xử lý chính xác, đúng pháp luật
22
- Công khai các bản án đã có hiệu lực pháp luật để đảm bảo
tính khách quan, minh bạch đối với mỗi quyết định của cơ quan được
nhân danh Nhà nước, giúp nhân dân theo dõi và giám sát một cách
thiết thực việc thực thi pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Tăng cường công tác tổng kết, rút kinh nghiệm, phổ biến chia
sẻ kinh nghiệm làm việc giải quyết các vụ việc hình sự nói chung và
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng
- Tăng cường đầu tư trang bị các thiết bị, phương tiện cơ sở vật
chất để hỗ trợ tốt cho quá trình điều kiện làm việc cải cách chế độ
tiền lương, bảo đảm cuộc sống cho đội ngũ cán bộ tiến hành tố tụng.