Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố đà nẵng (tóm tắt) - Pdf 42

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN, tình hình kinh tế xã hội nước ta đã có những bước
phát triển mạnh mẽ, kéo theo sự thay đổi về mọi mặt trong đời sống
xã hội. Bên cạnh những mặt tích cực, năng động do nền kinh tế thị
trường mang lại thì mặt trái của cơ chế thị trường đã có những tác
động tiêu cực đến đời sống xã hội như: sự tha hoá trong lối sống, tệ
nạn xã hội và đặc biệt là tội phạm có điều kiện phát sinh, tồn tại.
Trong đó, có tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, đây là một trong những
tội xâm phạm sở hữu có diễn biến phức tạp, ngày càng gia tăng với
nhiều thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt.
Với diễn biến phức tạp của loại tội phạm này, các cơ quan THTT
của TP Đà Nẵng, mặc dù đã nỗ lực nhưng vẫn còn những hạn chế nhất
định như: chưa kịp thời, chưa toàn diện và từ đó mới chỉ đáp ứng phần
nào công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm. Việc nghiên cứu tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản dưới một góc nhìn thực tiễn tại địa phương
không chỉ có ý nghĩa quan trọng về mặt lý luận mà còn có ý nghĩa
trong thực tiễn áp dụng của công tác định tội danh và QĐHP, nhằm
đưa ra những giải pháp hoàn thiện chế định này trong BLHS Việt
Nam. Chính vì vậy, tác giả đã chọn đề tài: “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Đà Nẵng”
để nghiên cứu làm đề tài luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm qua, các tội xâm phạm sở hữu đã được đề cập
trong một số công trình khoa học nghiên cứu về luật hình sự, trong
các tập bình luận khoa học về luật hình sự, các luận văn thạc sĩ, tiến
1


sĩ của một số tác giả nghiên cứu các nội dung liên quan đến đề tài



Hai là, trình bày những vấn đề lý luận về áp dụng các quy định
đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản từ thực tiễn TP Đà Nẵng trong
05 năm từ năm 2012 đến năm 2016.
Ba là, nêu và phân tích các yêu cầu đối với áp dụng các quy định
của pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu: Luận văn lấy các quan điểm khoa
học pháp lý hình sự, các quy định của pháp luật hình sự, thực tiễn
định tội danh và thực tiễn QĐHP đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản trên địa bàn TP Đà Nẵng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản dưới góc độ chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình
sự. Luận văn tập trung phân tích thực tiễn hoạt động định tội danh
cũng như QĐHP đối với loại tội phạm này trên địa bàn TP Đà Nẵng
trong thời gian từ năm 2012-2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận: Đề tài được nghiên cứu dựa trên cơ sở
lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin về Chủ nghĩa duy vật biện chứng
và Chủ nghĩa duy vật lịch sử; Tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm
của Đảng ta về Nhà nước và pháp luật, về tội phạm, hình phạt và về
phòng ngừa tội phạm.
5.2. Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp tổng hợp, phương
pháp thống kê, phương pháp lịch sử và hệ thống, phương pháp phân
tích và so sánh,…
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận: Đề tài nghiên cứu một cách toàn diện, sâu
sắc với cái nhìn tổng quan nhất, đặt trong mối quan hệ biện chứng
các vấn đề lý luận góp phần làm phong phú thêm lý luận nhận thức

vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS; do người có
năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm hại đến
quyền sở hữu tài sản của Nhà nước, tổ chức và cá nhân.
4


Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong các tội phạm xâm
phạm sở hữu. Vì vậy, khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải
thoả mãn khái niệm chung của các tội xâm phạm sở hữu, đồng thời
phải thoả mãn các dấu hiệu đặc thù riêng.
Có thể hiểu khái niệm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau:
“Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là một trong những tội xâm phạm sở
hữu, có hành vi dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của
người khác, do người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự thực hiện
một cách cố ý, xâm phạm đến quan hệ sở hữu về tài sản”.
Tội phạm là thể thống nhất của bốn yếu tố: Khách thể; Mặt
khách quan; Chủ thể; Mặt chủ quan.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý hình sự của tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản
1.1.2.1. Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Khách thể của tội phạm là những quan hệ xã hội được luật hình
sự bảo vệ và bị tội phạm xâm hại.
Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ xâm phạm đến
quan hệ sở hữu. Nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản, người phạm
tội bị đuổi bắt mà có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người
hoặc gây thương tích... thì tuỳ từng trường hợp cụ thể mà người
phạm tội còn phải bị truy cứu TNHS về tội giết người hoặc tội cố ý
gây thương tích...
1.1.2.2. Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Các dấu hiệu đặc trưng của mặt khách quan:

Chủ thể của tội phạm là người có năng lực TNHS, đạt độ tuổi
luật định và đã thực hiện hành vi phạm tội cụ thể. Chỉ những người
có lỗi trong khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội mới có thể là
chủ thể của tội phạm.
Chủ thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản phải thoả mãn cả về
độ tuổi, đó là người từ 14 tuổi trở lên.
1.1.2.4. Mặt chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Những dấu hiệu cơ bản của mặt chủ quan của tội phạm là: Lỗi,
động cơ và mục đích phạm tội.
6


* Dấu hiệu lỗi trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:
Về lý trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho
xã hội của hành vi mà mình thực hiện là xâm phạm sở hữu của người
khác, nhận thức rõ thủ đoạn gian dối đưa ra hoàn toàn không có thật.
Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hành vi lừa dối có kết quả
là chiếm đoạt được tài sản của người khác.
* Dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội:
Động cơ phạm tội được hiểu là động cơ bên trong thúc đẩy
người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội.
Mục đích phạm tội là kết quả trong ý thức chủ quan mà người
phạm tội hướng tới nhằm đạt được khi thực hiện tội phạm.
1.1.3. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với một số tội
phạm khác
1.1.3.1. Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Hai tội này chỉ khác nhau về mặt khách quan.
Ở tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Người phạm tội có mục đích
chiếm đoạt tài sản trước khi thực hiện việc ký kết hợp đồng. Hành vi

luật hình sự Việt Nam về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
1.2.1. Khái quát lịch sử lập pháp hình sự về tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản
1.2.1.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến trước năm 1985
Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, nước ta đã ban hành
những văn bản pháp luật hình sự quy định việc trừng trị các tội xâm
phạm tài sản XHCN, như: Sắc lệnh số 26-SL ngày 25/2/1946; Sắc
lệnh số 223-SL ngày 27/11/1946; Sắc lệnh số 267-SL ngày
15/6/1956... Năm 1970, Nhà nước đã ban hành 2 Pháp lệnh vào ngày
23/10/1970. Đó là: Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản
XHCN do Lệnh số 149-LCT và Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm
tài sản riêng của công dân nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do
Lệnh số 150-LCT công bố. Ngày 15/3/1976, Hội đồng Chính phủ
Cách mạng lâm thời đã ban hành Sắc lệnh số 03-SL/76.
1.2.1.2. Giai đoạn từ năm 1985 đến trước năm 1999
Ngày 09/7/1985, BLHS năm 1985 đã được Quốc hội khóa VI
8


ban hành và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1986. Tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản XHCN được quy định tại Điều 134 BLHS. Tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản của công dân được quy định tại Điều 157
BLHS. Qua quá trình áp dụng, BLHS năm 1985 đã được sửa đổi 04
lần vào các năm 1990, 1991, 1993 và 1997. Dù qua nhiều lần sửa đổi
bổ sung, BLHS năm 1985 vẫn duy trì 2 Chương về các tội xâm phạm
sở hữu - XHCN và công dân.
1.2.1.3. Giai đoạn từ năm 1999 (Bộ luật hình sự 1999 có hiệu
lực) đến nay
Tại kỳ họp thứ VI, Quốc hội khóa 10, BLHS mang số hiệu
15/1999/QH10 đã được thông qua (gọi tắt là Bộ luật hình sự năm

Thứ tư: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa
cơ quan, tổ chức.
Thứ năm: Dùng thủ đoạn xảo quyệt.
Thứ sáu: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng
đến dưới hai trăm triệu đồng.
Thứ bảy: Gây hậu quả nghiêm trọng.
1.2.2.3. Khung tăng nặng thứ hai (khoản 3 Điều 139 Bộ luật
hình sự 1999)
Ngoài tình tiết chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng
đến dưới năm trăm triệu đồng, thì tình tiết lừa đảo chiếm đoạt tài sản
“gây hậu quả rất nghiêm trọng” được hiểu là trường hợp hành vi tội
lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã gây thiệt hại về thể chất, về tài sản,
thiệt hại phi vật chất cho người bị hại cũng như cho xã hội.
1.2.2.4. Khung tăng nặng thứ ba (khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình
sự 1999)
Theo khoản 4 Điều 139 BLHS 1999, cấu thành tội phạm này
ngoài các dấu hiệu định tội còn có một trong những các dấu hiệu:
“a. Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;
b. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”.
Tình tiết “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” được hiểu là
trường hợp hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã gây ra
những thiệt hại về thể chất, về tài sản, thiệt hại phi vật chất cho người
10


bị hại cũng như cho xã hội lớn hơn so với trường hợp “gây hậu quả
rất nghiêm trọng”.
1.2.2.5. Hình phạt bổ sung (khoản 5 Điều 139 Bộ luật hình sự
1999)
Theo quy định tại khoản 5 Điều 139 BLHS thì ngoài hình phạt

hiệu của CTTP về tội danh có hướng lựa chọn; Bước 3 - So sánh, đối
chiếu hai quá trình ở bước 1 và bước 2; Bước 4 - Ra bản án và các
quyết định có căn cứ, bảo đảm sức thuyết phục về 3 bước trên để xác
định tội danh cần áp dụng.
- Ý nghĩa của định tội danh được quyết định bởi hai xu hướng:
định tội danh đúng hoặc định tội danh sai.
+ Định tội danh đúng là tiền đề cho việc phân hóa TNHS và cá
thể hóa hình phạt một cách công minh, có căn cứ pháp luật.
+ Định tội danh sai sẽ dẫn đến việc QĐHP sai. Những vụ việc
oan sai chủ yếu bắt nguồn từ việc đánh giá chứng cứ phiến diện,
thiếu thận trọng, nôn nóng khởi tố, bắt giam, suy diễn chủ quan.
b. Cần nắm vững lý luận định tội danh trong các trường hợp
phạm tội khác nhau
+ Định tội danh theo khách thể của tội phạm: Căn cứ vào khách
thể chung, người định tội danh xác định người thực hiện hành vi có
phạm tội hay không. Trong thực tế, đòi hỏi người định tội danh phải
tự xác định khách thể một cách gián tiếp thông qua xem xét và phân
tích các thành phần khách thể của tội phạm.
+ Định tội danh theo mặt khách quan của tội phạm, đó là: Hành
vi phạm tội, hậu quả nguy hại và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi
phạm tội và hậu quả xảy ra.
+ Định tội danh theo chủ thể của tội phạm, đó là: Năng lực
TNHS, lứa tuổi, chủ thể đặc biệt.
+ Định tội danh theo mặt chủ quan của tội phạm bao gồm: Lỗi,
động cơ và mục đích phạm tội.
- Định tội danh theo CTTP tăng nặng: Quy phạm pháp luật hình
sự về CTTP tăng nặng mô tả đầy đủ và chính xác các dấu hiệu của tội
12



13


Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì thuộc
khoản 2 Điều 139 BLHS 1999: Có tổ chức; Có tính chất chuyên
nghiệp; Tái phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi
dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; Dùng thủ đoạn xảo quyệt; Chiếm
đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu
đồng; Gây hậu quả nghiêm trọng.
Tại TP Đà Nẵng trong 5 năm qua (từ năm 2012-2016), số bị cáo
định tội danh theo khoản 2 Điều 139 BLHS 1999 chiếm 34,9% và đa
số rơi vào trường hợp “Có tổ chức; Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ
năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng”, một số ít là “Tái
phạm nguy hiểm; Lợi dụng chức vụ, quyền hạn”.
b. Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 3,
khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999
Định tội danh theo khoản 3 Điều 139 BLHS thuộc một trong các
trường hợp sau đây: “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu
đồng đến dưới năm trăm triệu đồng; Gây hậu quả rất nghiêm trọng”.
Định tội danh theo khoản 4 Điều 139 BLHS thuộc một trong các
trường hợp: “Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở
lên; Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”.
Đây là các dấu hiệu định khung tăng nặng theo quy định tại
khoản 3 và khoản 4 của điều luật.
Từ thực tiễn hoạt động định tội danh theo khoản 3, khoản 4 Điều
139 BLHS tại TP Đà Nẵng, tác giả thấy hoạt động này của các cơ
quan THTT khá chính xác, đã xác định đúng và đầy đủ các yếu tố
như khách thể bị xâm phạm, chủ thể thực hiện hành vi phạm tội, các
phương thức, thủ đoạn phạm tội, mức độ thiệt hại và hậu quả gây
ra,... trên cơ sở đó định tội danh và QĐHP một cách chính xác. Trong

a. Cần nắm vững khái niệm, các đặc điểm và ý nghĩa của quyết
định hình phạt
QĐHP là việc Toà án lựa chọn hình phạt buộc người bị kết án
phải chấp hành.
Quyết định hình phạt có các đặc điểm sau đây:

15


Thứ nhất: QĐHP là hoạt động thực tiễn của Toà án do hoạt động
xét xử thực hiện, căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự.
Thứ hai: Trong QĐHP, Toà án quyết định miễn TNHS, miễn
hình phạt hoặc xác định khung hình phạt, quyết định loại và mức
hình phạt hay biện pháp tư pháp thay thế hình phạt cụ thể được quy
định trong luật hình sự.
QĐHP có ý nghĩa vô cùng to lớn. QĐHP đúng, là cơ sở pháp lý
để đạt được mục đích của hình phạt.
b. Cần nắm vững các căn cứ và nguyên tắc của quyết định hình phạt
Căn cứ quyết định hình phạt, gồm:
Thứ nhất - Căn cứ vào các quy định của BLHS: Quy định của
BLHS là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để Toà án định tội danh và
xác định khung hình phạt.
Thứ hai - Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội: Dựa vào căn cứ này, Toà án có thể lựa chọn
hình phạt cụ thể để tuyên cho người phạm tội.
Thứ ba - Căn cứ vào nhân thân người phạm tội: Nhân thân
người phạm tội không chỉ phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội
của hành vi phạm tội mà còn phản ánh khả năng cải tạo, giáo dục họ.
Thứ tư - Căn cứ vào các tình tiết tăng nặng TNHS hoặc các tình
tiết giảm nhẹ TNHS: Đây là những tình tiết được quy định cụ thể tại

b. Quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
theo khoản 3, khoản 4 Điều 139 Bộ luật hình sự 1999
Số bị cáo bị áp dụng có khung hình phạt tại khoản 3 là 19 bị cáo,
chiếm tỷ lệ 5,7%. Qua khảo sát, khi QĐHP TAND hai cấp TP Đà
Nẵng đã căn cứ vào quy định của BLHS, cân nhắc tính chất và mức
độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ
và tăng nặng TNHS để đưa ra hình phạt hợp lý. Một số trường hợp
TA áp dụng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt (dưới 07 năm)
nhưng không dưới 02 năm tù khi người phạm tội có từ 2 tình tiết
giảm nhẹ trở lên quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS.
Khoản 4 Điều 139 BLHS quy định chế tài lựa chọn từ 12 đến 20
năm tù, tù chung thân. Qua khảo sát thực tế tại TP Đà Nẵng, số bị cáo
17


phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có khung hình phạt theo khoản 4
là 67 bị cáo, chiếm tỷ lệ 20,2%.
Hoạt động QĐHP theo khoản 4 Điều 139 BLHS đã được TAND
thành phố Đà Nẵng áp dụng một cách cẩn trọng, phần lớn các vụ án
đều rơi vào trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị trên 500 triệu
đồng và đa số thuộc lĩnh vực liên quan đến bất động sản.
2.2.2.3. Quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản trong trường hợp đồng phạm
Khi QĐHP, các Tòa án luôn xem xét đến tính chất của đồng
phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng
phạm. Ngoài ra còn áp dụng cá thể hóa TNHS, như: Nghiêm trị
người chủ mưu, cầm đầu, tái phạm nguy hiểm,... Khoan hồng đối với
người tự thú, thành khẩn khai báo, tố giác người đồng phạm...
2.2.2.4. Quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản trong trường hợp phạm nhiều tội

thẩm nhân dân còn hạn chế về kiến thức pháp luật.
Về nguyên nhân khách quan: Văn bản hướng dẫn áp dụng tình
tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS chưa kịp thời, đặc biệt là tình tiết
giảm nhẹ. Khung hình phạt quá rộng, vì vậy dẫn tới việc QĐHP khi
thì quá nhẹ, lúc thì quá nặng.
CHƯƠNG 3
CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VỀ TỘI LỪA ĐẢO
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
3.1. Các yêu cầu đối với áp dụng đúng quy định của pháp
luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
3.1.1. Yêu cầu tuân thủ quy định của Hiến pháp năm 2013 về
quyền con người, quyền cơ bản của công dân
Hiến pháp công nhận, ghi nhận các quyền của con người, của
19


công dân. Để con người, công dân thực hiện tốt các quyền thì Nhà
nước ban hành luật, pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho công
dân, con người thực hiện các quyền.
3.1.2. Yêu cầu bảo đảm pháp chế xã hội chủ nghĩa trong thực
tiễn định tội danh và quyết định hình phạt đối với tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản
Khi chưa có bản án kết tội có hiệu lực pháp luật của TA thì
không ai bị coi là có tội. Bảo đảm pháp chế trong hoạt động định tội
danh và QĐHP là bảo đảm việc chứng minh tội phạm khách quan,
toàn diện và góp phần nhanh chóng tìm ra sự thật của vụ án.
3.1.3. Yêu cầu bảo đảm công lý, công bằng xã hội và phòng
ngừa tội phạm trong xử lý tội và người phạm tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản

* Những kiến nghị, đề xuất nhằm hoàn thiện BLHS năm 2015:
Một là, việc áp dụng tình tiết “đã bị kết án”, “đã bị xử phạt vi
phạm hành chính” làm tình tiết định khung hình phạt, làm nặng hơn
tình trạng của bị can, bị cáo và bất hợp lý. Các nhóm tội phạm khác
không quy định tình tiết này làm tình tiết định khung hình phạt mà
chỉ có 04 tội danh trong nhóm tội xâm phạm sở hữu.
Hai là, trong nền kinh tế thị trường hiện nay, với sự tham gia
bình đẳng của các thành phần kinh tế, phải đối mặt với nhiều hiện
tượng tiêu cực gây nên những hậu quả rất nghiêm trọng, thậm chí đặc
biệt nghiêm trọng cho xã hội. Những hậu quả đó không phải do một
hoặc những cá nhân nào đó mà chủ yếu là do tập thể (Hội đồng quản
trị) các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế khác nhau gây ra, nếu chỉ
truy cứu TNHS một số cá nhân điều hành, thay mặt tổ chức là chưa
đạt được mục đích răn đe, phòng ngừa và không công bằng.
Ba là, thực tế đã phát sinh các hình thức lừa đảo mới như: Lừa
đảo qua hình thức kinh doanh đa cấp; Lừa đảo qua mạng Internet...
21


Vì vậy, tính chất pháp lý truyền thống của tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản đã có sự thay đổi, cần phải bổ sung kịp thời các dấu hiệu pháp lý.
3.2.3. Tăng cường và nâng cao chất lượng hướng dẫn áp dụng
pháp luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT đã được ban hành cách đây
hơn 15 năm, trong khi BLHS năm 1999 đã có những sửa đổi, bổ sung
một số điều trong Chương “Các tội xâm phạm sở hữu”, nhưng cũng
chưa có Thông tư liên tịch nào khác hướng dẫn về vấn đề này. Vấn
đề định giá tài sản, việc thẩm định giá tài sản cũng rất phức tạp, nhất
là dấp dính giữa định lượng tài sản với việc có tội hay không có tội.
Để đảm bảo tính ổn định của văn bản pháp luật, có thể quy định hoặc



KẾT LUẬN
Qua nghiên cứu tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo pháp luật
hình sự Việt Nam từ thực tiễn TP Đà Nẵng, bước đầu luận văn đã cố
gắng làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực tiễn để từ đó tìm ra
một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của cuộc đấu tranh phòng,
chống loại tội này trên địa bàn thành phố. Kết quả đạt được trong quá
trình nghiên cứu, tác giả xin đi tới một số kết luận sau:
Tình hình tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn TP Đà
Nẵng trong những năm vừa qua có xu hướng gia tăng và diễn biến
phức tạp. Tuy chiếm tỷ lệ không lớn trong tổng số tội phạm nhưng
mức độ nguy hiểm cho xã hội là rất lớn.
Với đặc trưng là dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản,
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thường có tỷ lệ đồng phạm cao. Người
phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có nhu cầu cao hơn so với khả
năng của mình. Lợi ích của họ trái ngược với lợi ích của cộng đồng
vì vậy đã thúc đẩy họ đi vào con đường phạm tội.
Bên cạnh việc nghiên cứu các vấn đề lý luận về tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản, tác giả đi sâu phân tích những vấn đề lý luận
chung về định tội danh và QĐHP, dựa trên những số liệu nghiên cứu
thực tiễn hoạt động định tội danh và QĐHP trong 5 năm từ 20122016 tại TP Đà Nẵng, phát hiện được những mặt tích cực và hạn chế
trong hoạt động này của cơ quan THTT. Từ đó, tác giả đã đưa ra
những yêu cầu và giải pháp khắc phục những hạn chế đó, góp phần
xây dựng thành phố Đà Nẵng ngày càng an toàn, văn minh, xứng
đáng là “Thành phố đáng sống” theo mục tiêu của Đảng bộ, chính
quyền và nhân dân thành phố.
Với khả năng và thời gian nghiên cứu tài liệu, thu thập số liệu...
có hạn, quá trình thực hiện đề tài khó tránh khỏi những sai sót nhất
định. Vì vậy, tác giả rất mong nhận được sự góp ý từ quý thầy cô, các


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status