BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ ……
Téi l¹m dông tÝn nhiÖm chiÕm ®o¹t tµi s¶n trong ph¸p luËt
h×nh sù ViÖt Nam
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..
HÀ NỘI – NĂM 2017
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết luận trong
luận văn chưa được công bố trong một công trình khoa học nào khác. Các ví dụ, trích
dẫn, đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực./.
TÁC GIẢ
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS : Bộ luật dân sự
2.2.3. Khung tăng nặng thứ hai đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 49
2.2.4. Khung tăng nặng thứ ba đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 50
2.2.5. Hình phạt bổ sung đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 51
4
2.3. Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm và hành vi vi
phạm pháp luật dân sự, kinh tế 51
2.3.1 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm 52
2.3.2. Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với hành vi vi phạm pháp luật
dân sự, kinh tế 57
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60
CHƯƠNG 3 . MỘT SỐ VƯỚNG MẮC TRONG THỰC TIỄN XÉT XỬ TỘI LẠM
DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN VÀ KIẾN NGH ÁP DỤNG ĐIỀU 175
BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 2015
3.1. Một số vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 62
3.1.1. Vướng mắc trong định tội danh đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 62
3.1.2. Vướng mắc trong áp dụng khung hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
77
3.2. Kiến nghị áp dụng Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015 80
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 86
KẾT LUẬN 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
5
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
tội xâm phạm sở hữu, Đinh Văn Quế NXB. Thànhphố Hồ Chí Minh, 2003; Sách chuyên
khảo các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt tài sản, Cao Thị Oanh (chủ biên).
NXB Tư pháp, 2015. Ngoài ra, còn có một số nghiên cứu, trao đổi dưới dạng bài viết tạp
chí như:
- Sự khác nhau giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 139 BLHS) với tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 140 BLHS), Lê Đăng Doanh, Tạp chí Tòa án nhân dân
nhân số 24/2005.
6
- Phân biệt tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
trong trường hợp liên quan đến vi phạm hợp đồng, Trần Công Phàn, Tạp chí Kiểm sát
20/2006;
- Một số vấn đề cần hoàn thiện đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, Nguyễn
Văn Trượng, Tạp chí Tòa án nhân dân nhân số 03/2008;
- Bàn về yếu tố “chiếm đoạt tài sản” trong các tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, Nguyễn Thị Phương Thảo, Tạp chí Kiểm sát số 09/2012;
- Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản- một số vướng mắc trong thực tiễn và kiến
nghị hoàn thiện, Trần Duy Bình, Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ II tháng 11, 2012.
Qua nghiên cứu nội dung các công trình trên cho thấy, việc nghiên cứu tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản không phải là mới; một số công trình nghiên cứu với phạm vi
rộng và chung cho cả nhóm tội, trong đó tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ là
một phần nhỏ trong nội dung nghiên cứu của các tác giả trong giáo trình, sách chuyên khảo
và bình luận Bộ luật hình sự. Ngoài ra, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được
nghiên cứu trao đổi dưới dạng bài viết tạp chí, các bài viết đã đi vào phân tích một vài khía
cạnh cụ thể của tội phạm này. Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ nghiên cứu tội phạm
này ở những khía cạnh khác nhau, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng quát về tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản một cách đầy đủ có hệ thống trong thời kỳ hiện nay.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài“Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong
pháp luật hình sự Việt Nam” là rất cần thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn trong
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tác giả đưa ra một số kiến nghị áp dụng Điều
175 Bộ luật hình sự năm 2015 trong thời gian tới.
6. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê Nin. Trên nền tảng phương pháp luận ấy, khi nghiên cứu
từng vấn đề cụ thể tác giả có sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp nghiên cứu lịch sử
- Phương pháp so sánh luật học
- Phương pháp phân tích, đánh giá
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học: Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống lịch sử lập pháp hình sự về
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ năm 1945 đến nay và làm sáng rõ quá trình
phát triển trong kỹ thuật lập pháp về tội phạm này. Luận văn đã phân tích đầy đủ, toàn diện
sâu sắc các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định
của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có đối chiếu so sánh với quy
định của Bộ luật hình sự năm 2015. Đồng thời, Luận văn đã đưa ra kiến nghị trong thời
gian tới trong việc áp dụng Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về mặt thực tiễn: Góp phần thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng một cách
chính xác khi xử lý người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đề tài có thể
được dùng làm tư liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập.
8. Kết cấu của Luận văn
8
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu gồm
3 chương:
Chương 1: Khái niệm và lịch sử lập pháp hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản.
Chương 2: Nội dung pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
sản nào người phạm tội cũng có thể lạm dụng tín nhiệm lấy được từ chủ tài sản.
Ví dụ như các quyền tài sản như: Quyền của chủ nợ, quyền sở hữu đối với các giấy tờ có
giá ghi danh… Đây là một dạng tài sản vô hình, không nhìn thấy được, nó gắn liền với
quyền nhân thân và cố định với một chủ thể cụ thể được pháp luật công nhận. Mọi trình tự,
thủ tục thực hiện các quyền này đều tuân theo quy định của pháp luật. Do vậy, tội phạm
không thể chiếm đoạt được loại tài sản nêu trên nên nó không thể là đối tượng tác động của
tội lạm dụng tín chiếm đoạt tài sản.
Chiếm đoạt theo nghĩa Hán - Việt, “chiếm” là “lấy làm của mình”5 hay chiếm đoạt là
“dùng sức mạnh, thế lực mà lấy làm của mình” 6 chiếm đoạt còn được hiểu là“chiếm của
người khác bằng cách dựa vào quyền hành, sức mạnh vũ lực”7.
Dưới góc độ pháp luật hình sự chiếm đoạt tài sản là hành vi cố ý chuyển dịch trái pháp luật
tài sản đang thuộc sự quản lý của chủ tài sản thành tài sản của mình hoặc“hành vi cố ý
chuyển biến một cách trái pháp luật tài sản của người khác thành tài sản của mình hoặc,
của một nhóm người hoặc cho người khác mà mình quan tâm” 8 .
Từ những phân tích trên đây, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những điểm hợp lý có thể đưa
ra định nghĩa khoa học về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi của người được người khác tin tưởng
giao tài sản trên cơ sở hợp đồng đúng đắn, ngay thẳng đã lạm dụng lòng tin đó để chiếm
đoạt tài sản.
1.2. Lịch sử lập pháp hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.2. 1 Lịch sử lập pháp hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản giai đoạn
từ năm 1945 đến năm 1985
10
Quan hệ sở hữu là một trong những nhóm quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Quan
hệ sở hữu chính là mối quan hệ giữa con người với con người đối với đối tượng của quyền
sở hữu đó chính là tài sản.
Trong các hình thái xã hội khác nhau, Nhà nước đều sử dụng các quy phạm pháp luật trong
- Sắc lệnh số 12/SL ngày 12/3/1948 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa về tội
ăn cắp lấy trộm các vật dụng của nhà binh trong thời bình và trong thời kì chiến tranh.
Theo Sắc lệnh, trong thời bình, tội ăn cắp, lấy trộm các đồ quân giới, quân trang, quân
11
dụng nói tóm lại các vật dụng nhà binh, bị phạt theo điều khoản của hình luật chung; Trong
thời kỳ chiến tranh các tội phạm ấy phạt như sau: Trộm cắp thường: từ 2 năm đến 10 năm
tù; Nếu có tình trạng gia trọng: có thể phạt khổ sai hay tử hình.
- Sắc lệnh số 68/SL ngày 18/6/1949 của Chủ tịch nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa, về bảo
vệ các công trình thủy nông… Theo Sắc lệnh, người nào có hành vi đào đất, trồng cây, cắm
cọc, làm nhà, cho súc vật dẫm phá gần đê, đập, kênh và cầu cống phụ thuộc, trong một địa
phận bảo vệ, do Bộ giao thông Công chính ấn định; hoặc làm hư hỏng, bằng một cách nào
khác, các công trình thuỷ nông; thì sẽ bị phạt như sau:
- Phạt tiền từ 100đ đến 100.000đ
- Phạt tù:
+ Từ 10 ngày đến 2 năm, nếu việc phạm pháp gây thiệt hại cho nhân dân trong một xã;
+ Từ 3 tháng đến 5 năm, nếu thiệt hại cho nhân dân một huyện;
+ Từ 1 năm đến chung thân, nếu thiệt hại cho nhân dân trong một tỉnh;
+ Từ 3 năm đến tử hình, nếu thiệt hại cho nhân dân nhiều tỉnh;
- Hoặc một trong hai hình phạt trên.
Ngoài ra, can phạm còn phải bồi thường để sửa chữa những sự hư
hỏng đã làm ra. Số tiền bồi thường sẽ do sở Công chính ấn định.
Qua nghiên cứu các quy định trên cho thấy, đây là những văn bản
đầu tiên đặt nền móng cho việc quy định về tội xâm phạm sở hữu sau
này. Tuy nhiên, những Sắc lệnh này vẫn còn nhiều những hạn chế.
Trước hết nó mới là những quy định sơ lược, chưa khái quát hết được
những hành vi xâm phạm đến quan hệ sở hữu đặc biệt là hành vi lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, các nhà lập pháp chưa đề cập đến
với tư cách là một tội phạm độc lập, mà mới chỉ tập trung vào một số
cản trở việc thực hiện chính sách, kế hoạch xây dựng kinh tế, văn hóa.
Điều 7 Sắc lệnh 267 quy định: “Kẻ nào vì tham lam, tư lợi mà phạm tội
trộm cắp, lãng phí, làm hỏng, hủy hoại, cướp bóc tài sản của nhà nước,
của nhân dân thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm".
Sắc lệnh số 267 đã có sự phân biệt tài sản của nhà nước và tài sản
của công dân, giúp việc xử lý tội phạm được chính xác và hiệu quả hơn.
- Ngày 24/06/1957 Bộ tư pháp cũng đã ra Thông tư 72-VVH-HS
hướng dẫn thi hành sắc lệnh 267. Sắc lệnh này cũng không quy định về
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà cho phép áp dụng những
nguyên tắc tương tự khi xét xử những hành vi phạm tội phá hoại khác.
Theo đó nếu hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản xảy ra, Tòa
án căn cứ theo đường lối xử lý các tội phạm khác để xét xử. Như vậy,
cũng như Thông tư 442/TTg Nhà nước ta vẫn cho phép áp dụng nguyên
tắc tương tự trong xét xử. Điều đó cho thấy hành vi phạm tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vẫn chưa được xác định cụ thể, đặt ra một
yêu cầu rất lớn đối với công tác xây dựng và thực thi pháp luật.
Đến thời kỳ sau khi ban hành Hiến pháp năm 1959, Nhà nước ta
thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng XHCN ở miền
Bắc và đấu tranh thống nhất miền Nam thì công việc xây dựng cơ sở
vật chất, kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ trọng tâm. Việc bảo
vệ sở hữu Nhà nước, sở hữu tập thể là vấn đề cấp bách được đặc biệt
coi trọng. Điều 40 Hiến pháp 1959 đã ghi nhận: “Tài sản công cộng
của nước Việt nam dân chủ cộng hòa; là thiêng liêng không thể xâm
phạm. Công dân có nghĩa vụ tôn trọng và bảo vệ tài sản công cộng".
14
Để củng cố thành quả mà cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đạt
3. Phạm tội trong trường hợp số tài sản bị xâm phạm rất lớn hoặc
có nhiều tình tiết nghiêm trọng hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng
thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm.
Điều 11 Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của
công dân quy định:
1. Kẻ nào nhận tài sản của người khác để giữ, vận chuyển, gia
công, sửa chữa hoặc để làm một việc gì khác mà lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản, bớt xén hoặc đánh tráo tài sản đó thì bị phạt tù từ ba
tháng đến hai năm.
2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây:
a, Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, xí nghiệp nhà nước, đơn vị bộ đội,
đoàn thể nhân dân, hợp tác xã hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt nguy hiểm
khác.
b, Gây hậu quả nghiểm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại
hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ một năm đến bảy
năm”.
Theo như quy định trên cho thấy, đối tượng của hai tội phạm là
khác nhau. Đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản
XHCN là tài sản của nhà nước XHCN còn đối tượng của tội lạm dụng
16
tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân là tài sản của công
dân. Nhưng hành vi khách quan là giống nhau; hành vi lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt là đều hành vi “bớt xén” hoặc “đánh tráo” chiếm
đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản được giao ngay thẳng trên cơ sở hợp
đồng gửi giữ, vận chuyển… Hình phạt được áp dụng đối với người
phạm tội tương đối nghiêm khắc: Hình phạt tù tối thiểu là 3 tháng, tối
đa là 20 năm.
Qua quy định của hai Pháp lệnh cho thấy, về mặt kỹ thuật lập
phạm không có sự phân hóa trách nhiệm hình sự (TNHS). Có những tội
xâm phạm đến một khách thể như tội lừa đảo, bội tín xâm phạm đến
quan hệ sở hữu nhưng có tội xâm phạm đến nhiều khách thể như tội
cướp giật, cưỡng đoạt cùng một lúc xâm phạm đến quan hệ sở hữu và
quan hệ nhân thân. Cách quy định như vậy đòi hỏi phải có văn bản
hướng dẫn thi hành để xử lý từng loại tội phạm cho chính xác. Tháng
04/1976 Bộ tư pháp đã ra Thông tư số 03/BTP/TT hướng dẫn thi hành
Sắc luật trên.
1.2. 2. Lịch sử lập pháp hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2015
Trước khi BLHS năm 1985 được ban hành, tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản đều căn cứ theo Điều 11 Pháp lệnh trừng trị
18
các tội phạm xâm phạm tài sản XHCN và Pháp lệnh trừng trị các tội
phạm xâm phạm tài sản riêng của công dân năm 1970 áp dụng thi hành
cho đến khi BLHS năm 1985 có hiệu lực pháp luật.
BLHS năm 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27/06/1985 tại kỳ
họp thứ 9, Quốc hội khóa VII và có hiệu lực từ ngày 01/01/1986. Đây
là Bộ luật được ban hành trên cơ sở pháp điển hóa các văn bản pháp
luật hình sự của Nhà nước ta được ban hành từ những năm đầu của
chính quyền cách mạng đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX, cũng
như thể chế hóa chính sách hình sự của nhà nước ta trong thời kỳ cả
nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. BLHS năm 1985 ra đời là
bước ngoặt rất quan trọng trong lịch sử pháp luật hình sự nước ta.
Kể từ khi có BLHS năm 1985 tài sản của Nhà nước, tập thể và
công dân được bảo vệ một cách hữu hiệu bằng các quy phạm pháp luật
hình sự. BLHS năm 1985 đã chia quy định về tội xâm phạm sở hữu
thành hai chương: Chương IX “các tội xâm phạm sở hữu XHCN”;
nhất để xử lý hành vi phạm tội. Tuy nhiên, hạn chế của hai điều luật là
không mô tả cụ thể hành vi phạm tội. Hiện tượng này cũng rất phổ biến
trong BLHS 1985, đòi hỏi phải có văn bản hướng dẫn thi hành nếu
không sẽ gây khó khăn trong việc áp dụng luật hình sự và thực tiễn xét
20
xử. Và trên thực tế việc xác định các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội
phạm vẫn dựa trên quy định của hai Pháp lệnh năm 1970.
Sau 14 năm thi hành BLHS năm 1985 đã bộc lộ những bất cập,
xuất phát từ đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta nhằm xây
dựng nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và đáp ứng yêu cầu
hội nhập quốc tế. Do đó, việc ban hành một bộ luật mới là rất cần thiết.
Ngày 22/11/1999 Quốc Hội khóa X đã thông qua BLHS năm 1999 và
cũng đã thông qua Nghị quyết số 32/1999/QH-10 về việc thi hành
BLHS. Bộ luật này đã kế thừa và phát huy BLHS 1985 trên cơ sở tiếp
thu những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội
phạm và những thay đổi của nền kinh tế. BLHS năm 1999 đã có sự đổi
mới toàn diện về cả nội dung và hình thức so với BLHS năm 1985. Các
tội trong chương tội xâm phạm sở hữu XHCN và chương xâm phạm sở
hữu của công dân được nhập lại thành một chương “Các tội xâm phạm
sở hữu”. Việc nhập hai chương thành một chương hữu nói chung và
nhập hai tội danh (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN và
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân) trong cùng một
điều luật nói riêng là cần thiết bởi lẽ: Thứ nhất, hai điều (Điều 135 và
Điều 158) trong BLHS năm 1985 giống nhau về các dấu hiệu khách
quan và chủ quan, chỉ khác nhau về đường lối xử lý nên việc tách thành
hai điều luật ở hai chương là không cần thiết. Thứ hai, trong nền kinh tế
hiện nay, Nhà nước chủ trương đa dạng hóa các thành phần kinh tế theo
các hình thức sở hữu khác nhau nhưng đều bình đẳng trước pháp luật,
đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội
chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm thì bị phạt
cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba
năm.
a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản
của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối
hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;
b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản
của người khác bằng các hình thức hợp đồng và sử dụng tài sản đó vào
mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù
từ hai năm đến bảy năm:
a) Có tổ chức; b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh
nghĩa cơ quan, tổ chức; c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; d) Chiếm đoạt tài
sản từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; đ) Tái
phạm nguy hiểm; e) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy
năm đến mười lăm năm:
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới
năm trăm triệu đồng; b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.
4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt
tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân;
a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên; b)
23
Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến
một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc
làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một
Khoản 1 điều luật quy định: Người nào có một trong những hành
vi sau đây chiếm đọat tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu
đồng đến năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu
quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt
hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà
còn vi phạm thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù
từ ba tháng đến ba năm.
Như vậy, điều luật đã sửa đổi giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ mức
một triệu đồng lên thành bốn triệu đồng.
Điểm d, khoản 2 quy định: Chiếm đoạt tài sản từ năm mươi triệu
đồng đến dưới hai trăm triệu đồng.
Điều luật đã bỏ từ “trên” trước từ “năm mươi triệu đồng”. Việc
sửa đổi này đã khắc phục được vướng mắc trong việc xác định khung,
khoản đối với trường hợp giá trị tài sản bằng năm mươi triệu đồng thì
xử lý theo khoản 1 hay khoản 2 Điều 140 BLHS năm 1999. Trong
trường hợp này các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ không biết áp dụng
25