Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự việt nam từ thực tiễn thành phố hà nội (tt) - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
K

LÊ THỊ THU HƯỜNG

TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT
TÀI SẢN THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành: Luậ
Mã s

: 60.38.01.04

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI – 2017


Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS CAO THỊ OANH

Phản biện 1:

Phản biện 2:

Luận văn sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ họp tại:

quyền sở hữu của người dân mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của
những người bị hại, gây ra tác hại xấu cho cộng đồng, xã hội, làm mất lòng tin của
nhân dân.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng là loại tội phạm có nhiều dấu
hiệu liên quan đến các tranh chấp dân sự, do đ , việc phát hiện tội phạm nhiều khi bị
bỏ lọt hoặc bị chậm trễ dẫn đến thiệt hại cho người dân chậm được khắc phục,
quyền của công dân bị xâm phạm do tội phạm có liên quan đến vấn đề hình sự hoá
các quan hệ dân sự, kinh tế. Việc tồn tại tình trạng như vậy là do các quy phạm pháp
luật điều chỉnh các vấn đề liên quan đến tội phạm này còn chưa thống nhất, các cơ
quan áp dụng pháp luật nhiều khi còn lúng túng trong quá trình áp dụng, gây ảnh
hưởng không nhỏ đến hiệu quả, chất lượng quá trình điều tra, truy tố, xét xử tội
phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Việc nghiên cứu sâu về tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của luật hình sự Việt Nam đặt ra vấn đề
cần quan tâm.
Nghiên cứu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong những năm gần
đây thực tiễn cũng đặt ra nhiều vấn đề cần tìm hi u kỹ càng. Đặc biệt, việc nghiên
cứu vấn đề tội phạm này trên địa bàn thủ đô Hà Nội- trung tâm văn hoá, chính trị
của đất nước lại càng cần thiết hơn, bởi lẽ Hà Nội là một trong những thành phố đi
đầu về sự phát tri n, đây cũng sẽ là nơi thu hút nhiều tội phạm xâm phạm về sở hữu
trong đ có tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tình hình tội phạm nói
chung, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng không được quan
tâm, làm rõ đ kịp thời khắc phục sẽ gây ảnh hưởng tiêu cực đến bộ mặt của thủ đô.
Tuy nhiên, trong các đề tài nghiên cứu những năm gần đây, tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản lại ít được nghiên cứu đầy đủ và toàn diện. Các vấn đề về thực
1


tiễn liên quan đến tội phạm này trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng cũng chưa
được đi sâu nghiên cứu, bám sát. Thực tiễn đặt ra rằng, vẫn còn nhiều vướng mắc
trong vấn đề định tội danh, quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm

năm qua 100 bản án về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của TAND
hai cấp thành phố Hà Nội.
Đến thời đi m nghiên cứu đề tài, Bộ luật hình sự 2015 đang được sửa đổi,
hoàn thiện, chưa có hiệu lực. Các quy định hiện hành về tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản được tiến hành theo Bộ luật hình sự 1999.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. P ươ pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận từ phương pháp luận khoa học của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan đi m của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tác giả còn dựa trên các quan đi m, chính
sách của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực trong đ có đấu tranh phòng ngừa tội
phạm nói chung, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng.
5.2. P ươ pháp nghiên cứu
u tr nh nghie n cứu đề t i, tác giả sử dụng c c phu o ng ph p nghie n
cứu của khoa học luạ t h nh sự nhu : pha n tích, tổng hợp, thống ke ;
phu o ng ph p so s nh, đối chiếu; pha n tích quy phạm ph p luạ t, khảo s t thực
tiễn; điều tra n đi n h nh... đ pha n tích v luạ n chứng c c vấn đề khoa học cần
nghie n cứu.
Ngo i ra, trong qu tr nh thực hi n đề t i, t c giả đã tiếp thu c chọn lọc kết
quả của c c co ng tr nh nghie n cứu đã co ng bố, c c đ nh gi , tổng kết của c c
co quan chuye n mo n v c c chuye n gia về những vấn đề c lie n quan đến
c c vấn đề nghie n cứu trong luạ n va n.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ý nghĩa của luận văn có th k đến:
Về mặt lý luận, kết quả nghie n cứu của luạ n va n g p phần ho n thi n
l luạ n về tọ i phạm n i chung, tọ i lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong
khoa học luạ t h nh sự Vi t Nam n i rie ng. Luận văn có ý nghĩa cung cấp thêm
cơ sở lý luận, làm phong phú thêm về mặt tài liệu nghiên cứu khoa học đ tham
khảo cho những bài viết, công trình, bài giảng có liên quan.
Về mặt thực tiễn, luạ n va n c

Chương 3. Thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa
bàn thành phố Hà Nội và kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng
Chương 1
LÝ LUẬN VỀ TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO QUY ĐỊNH CỦA LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản
1.1.1. Khái niệm tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Từ các khái niệm chung, quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản được ghi nhận trong BLHS 1999, tác giả xin đưa ra khái niệm về tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội
của người phạm tội lợi dụng lòng tin của người khác, sử dụng hành vi vay, mượn,
thuê tài sản hoặc nhận tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên
bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn với mục đích
chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không
có khả năng trả lại tài sản, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi
chịu trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý, trái pháp luật hình sự, xâm phạm
quyền sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
1.1.2.1. Khách thể của tội phạm
Khách th chung của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở
hữu, trật tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Khách th trực tiếp của tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu tài sản.
5


Đối tượng tác động của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tài sản
của công dân, tổ chức, nhà nước. Các tài sản bị chiếm đoạt là đối tượng tác động của
tội lạm dung tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được các nhà làm luật quy định về yếu tố

được tài sản đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến việc không trả lại
tài sản được.
Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiện chiếm đoạt tài sản:
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là tội phạm có cấu thành vật chất.
Hậu quả là dấu hiệu được ghi nhận trong cấu thành tội phạm tại Điều 140 BLHS
1999. Nhà làm luật quy định yếu tố định lượng về tài sản chiếm đoạt trong chính cấu
thành tội phạm. Hành vi chiếm đoạt xảy ra trước hậu quả về mặt thời gian và hậu
quả là kết quả trực tiếp của hành vi chiếm đoạt.
Các yếu tố về địa đi m, thời gian, v.v.. không phải là dấu hiệu bắt buộc trong
mặt khách quan của cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
6


1.1.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hình thức lỗi thuộc mặt chủ
quan của người phạm tội là lỗi cố ý và cụ th hơn nữa là lỗi cố ý trực tiếp. Ở tội
phạm này, người phạm tội nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình là hành
vi nguy hi m cho xã hội, thấy được hậu quả của hành vi mình thực hiện xâm phạm
đến quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ.
Khi xác định lỗi đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cần lưu ý:
ban đầu, khi giao kết hợp đồng hợp pháp và nhận được tài sản, người phạm tội vẫn
có ý chí, ý định thực hiện hợp đồng đ . Chỉ đến giai đoạn sau khi đã giao kết hợp
đồng và nhận được tài sản đ , người phạm tội mới nảy sinh ý định phạm tội và thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn đã được cấu thành tội phạm ghi
nhận. Vấn đề cần lưu ý thứ hai là: Thời đi m nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là
căn cứ rất quan trọng đ phân biệt tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản.
Động cơ phạm tội đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không
phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, khi phân tích các dấu
hiệu của tội phạm này có th thấy động cơ phạm tội xuất phát từ việc tư lợi, vụ lợi,

lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản lần đầu tiên được ghi nhận thành một tội
phạm độc lập với các dấu hiệu pháp lý đặc trưng, các khung hình phạt cụ th . Pháp
lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa ghi nhận tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản tại Điều 11. Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của
công dân tại Điều 11.
Giai đoạn 1975, chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam mới thành lập cũng
đã ban hành các văn bản pháp luật đ bảo vệ các quyền cơ bản của công dân, của
nhà nước. Sắc luật số 03/SL-1976 ngày 15/03/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời
cộng hòa miền Nam Việt Nam quy định các tội phạm và hình phạt được áp dụng ở
miền Nam Việt Nam, tại đây, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được ghi
nhận với tên gọi “Bội tín”: “…b. Phạm các tội khác như: trộm cắp, tham ô, lừa đảo,
bội tín, cướp giật, cưỡng đoạt, chiếm giữ trái phép thì bị phạt tù từ sáu tháng đến
bẩy năm…” (Đi m b Điều 4).
1.2.2. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình
sự Việt Nam giai đoạn từ 1985 đến trước khi Bộ luật hình sự 1999 có hiệu lực
Bộ luật Hình sự của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được Quốc
hội thông qua ngày 27/6/1985, có hiệu lực từ ngày 01/01/1986.
Tại đây, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được ghi nhận và quy định
thành tội danh riêng tại hai điều luật Điều 135 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản XHCN), Điều 158 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân)
Trong tiến trình hoàn thiện hệ thống luật pháp, BLHS 1985 đã được sửa đổi,
bổ sung bốn lần vào các năm 1989; 1991; 1992; 1997. Trong đ , tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN (Điều 135) được sửa đổi, bổ sung hai lần vào các
năm 1991 và 1992; tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân được sửa
đổi, bổ sung một lần vào năm 1991. Các lần sửa đổi, bổ sung đối với tội phạm này
chỉ sửa đổi, bổ sung khung tăng nặng của tội phạm vẫn chưa sửa đổi, bổ sung cấu
thành cơ bản đ làm rõ dấu hiệu về hành vi khách quan của tội phạm.
1.2.3. Tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật
hình s Việt Nam giai đoạn từ 1999 đến nay
Ngày 22/11/1999 Quốc Hội khóa X đã thông qua BLHS năm 1999 và Nghị

tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Thứ hai, với các khung tăng nặng, BLHS 2015 bỏ tình tiết “gây hậu quả nghiêm
trọng”; “gây hậu quả rất nghiêm trọng”; “gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng” thay
bằng tình tiết “có tính chất chuyên nghiệp” (Đi m b Khoản 2 Điều 175); “Gây ảnh
hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội” (Đi m b Khoản 3 Điều 175).
1.3. Quy định của pháp luật hình sự một số nước trên thế giới về tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và kinh nghiệm rút ra với pháp luật hình sự Việt
Nam
BLHS liên bang Nga được thông qua ngày 24/5/1996 và tổng thống Liên bang
Nga ký luật số 64 ngày 13/6/1996 “về việc thi hành bộ luật hình sự của Liên bang
Nga” có hiệu lực từ ngày 01/01/1997. Các tội xâm phạm sở hữu được BLHS của
nước này quy định cụ th tại chương 21, trong đ , Điều 159 quy định tội Lừa đảo
như sau:
“Lừa đảo là chiếm đoạt tài sản hoặc quyền đối với tài sản của người khác
bằng thủ đoạn gian dối hay lạm dụng tín nhiệm, thì bị phạt tiền từ 200 lần đến 700
lần mức lương tối thiểu hoặc mức lương hoặc thu nhập khác của người phạm tội
trong thời gian từ 02 tháng đến 07 tháng hoặc bị phạt lao động bắt buộc từ 180 đến
240 giờ hoặc bị phạt giam từ 04 tháng đến 06 tháng hoặc bị phạt tù đến 03 năm…”
[15].
Như vậy, về cơ bản, BLHS Liên bang Nga cũng có quy định về hành vi lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt của công dân. Tuy nhiên, so với BLHS Việt Nam có một
số khác biệt.
BLHS nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa được Quốc hội thông qua tại kỳ
họp thứ II, ngày 01/7/1979, có hiệu lực từ ngày 01/01/1980. Trong quá trình thi
hành, BLHS Trung Quốc đã trải qua năm lần sửa đổi, bổ sung vào các năm 1997,
1999, 2001, 2002 và lần sửa đổi, bổ sung gần đây nhất là năm 2005 tại Hội nghị lần
thứ 14 của Uỷ ban thường vụ đại hội đại bi u nhân dân toàn quốc khoá X.
9



lạm dụng chiếm đoạt tài sản tại Điều 140 BLHS Việt Nam, tác giả có th khái quát
một số vấn đề như sau:
Một là, các dấu hiệu có liên quan đến hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản được pháp luật các quốc gia trên quy định nằm trong các dấu hiệu của tội lừa
đảo.
Hai là, hình phạt áp dụng đối với người phạm tội có liên quan đến hành vi lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự các nước tuy có nhiều
hình thức khác nhau nhưng đều không phân biệt hình phạt chính và hình phạt phụ
khi áp dụng.

10


1.4. Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm
khác có dấu hiệu gần gũi
1.4.1. Phân biệt tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản
Gi
nhau iữa hai ội:
hứ nhất, về khách th , tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản đều xâm phạm đến khách th là quyền sở hữu tài sản được
pháp luật hình sự bảo vệ.
Thứ hai, về mặt chủ quan, cả hai tội phạm đều được thực hiện với lỗi cố ý trực
tiếp.
Thứ ba, về chủ th của tội phạm, cả hai tội phạm này đều có th do bất kỳ chủ
th nào có năng lực TNHS, đủ tuổi chịu TNHS thực hiện.
Thứ tư, về mặt khách quan của tội phạm, cả hai tội phạm đều được đ nh giá
có mức độ nguy hi m cho xã hội ngang nhau.
Khác nhau giữa hai tội:
Thứ nhất, về mặt khách quan của tội phạm: tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt

hình sự và đạt độ đến tuổi nhất định theo quy định của pháp luật.
Thứ hai, về đối tượng tác động của tội phạm, tài sản là đối tượng của tội tham
ô phải là tài sản thuộc sở hữu Nhà nước, tài sản của doanh nghiệp trong đ nguồn
vốn của Nhà nước chiếm từ 51% trở lên hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước
và tài sản đ đang do người phạm tội trực tiếp quản lý theo quy định của pháp luật.
Tài sản là đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì có th thuộc
bất kỳ hình thức sở hữu nào.
1.4.3. Phân biệt tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội lạm d ng chức
v , quyền hạn chiếm đoạt tài sản
Gi
nhau iữa hai ội:
hứ nhất, về mặt khách quan của tội phạm, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản và tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản đều có hành vi khách
quan là chiếm đoạt tài sản. Trong đ , đối tượng tài sản bị chiếm đoạt của cả hai tội
phạm đều là những tài sản đang thuộc sự quản lý của tội phạm.
hứ hai, về mặt chủ quan của tội phạm, cả hai tội phạm đều được thực hiện
với lỗi cố ý trực tiếp.
Khách nhau iữa hai ội:
Đi m khác nhau duy nhất giữa hai tội phạm này là về chủ th của tội phạm.
hủ th của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có th là bất kỳ người nào có
năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ đến tuổi nhất định theo quy định của pháp
luật. Còn chủ th của tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản phải là
người có chức vụ, quyền hạn nhất định đ từ đ , họ được người khác tin tưởng và
giao tài sản cho họ dẫn đến hành vi chiếm đoạt tài sản của tội phạm.
Chương 2
QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ TỘI LẠM DỤNG
TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
2.1. Các hình thức trách nhiệm hình sự đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự 1999
TNHS của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hậu quả pháp lý của việc

hậu quả rất nghiêm trọng" và thay bằng tình tiết "Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh,
trật tự, an toàn xã hội". Đi m sửa đổi này đã cho thấy tính hợp lý, kiện toàn hơn
nhưng cũng cần nhanh chóng có hướng dẫn đối với việc áp dụng tình tiết mới được
thay đổi đ khi BLHS 2015 có hiệu lực sẽ không gây khó khăn cho việc thi hành.
Đối với mức hình phạt tại điều luật này, nhà làm luật đã sửa đổi từ quy định "phạt tù
từ bảy năm đến mười lăm năm" thành "phạt tù từ năm năm đến mười hai năm". Điều
này cho thấy các nhà làm luật đã có sự đ nh giá, xem xét tính chất nguy hi m cho xã
hội đối với tội phạm này theo đi m, khoản áp dụng đ đảm bảo phù hợp với tình
hình xã hội mới, cho thấy kỹ thuật lập pháp đã được nâng cao, tính phân hoá TNHS
được th hiện cụ th , rõ ràng, minh bạch hơn trong từng điều khoản.

Hình phạt theo Khoản 4 Điều 140 BLHS 1999:
Khoản 4 Điều 140 BLHS 1999 quy định tội phạm với mức cao nhất của khung
hình phạt là đến 20 năm tù hoặc tù chung thân. Người phạm tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản khi người đ thực hiện hành vi phạm tội còn kèm theo một trong
các tình tiết định khung tăng nặng: Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu
đồng trở lên; Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.
Quy định về tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Khoản 4,
BLHS 2015 cũng có những sửa đổi nhất định, cụ th : "4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản
trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm". Mức hình
phạt tại Khoản 4 Điều 175 BLHS 2015 đã sửa đổi mức hình phạt tù từ mười hai năm
đến hai mươi năm hoặc tù chung thân của BLHS 1999 thành"phạt tù từ 12 năm đến
20 năm". Mức hình phạt theo BLHS 2015 đã bỏ mức phạt tù chung thân đối với
khung tăng nặng này. Điều này cho thấy tính nhân văn, th hiện quyền con người
nhưng cũng vẫn th hiện tính phân hoá TNHS của các nhà làm luật Việt Nam.
• Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản theo Khoản 5 Điều 140 BLHS 1999
Hình phạt bổ sung có th được áp dụng đối với tội phạm này là hình phạt tiền
với mức phạt từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức
vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm; hình

Người phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thuộc khoản 1 Điều
140 BLHS 1999 khi có nhiều tình tiết giảm nh TNHS quy định tại khoản 1 Điều
46, đ ng được khoan hồng đặc biệt sẽ có th được miễn hình phạt.
2.3. Trách nhiệm hình sự đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
trong các trường hợp đặc biệt
2.3.1. Chuẩn bị phạm tội
huẩn bị phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là giai đoạn trong đ
người phạm tội có hành động nhằm tạo ra những điều kiện cần thiết cho việc thực
hiện hành vi chiếm đoạt tài sản, nhưng chưa bắt đầu thực hiện các hành vi đ .
Người chuẩn bị phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thuộc khoản
1, khoản 2 Điều 140 BLHS thì không phải chịu TNHS. Như vậy, hình phạt cao nhất
trong trường hợp chuẩn bị phạm tội thuộc khoản 3 Điều 140 BLHS là không quá 7
năm 6 tháng tù, hình phạt cao nhất trong trường hợp chuẩn bị phạm tội thuộc khoản
4 Điều 140 BLHS là không quá hai mươi lăm tù.
2.3.2. Phạm tội c ưa đạt
Luật hình sự Việt Nam không đặt vấn đề giới hạn những trường hợp phải chịu
TNHS đối với trường hợp phạm tội chưa đạt mà xác định mọi trường hợp phạm tội
chưa đạt phải chịu TNHS “vì đây là những trường hợp người phạm tội đã có hành
vi trực tiếp xâm hại khách thể, đã trực tiếp đe dọa gây ra những hậu quả nguy hiểm
cho xã hội” [11, tr.161]. Do đ , mọi trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản chưa đạt phải chịu TNHS.
Trong trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chưa đạt
thuộc khoản 1 Điều 140 BLHS thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là không
quá 2 năm 3 tháng tù, trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
chưa đạt thuộc khoản 2 Điều 140 BLHS thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng là
không quá 5 năm 3 tháng tù, trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản chưa đạt thuộc khoản 3 Điều 140 BLHS thì mức hình phạt cao nhất được áp
dụng là không quá 12 năm 9 tháng tù, trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm
15


2014

147

157

2015

122

137

2016

75

85

(Nguồn: Phòng thống kê của Văn phòng Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội)
Nhìn vào các số liệu th hiện việc giải quyết các vụ án về tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản của hai cấp toà án nhân dân thành phố Hà Nội từ năm 2012
đến năm 2016, Tòa án đã xét xử tổng cộng 662 vụ phạm tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản với 757 bị cáo. Trung bình mỗi năm tại thành phố Hà Nội có 133
vụ với 152 bị cáo. Những năm gần đây, tội phạm có chiều hướng giảm, cao nhất vào
năm 2012 với 181 vụ án và thấp nhất vào năm 2016 với 75 vụ án.
Việc truy cứu TNHS của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo
các khung hình phạt cũng được xác định khá rõ.
Bảng 3.2. Th ng kê việc truy cứu TNHS về tội lạm d ng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản trên địa bàn thành ph Hà Nội từ 2012- 2016
TNHS theo TNHS theo

2016
75
85
53
32
Tổng
662
757
481
276
(Nguồn: Phòng thống kê của Văn phòng Toà án nhân dân Thành phố Hà Nội)
Như vậy, TNHS với các bị cáo bị truy cứu TNHS về tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản chủ yếu được xác định theo khung cơ bản quy định tại Khoản 1
Điều 140 BLHS với 481/757 bị cáo (63.5%). TNHS theo khung tăng nặng chiếm tỷ
lệ ít hơn với 276/757 bị cáo (36.5%) nhưng cũng không phải con số nhỏ.
Bảng 3.3. Th ng kê việc quyết định hình phạt về tội lạm d ng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành ph Hà Nội từ 2012- 2016

Năm

Cải tạo
không
giam
giữ

Án
treo

2012
2013

thân
ăm
ăm
ăm
xuông
94
41
31
7
0
82
19
16
9
2
54
21
37
7
8
62
14
24
5
3
34
9
12
10
1

tội phạm này.
Nếu trước khi kí kết hợp đồng mà người phạm tội đã có ý định chiếm đoạt tài
sản, việc kí kết hợp đồng như một thủ đoạn gian dối đ có được tài sản thì phải coi
là phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản [17, tr. 138]. Việc xác định thời đi m nảy sinh
ý thức chiếm đoạt cần xét đến việc có chuẩn bị cho việc kí kết hợp đồng hay không,
khả năng thực tế của người đ trong việc thực hiện quyền và nghĩa vụ mà người đ
phải thực hiện... Mặt khác, đ xác định là tội lừa đảo hay tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản còn phải xem xét đến ý nghĩa, vai trò của thủ đoạn gian dối có
quyết định đến việc chiếm đoạt được tài sản hay không. Thủ đoạn gian dối quyết
định đến việc chiếm đoạt được tại sản thì phải định tội là lừa đảo chiếm đoạt tài sản
chứ không phải tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
3.1.3. Nhận xét về vấn đề quyết định hình phạt đ i với tội lạm d ng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản
Việc quyết định hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản về
cơ bản là đúng, phù hợp với các quy định của BLHS về quyết định hình phạt và các
văn bản hướng dẫn xét xử, với tính chất và mức độ nguy hi m cho xã hội của hành
vi phạm tội và các tình tiết tăng nặng, giảm nh TNHS của người phạm tội.
Quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của BLHS (Điều 47 BLHS): Thực tiễn
khảo sát các bản án cho thấy, có những trường hợp Tòa án áp dụng Điều 47 đ quyết
định hình phạt nh hơn khung hình phạt. Ví dụ: bản án số 47/2016/HSST của TAND
quận T xét xử bị cáo Cao Thị H phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo
Đi m a Khoản 3 Điều 140 BLHS, tòa án áp dụng đi m b, p khoản 1 Điều 46, khoản
2 Điều 46, Điều 47, Điều 60 của BLHS đ quyết định hình phạt nh hơn quy định
của bộ luật đối với bị cáo H và cho bị cáo được hưởng án treo.
Tuy nhiên, pháp luật Hình sự lại chưa có hướng dẫn trường hợp bị cáo có
nhiều tình tiết giảm nh được quy định ở cả khoản 1 khoản 2 Điều 46, có một hoặc
một số tình tiết tăng nặng tại khoản 1 Điều 48 thì Tòa án có được áp dụng Điều 47
đ quyết định hình phạt đối với bị cáo hay không.
Có trường hợp, tác giả nhận thấy Tòa án quyết định hình phạt quá nhẹ đối với
bị cáo. Ví dụ Tại bản án số 427/2014/HSST, TAND quận Đ xét xử Tiêu Văn T,

tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng.
Các cơ quan tiến hành tố tụng có sự phối hợp thực hiện tốt quy chế làm việc,
định kỳ họp trao đổi những vấn đề còn có ý kiến khác nhau về đ nh giá chứng cứ và
áp dụng pháp luật như các cuộc họp ba ngành trao đổi án giữa công an- viện ki m
sát- toà án.
Với các thủ tục tại phiên toà, các Toà án nhân dân hai cấp thành phố Hà Nội đã
tri n khai thực hiện việc đổi mới thủ tục xét hỏi và tranh luận tại phiên toà, thực hiện
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị, trên cơ sở các quy định
của Bộ luật tố tụng hình sự và theo tinh thần cải cách tư pháp.
Ngoài ra, hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cũng đã được chú trọng và
quan tâm.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong BLHS 2015 cũng có những
đi m mới. Tuy chưa có hiệu lực tại thời đi m này, nhưng việc ban hành BLHS 2015
cũng là ưu đi m đ ng nói đ áp dụng đối với thực tiễn về các tội phạm nói chung, tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng sau này. Đối với tội phạm này,
BLHS 2015 đã th hiện kỹ thuật lập pháp tiến bộ hơn, có sự đồng bộ, thống nhất
trong việc áp dụng pháp luật, tránh yếu tố chồng chéo. Điều luật về tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản được các nhà lập pháp xây dựng có tính cụ th , thay đổi
một số đi m mới vào ngay điều luật tạo điều kiện cho việc áp dụng thực tiễn.
3.2.2. Những hạn chế, ướng mắc trong th c tiễn
Bên cạnh những ưu đi m đã có đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản, quá trình áp dụng, thực thi pháp luật trên thực tế còn tồn tại một số đi m hạn
chế, vướng mắc cần khắc phục.
Thứ nhất, quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại Điều 140
BLHS 1999 vẫn còn một số đi m chồng chéo. Đơn cử như các tình tiết "Gây hậu
quả nghiêm trọng; Gây hậu quả rất nghiêm trọng; Gây hậu quả đặc biệt nghiêm
trọng" có sự chồng lấn khi nghiên cứu văn bản hướng dẫn tại Thông tư 02/2001 về
19



chóng kiện toàn hệ thống pháp luật, khi BLHS 2015 có hiệu lực 01/01/2018 sắp tới
sẽ được thực thi hiệu quả trên thực tiễn.
Thứ hai, các cơ quan có thẩm quyền cần có hướng dẫn thống nhất trong các trường
hợp xác định đâu là trường hợp phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và
đâu là tranh chấp dân sự theo hướng yêu cầu xác định rõ ý thức chủ quan của người
thực hiện hành vi sau khi nhận được tài sản, nếu có khả năng trả lại tài sản trên thực
tế mà cố tình không thực hiện chứ không phải vì hoàn cảnh không th trả được thì
mới xác định là tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Thứ ba, các cơ quan có thẩm quyền cần có thêm các hướng dẫn đ phân biệt
giữa tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với tội phạm gần gũi, nhất là tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản theo hướng xác định rõ về thời đi m hình thành tội phạm lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
20


Thứ tư, cần hướng dẫn thống nhất hơn về vấn đề áp dụng các tình tiết tại Điều
46; Điều 47; Điều 48; Điều 60 BLHS, vấn đề có được thực hiện bù trừ các tình tiết
tăng nặng, giảm nh TNHS hay không, tình tiết giảm nh tại Khoản 2 Điều 46 có
được bù trừ với tình tiết tăng nặng đ áp dụng Điều 47 hay Điều 60 BLHS hay
không. Đến nay, BLHS 2015 sửa đổi đã có một số thay đổi đ ng ghi nhận về các
tình tiết tăng nặng, giảm nh TNHS tại Điều 51; 52 BLHS 2015 theo hướng quy
định rõ hơn, cụ th hơn các tình tiết đ áp dụng. Tuy nhiên, quy định đ quyết định
hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng (Điều 54 BLHS
2015), áp dụng án treo (Điều 65 BLHS 2015) chưa được hướng dẫn cụ th về vấn đề
bù trừ các tình tiết tăng nặng, giảm nh TNHS nên cần nhanh chóng có hướng dẫn
việc áp dụng. Theo tác giả, có th đưa ra hướng dẫn theo hướng nếu người phạm tội
có cả tình tiết tăng nặng và tình tiết giảm nh thì lấy số lượng tình tiết giảm nh trừ
đi số lượng tình tiết tăng nặng mà còn từ 2 tình tiết giảm nh trở lên quy định tại
Khoản 1 Điều 46 (Khoản 1 Điều 51 BLHS 2015) thì mới được áp dụng Điều 47 hay
Điều 60 BLHS 1999 (Sau này là Điều 54 hay Điều 65 BLHS 2015).


lý nghiêm minh trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử các vụ án về tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Đ i với Viện kiểm sát nhân dân
Thứ nhất, Viện ki m sát nhân dân tăng cường hơn nữa trách nhiệm của ki m
sát viên, chuyên viên, không ngừng phát huy hiệu quả hoạt động trong công tác thực
hành quyền công tố và ki m sát hoạt động tư pháp trong đ có những vụ án về tội
phạm Điều 140 BLHS.
Thứ hai, đổi mới phương thức hoạt động nghiệp vụ, tổ chức các cuộc họp
chuyên đề về tội phạm nói chung, tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
nói riêng.
Thứ ba, thường xuyên có hoạt động phối hợp liên ngành với ơ quan Điều
tra, Tòa án.
Thứ ư, nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của ki m sát viên
và đội ngũ cán bộ.
Thứ ăm, tăng cường vai trò lãnh đạo của Viện trưởng Viện ki m sát kết hợp
với tăng cường quyền hạn và trách nhiệm của Ki m sát viên đ nâng cao trách
nhiệm từng cá nhân trong việc xem xét phê chuẩn hoặc không phê chuẩn quyết định
truy tố bị can phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, tránh làm oan sai
người vô tội hay bỏ lọt tội phạm, áp dụng đầy đủ các biện pháp theo quy định của
pháp luật đ loại trừ vi phạm.
Đ i với Tòa án nhân dân
Thứ nhất, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân cần phát huy hiệu quả của nguyên
tắc độc lập khi xét xử, đảm bảo hoạt động xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản được thực hiện nghiêm minh.
Thứ hai, Tòa án nhân dân cần tiếp tục đẩy mạnh, nâng cao hoạt động bồi
dưỡng, đ o tạo trình độ, phẩm chất, chuyên môn nghiệp vụ và kiến thức pháp luật
của đội ngũ cán bộ.
Thứ ba, cần nâng cao hoạt động phối hợp giữa Tòa án với ơ quan điều tra,
Viện ki m sát trong hoạt động tiến hành tố tụng đối với tội phạm lạm dụng tín

ph p l , cần đảm bảo về vấn đề năng lực, tr nh độ của đội ngũ luật sư, trợ giúp viên
ph p l được đ o tạo b i bản, chuyên sâu, c nhận thức ph p luật đúng đắn. Những
người n y cần được tích lũy kinh nghiệm về xét xử đối với c c vụ n về tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt t i sản n i riêng, c c tội phạm n i chung được to n diện
nhằm đưa ra được c c kiến phản biện, nhận định được chính x c, kh ch quan,
đúng ph p luật. L m được điều n y sẽ giúp ph t huy thêm được hiệu quả đối với
công t c ph ng ngừa tội phạm n i chung, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t i sản
nói riêng.
KẾT LUẬN
1. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được BLHS 1999 quy định tại
Điều 140 xâm phạm quan hệ sở hữu được pháp luật hình sự bảo vệ. Hành vi khách
quan của tội phạm có tính nguy hi m cho xã hội, chiếm đoạt tài sản hợp pháp của
chủ sở hữu. Tội phạm được thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp. Thời đi m xác
định tội phạm là sau khi người phạm tội có được tài sản từ giao dịch hợp pháp với
chủ sở hữu mới nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn gian dối, bỏ
trốn hay đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng
trả lại.
2. Quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã được ghi nhận từ
rất sớm trong pháp hình sự Việt Nam với các tên gọi dần được hoàn thiện hơn qua
mỗi thời kỳ. Trong tiến trình lập pháp, trải qua các thời kỳ của BLHS, quy định về
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản th hiện trình độ lập pháp ngày càng cao
tương ứng với sự phát tri n của xã hội. Đến nay, BLHS 1999 sửa đổi quy định tội
phạm này đã cơ bản đ p ứng được yêu cầu đấu tranh phòng ngừa tội phạm. Ngoài
ra, BLHS 2015 mới đây cũng tiếp tục ghi nhận các quy định về tội phạm tại Điều
175. Các quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản th hiện trong BLHS
2015 đã cụ th , chi tiết hơn và khắc phục nhiều hạn chế trước đây của BLHS 1999.
Bên cạnh đ , pháp luật hình sự của các nước trên thế giới như Liên bang Nga, Trung
Quốc, Vương quốc Thuỵ Đi n cũng có quy định về tội phạm này. Tuy các quy định
có khác nhau về nội dung, hình thức tuỳ thuộc điều kiện kinh tế, xã hội mỗi quốc gia
23


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status