VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN DUY HÙNG
ĐỊNH TỘI DANH TỘI LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. PHÙNG THẾ VẮC
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đề tài “Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hà Nội” là công
trình nghiên cứu khoa học. Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn bảo
đảm độ tin cậy, chính xác và trung thực.
Những kết luận của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Luận văn này là công trình nghiên cứu của bản thân tôi dưới sự hướng
dẫn của PGS.TS. Phùng Thế Vắc.
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
BLHS
Bộ luật hình sự
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
BLDS
Bộ luật dân sự
BTP
Bộ tư pháp
CQĐT
Cơ quan điều tra
CTTP
Cấu thành tội phạm
ĐTD
Định tội danh
GS.TS
TTLT
Thông tư liên tịch
TS
Tiến sĩ
VKSND
Viện kiểm sát nhân dân
VKSNDTC
Viện kiểm sát nhân dân
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án hình sự của Tòa án nhân
dân thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016......................... 40
Bảng 2.2: Tình hình công tác thụ lý, giải quyết án lừa đảo chiếm đoạt tài sản
của Tòa án nhân dân giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 ........................... 42
Bảng 2.3. Thống kê tội phạm xâm phạm quyền sở hữu xảy ra tại thành phố
Hà Nội giai đoạn từ năm 2012 đến năm 2016 ................................................ 61
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Thể hiện số vụ án lừa đảo chiếm đoạt tài sản chiếm 3,4% so với
tổng số vụ án hình sự trên địa bàn................................................................... 43
quy định của pháp luật về các tội phạm cụ thể trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản để phân biệt giữa tội phạm này với tội phạm khác dẫn đến việc các cơ
quan áp dụng pháp luật còn tỏ ra lúng túng trong việc xác định tội danh, hình
phạt làm ảnh hưởng đến chất lượng xét xử, chưa đáp ứng được yêu cầu đấu
tranh phòng và chống tội phạm. Vướng mắc này đặt ra cho các nhà nghiên
1
cứu luật hình sự nhiệm vụ là phải làm rõ về mặt lý luận cũng như bản chất và
danh giới của các tội phạm cụ thể trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm
làm cơ sở cho nhận thức và áp dụng thống nhất về vấn đề này trong thực tiễn.
Với ý nghĩa phục vụ cho công tác nghiên cứu, với động lực tìm hiểu pháp luật
để góp một phần lý luận cho việc nhận thức đúng đắn, thống nhất về các tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản giúp ích cho công tác đấu tranh phòng và chống các tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản trong tình hình mới, tôi chọn đề tài: “Định tội danh tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Thành phố Hà Nội”
làm đề tài luận văn Thạc sĩ theo chuyên ngành Luật hình sự và tố tụng hình sự.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Định tội danh đúng có ý nghĩa rất to lớn về mặt chính trị - xã hội, đạo
đức và pháp luật.Vì vậy mà hoạt động định tội đã được đề cập trong rất nhiều
công trình nghiên cứu khoa học của các chuyên gia luật hình sự của nước ta,
trong đó phải kể đến một số công trình nghiên cứu của PGS.TSKH. Lê Cảm:
“Một số vấn đề lý luận chung về định tội danh”; Chương I, Giáo trình Luật
hình sự Việt Nam (phần các tội phạm) của khoa Luật trực thuộc Đại học Quốc
Gia Hà Nội (Tập thể tác giả do PGS.TSKH. Lê Cảm chủ biên), Nxb Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2003; “Định tội danh - lý luận, hướng dẫn mẫu và 350 bài
tập thực hành”, Lê Cảm và Trịnh Quốc Toản chủ biên, Nxb Đại học Quốc gia
Hà Nội, 2004; “Thay đổi định tội danh một số vấn đề lý luận và thực tiễn”,
GS.TS. Võ Khánh Vinh, Tạp chí tòa án nhân dân, số 11, 2003; “Định tội
danh và quyết định hình phạt” TS. Dương Tuyết Miên chủ biên, Nxb Công
3.1. Mục đích nghiên cứu của đề tài: Trên cơ sở phân tích những vấn
đề lý luận về định tội danh, các quy định của pháp luật hình sự về tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản và thực tiễn định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
trên địa bản Thành phố Hà Nội trong thời gian từ năm 2012 đến năm 2016,
luận văn đề xuất các giải pháp định tội danh đúng tội lừa đảo chiếm đoạt tài
sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài:
Thông qua mục đích nghiên cứu, xác định nhiệm vụ nghiên cứu của đề
tài là phân tích, đánh giá những vấn đề như sau:
3
- Phân tích khái niệm: Ý nghĩa, quá trình và cơ sở pháp luật của định
tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
- Phân tích định tôi danh theo các yếu tố cấu thành của tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản.
- Phân tích thực trạng tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa
bàn Thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016 chỉ ra nguyên nhân của
thực trang đó.
- Phân tích yêu cầu đối với định tội danh đúng tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản.
- Đề xuất các giải pháp bảo đảm định tội danh đúng tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Luận văn lấy các quan điểm khoa học về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
và về định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; các quy định của pháp luật
hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản; thực tiễn định tội danh tội lừa đảo
chiếm đoạt tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội từ năm 2012 đến năm 2016
để nghiên cứu các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu của đề tài.
a. Về mặt lập pháp, bên cạnh những quy định hiện hành như Bộ luật
hình sự năm 1999, được sửa đổi bổ sung năm 2009, Bộ luật tố tụng hình sự
năm 2003, thì các quy định về việc định tội danh nói chung và định tội danh
tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nói riêng vẫn còn rời rạc, nằm rải rác trong
nhiều văn bản pháp luật khác nhau như Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLTTANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Tòa án
nhân dân tối cao, Bộ tư pháp, Bộ Công an hướng dẫn áp dụng một số quy
định tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu của Bộ luật hình sự năm 1999”,
Nghị quyết số 01/2001/NQ-HĐTP ngày 15/03/2001 của Hội đồng Thẩm phán
Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của các
5
điều 139,193,194,278,279 và 289 Bộ luật hình sự năm 1999… dẫn đến tình
trạng thiếu thống nhất, thiếu đồng bộ trong việc giải thích pháp luật.
b- Về mặt thực tiễn chính xuất phát từ thực tiễn định tội danh tội lừa
đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn cả nước nói chung và ở tòa án nhân dân
Thành phố Hà Nội nói riêng đã cho thấy sự yếu kém của một bộ phận cán bộ,
công chức trong việc nhận thức cũng như áp dụng đúng đắn các quy định của
pháp luật hình sự dẫn đến hiệu quả của việc đấu tranh phòng chống tội phạm
chưa cao, đôi khi còn bỏ lọt tội phạm gây thiệt hại cho các quyền và tự do của
công dân, làm giảm hiệu quả của công cuộc đấu tranh chống tội phạm.
c- Về mặt lý luận, vấn đề định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
tuy đã được đề cập trong nhiều công trình nghiên cứu khác nhau nhưng chưa
có một nghiên cứu nào đề cập đến việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt
tài sản trên địa bàn Thành phố Hà Nội, vì vậy:
- Thông qua việc nghiên cứu đề tài nhằm làm rõ các khía cạnh pháp lý
về định tội danh nói chung và định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên
địa bàn Thành phố Hà Nội nói riêng góp phần xây dựng, hoàn thiện lý thuyết
định tội danh trong khoa học pháp lý hình sự.
được hiểu là để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội thì phải định tội được theo tội danh mà luật hình sự quy
định. Cơ sở của việc định tội dựa vào các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Cơ quan điều tra khi đề nghị truy tố, trong bản kết luận điều tra đã phải
sơ bộ một tội danh. Viện kiểm sat khi quyết định truy tố bị can ra trước tòa án
xét xử phải xác định cụ thể tội danh trong bản cáo trạng theo điều luật hình sự
quy định. Sau khi kết thúc thủ tục tố tụng tại phiên tòa và nghị án, Tòa án
(Hội đồng xét xử) quyết định cuối cùng về tội danh (định tội) và hình phạt áp
dụng (lượng hình).
Có quan điểm cho rằng, định tội danh là một quá trình nhận thức lý
luận có tính logic, đồng thời là một trong những dạng của hoạt động thực tiễn
7
áp dụng pháp luật hình sự cũng như pháp luật tố tụng hình sự và được tiến
hành bằng cách trên cơ sở chứng cứ , tài liệu thu thập được và các tình tiết
thực tế của vụ án hình sự để đối chiếu, so sánh và kiểm tra nhằm xác định sự
phù hợp giữa các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể tương ứng do luật
hình sự quy định [12, tr 33].
Theo một quan điển khác, định tội danh được hiểu là hoạt đọng thực
tiễn của các cơ quan tố tụng (cơ quan điều tra, viện kiểm sát, tòa án) và một
số cơ quan khác cố thẩm quyền theo quy định của pháp luật để xác định một
người có phạm tội hay không , nếu phạm tội thì đó là tội gì , theo điều luật
nào của Bộ luật hình sự hay theo cách nói khác đây là quá trình xác định tên
tội cho hành vi nguy hiểm đã thực hiện [32, tr.9].
Cũng có những quan điểm cho rằng định tộ danh là việc xác định và
ghi nhận về mặt pháp lý sự phù hợp chính xác giữa các dấu hiệu của hành vi
phạm tội cụ thể đã được thực hiện với các dấu hiệu của cấu thành tội phạm
được quy dịnh trong quy phạm pháp luật hình sự [36, tr 9-10].
Những quan điểm trên đã đề tương đối đầy đủ nội hàm của định tội
Trong giai đoạn này quá trình xác định các dấu hiệu cùng loại của hành vi
phạm tội, hay nói cách khác, xác định tội phạm trên được nêu trong chương
nào của Bộ luật hình sự (BLHS). Giai đoạn thứ ba của qúa trình định tội danh
là đối chiếu và so sánh các loại dấu hiệu tội phạm. Ví dụ, Điều tra viên sau
khi xác định rằng hành vi phạm tội này có liên quam đến tội lừa đảo chiếm
đoạt tài sản (Chương XIV BLHS) cần phải làm sáng tỏ đó là tội gì: Tội cướp
tài sản, tội cướp giật tài sản hay tội trộm cắp tài sản … Chính trong giai đoạn
này việc so sánh được tiếp tục trong phạm vi của một điều luật thuộc một
chương cụ thể của BLHS: Cơ cấu thành cơ bản hay cấu thành tội phạm với
các tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ.
Quá trình tội danh đối với một hành vi nguy hiểm cho xã hội tất yếu
trải qua ba giai đoạn nói trên . Như vậy, việc so sánh một hành vi với ý nghĩa
là tội phạm được tiến hành ngay trong giai đoạn nói trên. Như vậy, việc so
9
sánh một hành vi với ý nghĩa là tội phạm được tiến hành ngay trong giai đoạn
đầu của tố tụng hình sự. Điều tra viên không thể bị hạn chế bằng một kết luận
chung rằng trường hợp cụ thể đang được xem xét liên quan tới một nhóm các
hành vi tội phạm. Để truy cứu trách nhiệm hình sự một người nào đó cần phải
kết thúc cả quá trình định tội danh. Cần xác định tính có lỗi của một người
nhất định trong việc thực hiện một hành vi phạm tội được quy định trong một
điều luật nào đó của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của BLHS. Nói cách khác,
cần phải tiến hành giai đoạn thứ hai của quá trình định tội danh - tức là xác
định loại hành vi, xác định chương nào trong BLHS đề cặp loại tội phạm đã
được thực hiện. Sau giai đoạn này còn có nhiệm vụ làm sáng tỏ trường hợp
đang được xem xét thuộc loại tội nào và điều luật nào trong tội LĐCĐTS của
BLHS quy định trách nhiệm hình sự về tội phạm đó.
Định tội danh tội LĐCĐTS dựa vào các dấu hiệu của cấu thành tội
phạm là một phương pháp khoa học của việc áp dụng các quy phạm của pháp
lựa chọn trong nhóm ấy một cấu thành tội phạm nào mà các dấu hiệu của nó
phù hợp với tội phạm đã được thực hiện. bốn giai đoạn này phản ánh một
cách đầy đủ, chính xác và khách quan việc làm của người làm công việc tìm
kiếm quy phạm pháp luật để định tội danh một hành vi nguy hiểm cho xã hội
đã được thực hiện.
Như vậy, định tội danh tội LĐCĐTS là một dạng của hoạt động áp
dụng pháp luật có ý nghĩa lớn về mặt chính trị - xã hội, đạo đức và pháp luật.
định tội danh phải dựa vào tình tiết thực tế của vụ án và các quy định của
pháp luật hình sự. nhưng để đặt tới chân lý khách quan, thì người định tội
danh phải tiến hành theo một trật tự đã trình bày ở trên.
1.1.3. Ý nghĩa định tội danh
Định tội danh là một giai đoạn cơ bản của việc áp dụng các quy phạm
pháp luật hình sự. Định tội danh đúng có ý nghĩa chính trị xã hội, đạo đức và
pháp luật rất lớn [36,tr.28]
11
Đạo luật hình sự thể hiện ý chí về mặt nhà nước của nhân dân ta đối với
vấn đề đấu tranh với tình hình tội phạm. định tội danh đúng là một biểu hiện
của việc thực hiện đúng biện pháp chính trị, thực thi đúng chính trị, thực thi
đúng ý chí của nhân dân đã được thể hiện trong luật, bảo vệ có hiệu quả các
lợi ích của xã hội, của nhà nước và của con người của công dân. Góp phần
đảm bảo công lý và công bằng xã hội.
Định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là sự thể hiện việc đánh giá
chính trị - xã hội và pháp lý đối với những hành vi nhất định. Định tội danh đúng
sẽ loại trừ việc kết án vô căn cứ những người có hành vi không nguy hiểm cho
xã hội, không trái pháp luật hình sự tạo điều kiện tiền đề pháp lý cho việc quyết
định hình phạt công bằng đối với những người phạm tội [36, tr.29].
Hậu quả của việc định tội danh là rất đa dạng. Nhưng hậu quả cơ bản
hoạt động lập pháp. Để đảm bảo cho việc giải thích pháp luật bằng văn bản pháp
luật có giá trị pháp lý cao nhất, thì sự giải thích bắt buộc do Ủy ban thường vụ
Quốc hội tiến hành trên cơ sở ủy quyền của Quốc hội. Các văn bản hướng dẫn,
giải thích BLHS do chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC), Viện kiểm
sát nhân dân tối cao (VKSNDTC), Bộ tư pháp (BTP), Bộ công an (BCA), ban
hành theo sự chỉ đạo, ủy quyền của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bản chất của việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là so sánh
đối chiếu và kiểm tra để tìm sự giống nhau giữa các dấu hiệu của một hành vi
nguy hiểm cho xã hội được thực hiện trong thực tế khách quan với các dấu
hiệu tương ứng trong định nghĩa về loại tội phạm cụ thể nào đó được quy định
trong pháp luật hình sự. Pháp luật hình sự chứa những mô hình pháp lý mà
nhờ nó chúng ta xác định được sự trùng lặp của các dấu hiệu của một hành vi
nguy hiểm cho xã hội cụ thể được coi là cơ sở thực tế của định tội danh. Sự
liệt kê đấy đủ tất cả các hành vi nguy hiểm cho xã hội được đánh giá là hành
vi tội phạm đã được quy định trong BLHS và các qui định pháp luật hình sự
khác đã thể hiện nguyên tắc “chỉ người nào phạm tội đã được Luật hình sự
qui định mới phải chịu trách nhiệm hình sự”. Khi xây dựng hệ thống các quy
13
phạm pháp luật phần các tội phạm BLHS,trong quá trình tội phạm hóa các
hành vi nguy hiểm cho xã hội đã tìm xem các dấu hiệu nào đặc trưng cơ bản
nhất, lặp đi lặp lại nhiều lần nhất để điển hình hóa và quy định chúng trong
BLHS với tính chất là các dấu hiệu bắt buộc tương ứng của các cấu thành tội
phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng, cấu thành tội phạm đặc biệt tăng
nặng, cấu thành tội phạm giảm nhẹ và dùng nó làm mô hình pháp lý của việc
định tội danh. Dựa vào mô hình pháp lý đó những người có thẩm quyền tiến
hành trong việc định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản xác định sự phù
hợp giữa các dấu hiệu của những hành vi nguy hiển cho xã hội cụ thể tương
ứng được thực hiện trong thực tế khách quan. Làm cơ sở cho việc ra kết luận,
trong BLHS, bởi vậy khi tiến hành định tội phải dựa vào các điều luật tương
ứng trong BLHS. Nhưng cần đặc biệt lưu ý tới hiệu lực về không gian và thời
gian của điều khảo được viện dẫn. Có như vậy thì việc định tội danh mới đảm
bảo có đủ cơ sở pháp lý để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thực
hiện hành vi đó.
Ngoài ra, để chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện
chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội,
không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, Bộ luât tố tụng hình sự
(BLTTHS) quy định trình tự, thủ tục và các giai đoạn tố tụng điều này cũng
có nghĩa rằng mọi hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng: CQĐT ở giai
đoạn khởi tố - điều tra. VKSND ở giai đoạn truy tố và TAND ở giai đoạn xét
xử phải tuân theo đúng các quy định của BLTTHS. Trong đó, định tội danh ở
giai đoạn xét xử là một giai đoạn trung tâm và quan trọng để tăng cường pháp
chế, bảo vệ các quyền và tự do của công dân trong giai đoạn xét xử của tòa án
nói riêng và toàn bộ hoạt động tư pháp hình sự của nhà nước nói chung, góp
phần có hiệu quả vào cuộc đấu tranh phòng và chống tội phạm trong toàn xã hội.
1.2.3. Cấu thành tội phạm - mô hình pháp lý của định tội danh
Định nghĩa về tội phạm cụ thể được nêu trong quy phạm pháp luật phần
các tội phạm của BLHS tồn tại như mô hình về tội phạm làm cơ sở pháp lý
15
cho việc định tội danh. Mô hình đó thể hiện dưới dạng một cấu thành tội
phạm cụ thể.Và sự đánh giá tội phạm về phương diện pháp lý của nhà nước
được thể hiện dưới dang cấu thành tội phạm đó. Bởi vậy, cấu thành tội phạm
là mô hình khái quát, trừu tượng mang tính chất khao học gồm những dấu
hiệu chung cơ bản nhất của các tội phạm cùng thuộc một loại. Đó là những
dấu hiệu điển hình và có tính lặp đi lặp lại ở tất cả những hành vi thuộc loại
tội phạm đó.
Cấu thành tội tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm những dấu hiệu
xét tới tất cả các tình tiết liên quan tới vụ án cụ thể. Ngược lại, pháp luật hình
sự đòi hỏi Tòa án phải xem xét vụ án một cách đầy đủ toàn diện tất cả các
tình tiết đảm bảo tính công bằng trong xét xử.
Mặt khác, cấu thành tội phạm là mô hình tội phạm được ghi nhận trong
Luật hình sự, nhưng để định tội tội danh các tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
đúng, thì người định tội danh phải biết đánh giá các dấu hiệu trong mô hình
tội phạm trên cơ sở ý thức pháp luật của họ và các tình tiết xảy ra trong thực
tế. Điều đó đòi hỏi người định tội danh phải biết lựa chọn, đánh giá, xác định
được cấu thành tội phạm của hành vi, tình tiết nào có ý nghĩa pháp lý, những
tình tiết cơ bản nào đặt trong thể thống nhất xác định được cấu thành tội phạm
của hành vi. Từ đó mới có thể so sánh, đánh giá, tìm sự phù hợp giữa các tình
tiết của hành vi nguy hiểm cho xã hội đã được thực hiện trong thực tế với cấu
thành tội phạm nêu trong điều luật.
Qua phân tích chúng ta thấy rõ vai trò của cấu thành tội phạm đối với
định tội danh tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.Nhưng nó chỉ thực sự có ý nghĩa
khi người định tội danh hiểu được các dấu hiệu của cấu thành tội phạm một
cách cụ thể và chính xác. Để giúp cho cán bộ pháp luật hiểu rõ về cấu thành
tội phạm cũng như dấu hiệu trong các cấu thành tội phạm. Cách phân loại có
ý nghĩa khoa học nhất giúp cán bộ pháp luật hiểu rõ nội dung pháp luật, chú ý
đến các đặc điểm cơ cấu pháp luật trong BLHS là cách phân chia theo phương
diện riêng của hành vi phạm tội, nó được phân thành 4 nhóm: Nhóm dấu hiệu
17
nói về khách thể của tội phạm, nhóm dấu hiệu nói về khác quan, nhóm dấu
hiệu nói về chủ thể và nhóm nói về chủ quan của tội phạm. Đây là cách phân
chia phù hợp với tình tiết trong thực tế và một thể thống nhất nó tạo ra một
cấu thành tội phạm cụ thể. Sự phân chia này bao trùm tất cả các cấu thành tội
phạm, nhưng trong mỗi loại dấu hiệu ở các cấu thành tội phạm cụ thể khác
nhau lại mang một nội dung khác nhau. Có những loại nội dung giống nhau,
phạm pháp luật trong phần chung , thực tiễn xét xử, các định nghĩa khoa học về
các loại tội phạm và các bình luận về pháp luật hình sự. Tức là quá trình phát
hiện và làm sáng tỏ cấu thành tội phạm được tiến hành trong phạm vi pháp luật
hiện hành. Việc làm sáng tỏ cấu thành tội phạm là một đảm bảo quan trọng đối
với định tội danh chính xác. Và định tội danh là việc đối chiếu, so sánh một hiện
tượng xảy ra trong thực tiễn khách quan sinh động với một cấu thành tội phạm,
với những dấu hiệu đặc trưng cơ bản nói lên bản chất của loại tội phạm tương
ứng. Điều đó đòi hỏi người cán bộ pháp luật phải có ý thức pháp luật, có sự đánh
giá chủ quan chính xác, đầy đủ và thống nhất.
Trong luật hình sự, do tính chất đa dạng của tội phạm, có thể có nhiều
cấu thành tội phạm khác nhau cho một loại tội phạm. Trước hết nhà làm luật
xây dựng cho mỗi loại tội phạm một cấu thành tội phạm cơ bản và những dấu
hiệu bổ sung phản ánh mức độ nguy hiểm cho xã hội của một loại tội phạm.
Ba dạng cấu thành tội phạm này là một loại tội phạm được quy định trong
một điều luật. Như vậy, đối với mỗi loại tội phạm có thể có ba dạng cấu thành
tội phạm phản ánh ba trường hợp tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội
khác nhau một các cơ bản.
Cấu thành tội phạm cơ bản là cấu thành tội phạm chỉ có dấu hiệu định
tội. Cấu thành này bao gồm: Những dấu hiệu mô tả tội phạm và cho phép
phân biệt tội này với tội khác. Cấu thành tội phạm tăng nặng là cấu thành tội
phạm ngoài dấu hiệu định tội còn có thêm dấu hiệu định khung tăng nặng, tức
dấu hiệu phản ánh tội phạm có mức độ nguy hiểm cho xã hội tăng lên một
cách đáng kể (đa số đó là khoản 2,3,4 của các điều luật ở phần các tội phạm
19