VIỆN HÀN LÂM KHOA
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
DƢƠNG THỊ HẢI YẾN
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC TIỄN
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự
Mã số
: 9.38.01.04
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS. Võ Khánh Vinh
HÀ NỘI, 2018
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN .............................. 7
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài ................................................................. 7
1.2. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam ................................................................... 11
1.3. Đánh giá chung tình hình nghiên cứu .............................................................. 18
1.4. Những vấn đề đặt ra cần được nghiên cứu ....................................................... 19
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BLHS - Bộ luật Hình sự
BLTTHS - Bộ luật Tố tụng hình sự
CQĐT TP – Cơ quan điều tra tội phạm
LDTNCĐTS – Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
TAND – Tòa án nhân dân
TPHCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TTXH: Trật tự xã hội
VKSND – Viện Kiểm sát nhân dân
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sau hơn 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, đất nước ta đã đạt được nhiều
thành tựu to lớn, song cũng nảy sinh nhiều vấn đề phức tạp. Đấu tranh phòng,
chống tội phạm là nhiệm vụ thường xuyên được đặt ra đối với Nhà nước và toàn xã
hội. Bộ luật Hình sự ra đời, đóng một vai trò quan trọng trong việc xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (LDTNCĐTS) là tội phạm truyền
thống, phổ biến trong sản xuất, kinh doanh. Đặc biệt trong tình hình hiện nay, khi
nền kinh tế phát triển đã xuất hiện nhiều mặt tiêu cực, trong đó có các vấn đề liên
quan đến xâm phạm sở hữu đã kéo theo nhũng hệ luỵ cho đầu tư sản xuất, cho nền
kinh tế và cho chính người sở hữu. Tình trạng cho vay vốn với lãi xuất cao do
người dân tự huy động, không có sự đảm bảo của pháp luật vẫn diễn ra phức tạp, đã
xảy ra nhiều vụ vỡ nợ, mất khả năng thanh toán và có dấu hiệu cấu thành tội
LDTNCĐTS. Bên cạnh đó, những sơ hở, thiếu sót trong quản lý Nhà nước về hụi,
họ, phường, dịch vụ cầm đồ, dịch vụ cho thuê ôtô, xe máy và thói quen chỉ dựa vào
tình cảm, niềm tin để
2.1. Mục đích nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận, những quy định pháp lý về tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản qua nghiên cứu các bản án đã được định tội
danh và quyết định hình phạt của Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, với tội
phạm này từ đó đưa ra những kiến nghị, đề xuất để hoàn thiện những quy định về
tội danh này trong Bộ luật Hình sự.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án đưa ra các vấn đề cần
nghiên cứu sau đây:
- Đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản.
- Làm rõ những vấn đề lý luận về tội LDTMCĐTS theo pháp luật hình sự
Việt Nam như khái niệm, các dấu hiệu pháp lý, phân biệt các tội phạm về xâm
phạm sở hữu. Khái quát lịch sử lập pháp về tội LDTNCĐTS ở Việt Nam.
- Đánh giá khách quan, toàn diện về thực trạng áp dụng quy định của pháp
luật trong quá trình định tội danh và quyết định hình phạt về tội LDTNCĐTS trên
địa bàn thành phố Hồ Chí Minh trong khoảng 10 năm (2006 - 2016).
2
- Luận án đưa ra những vấn đề còn hạn chế, bất cập trong thực tiễn khi áp
dụng pháp luật đối với tội LDTNCĐTS. Qua đó đưa ra một số giải pháp cụ thể
nhằm nâng cao hiệu quả công tác điều tra, truy tố, xét xử đối với tội LDTNCĐTS ở
Việt Nam trong thời gian tới.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu của luận án là những vấn đề lý luận, quy định của
pháp luật hình sự cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về tội LDTNCĐTS
trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
về luật hình sự và tội phạm học. Các chính sách, pháp luật của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước về pháp luật hình sự, cụ thể là về việc đấu tranh phòng ngừa tội
LDTNCĐTS.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, nghiên cứu sinh đã sử dụng các phương pháp
nghiên cứu như sau:
- Phương pháp lôgíc lịch sử cụ thể được sử dụng trong nghiên cứu tài liệu,
đọc và tìm hiểu về lịch sử của vấn đề nghiên cứu; nghiên cứu một cách có hệ thống
các văn bản quy phạm pháp luật, các quy định, Nghị định, các chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, các Bộ, Ban, Ngành có liên quan về các vấn đề tội
LDTNCĐTS (Chương 1, 2).
- Phương pháp khảo sát, thống kê gần 500 vụ án được xét xử trong thời gian
từ 2006 đến 2016 trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; thông qua các Báo cáo tổng
kết của Cục Cảnh sát Điều tra tội phạm về trật tự xã hội; Nghiên cứu hồ sơ vụ án
LDTNCĐTS ở Cơ quan lưu trữ tại Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
- Phương pháp nghiên cứu điển hình, nghiên cứu các vụ án tiêu biểu trong số
các bản án đã được Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử, trong đó có sự
lựa chọn các vụ án phân tích theo mức độ, tính chất, số người bị xét xử trên địa bàn
các quận, huyện. Tỷ lệ vụ án xảy ra đa phần là ở các địa phương có nền sản xuất,
kinh tế phát triển hơn.
- Phương pháp phân tích, so sánh, tổng hợp: Nghiên cứu, phân tích các vụ án
để có đánh giá chung về tình hình, mức độ và thực tiễn xét sử, định tội danh và
quyết định hình phạt tội LDTNCĐTS (Chương 2, 3) để từ đó rút ra những ưu điểm,
4
hạn chế và nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế để từ đó đề xuất các giải pháp
(Chương 4).
- Phương pháp hệ thống hoá được sử dụng nhằm trình bày luận án theo một bố
6.2. Ý nghĩa về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng để thống nhất về nhận
thức các quy định của pháp luật về tội LDTNCĐTS góp phần khắc phục những hạn
chế, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng pháp luật, qua đó giúp nâng cao hiệu quả
công tác đấu tranh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
7. Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục. Luận án
được kết cấu thành 4 Chương, cụ thể:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Những vấn đề lý luận và pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản
Chương 3: Thực trạng pháp luật và áp dụng pháp luật hình sự về tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 4: Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng pháp luật về tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
Vấn đề về LDTNCĐTS cho đến nay đã có không ít các công trình khoa học,
các bài viết đề cập và nghiên cứu về vấn đề này. Mỗi công trình nghiên cứu đều đề
cập dưới một góc độ nhất định và đều có ý nghĩa đóng góp vào quá trình nghiên
cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói
riêng, đồng thời góp phần tích cực trong công cuộc đấu tranh chống và phòng ngừa
tội phạm trong giai đoạn hiện nay.
1.1. Tình hình nghiên cứu ở nƣớc ngoài
Theo Báo cáo của Cục điều tra Liên bang Hoa Kỳ (FBI), phát hành tháng
đe doạ trong các giao dịch. Tác giả dành hai chương phân tích giải quyết các vấn đề
liên quan đến xâm phạm sở hữu thông qua thủ đoạn lừa gạt, đe doạ, trong đó có
nhấn mạnh đến thủ đoạn lừa gạt tài sản. Chuyên khảo chủ yếu mới đề cập đến vấn
đề lừa gạt tài sản, cụ thể là vấn đề lừa đảo, chưa có những nội dung về tội lạm dụng
tín nhiệm để lừa gạt tài sản [70].
Tác giả Stijin Van Deale. Organnised property crimes in Belgium: the case
of the “itierant crime groups”, Global Crime, Vol 0, No. 3. 241- 247, Ghent
University, Belgium, August 2008 (Stijin Van Deale, Tội phạm xâm phạm sở hữu
có tổ chức tại Bỉ: Trường hợp “Các băng nhóm tội phạm hoạt động lưu động”, Tạp
chí Tội phạm toàn cầu, Tập 9, số 3 trang 241-247, Đại học Ghent, Bỉ, 2008). Bài
viết phân tích về hiện tượng các băng nhóm tội phạm hoạt động lưu động đang
được các cơ quan thực thi pháp luật tại Bỉ và các nước Tây Âu chú ý trong thời
gian gần đây. Mối quan tâm này bắt nguồn từ sự nhận thức nhiều hơn về tình trạng
tội phạm xâm phạm sở hữu gia tăng trong xã hội và dẫn đến nhiều quan điểm
nghiên cứu trên các phương diện: tội phạm học, chính sách phòng chống tội phạm.
Trong nghiên cứu đề cập cụ thể đến tội cướp giật, cưỡng đoạt tài sản trong các tội
xâm phạm sở hữu, nhưng trong đó chưa đề cập đến hành vi lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản [72].
Chuyên khảo “Property crime in townhouse developments: An assess of
physical design and crime rate” - (Tội xâm phạm sở hữu trong phát triển nhà ở đô
8
thị: Đánh giá về thiết kế tự nhiên và tỷ lệ tội phạm) của tác giả Sandro Basennese,
Đại học Guelph, Canada 1999. Chuyên khảo đã đánh giá mối quan hệ giữa các thiết
kế tự nhiên ở khu nhà đô thị với tình hình tội phạm liên quan đến xâm phạm tài sản
tại Waterloo (Canada) để minh chứng cho giả thuyết về sự tác động của không gian
đô thị, với các thiết kế tự nhiên thấp thì nguy cơ các loại tài sản bị xâm phạm sở
hữu nhiều hơn, nhưng nghiên cứu này chủ yếu đánh giá đến các tội phạm liên quan
tình trạng quá tải trong việc xử lý chứng cứ pháp y và ngăn ngừa những sai sót
quan trọng. Kết luận với quan điểm của một cảnh sát trưởng về phương pháp tiếp
cận, DNA và Điều tra tội phạm tài sản cung cấp cái nhìn sâu sắc về một cách tiếp
cận mới và quan trọng đối với việc điều tra hiện trường tội phạm. [74]
Công trình “Cultural Property Crime: An Overviwe and Analysis and
Analysis on Contempoary Perspectives and Trends” của các tác giả Joris D. Marc
Balcells, nhà xuất bản: Brill Academic Pub (16/10/2014)…Trong tội phạm về tài
sản văn hoá (Cultural Property Crime), các chuyên gia trong lĩnh vực tội phạm học,
luật nghệ thuật, nghiên cứu di sản, thực thi pháp luật, tâm lý pháp y, khảo cổ học,
lịch sử nghệ thuật và báo chí cung cấp những quan điểm đa ngành về khái niệm tội
phạm về tài sản văn hoá hiện nay, bao gồm tội phạm nghệ thuật. Ngoài ra, công
trình đề cập đến sự phát triển quốc tế, luật pháp và thực tiễn về việc hình sự hóa các
hành động chống lại tài sản văn hoá ngày càng tăng trong thời điểm xung đột.
Trong đó, đặc biệt chú ý đến tình trạng thay đổi và sự thẩm định bất thường về tài
sản văn hoá như là đối tượng của các tội phạm nghệ thuật. Cuốn sách bao gồm
nhiều chủ đề như giả mạo, tội phạm cổ trắng, cướp bóc khảo cổ và ảnh hưởng của
chiến tranh đối với di sản văn hoá. Các tác giả đã tiếp cận trên việc tổng hợp tri
thức đa ngành từ lĩnh vực tội phạm học, luật nghệ thuật, nghiên cứu di sản, thực thi
pháp luật, tâm lý pháp y, khảo cổ học, lịch sử nghệ thuật và báo chí để xem xét về
tội phạm xâm phạm tài sản trong văn hoá (các tác phẩm nghệ thuật, khâu thẩm
định, sự thay đổi bất thường về giá trị…) [75].
Từ các nghiên cứu trên, tác giả bước đầu đưa ra một số kết luận:
Tội xâm phạm sở hữu là loại tội phạm phổ biến trong đấu tranh phòng chống
tội phạm các nước.Có nhiều công trình khoa học đề cập đến từ lĩnh vực nghiên cứu,
điều tra, truy tố, xét xử. Tuy nhiên, theo tiếp cận của tác giả,các công trình này hầu
như mới chỉ dừng lại ở việc phân tích, đánh giá thực trạng của việc điều tra, truy tố,
10
Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 2015 (Thực hiện từ 01/7/2016),
Cao Thị Oanh, Lê Đăng Doanh (Ch.b); Nxb: Lao động, H: 2016. Cuốn sách ra đời
với mục đích giải thích, làm sáng tỏ các quy định của pháp luật hình sự, nâng cao
hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự trong thực tiễn. Bình luận khoa học mang tính
chuyên sâu các quy định của Bộ luật Hình sự năm 2015 là tài liệu bổ ích, thiết thực
cho những người thực thi pháp luật và giảng dạy, nghiên cứu. Trong phần Các tội
xâm phạm sở hữu đã nêu vấn đề đã nêu lên một số vấn đề chung và các tội phạm cụ
thể, trong đó có Điều 175, Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, với các dấu
hiệu pháp lý và khung hình phạt.
Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự Việt Nam 1999, t2, q1; Phần các tội
phạm cụ thể: Từ điều 78 đến điều 201; Uông Chu Lưu (Ch.b), Trần Đình Nhã, Võ
Khánh Vinh; Nxb: CTQG; H: 2003. Tác giả giới thiệu Bộ luật Hình sự Quốc hội
khoá X thông qua các tội xâm phạm anh ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng sức
khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người, xâm phạm quyền tự do dân chủ của công
dân, xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình, trật tự quản lý kinh tế, tội phạm về
môi trường, ma tuý. Trong đó làm rõ các tội phạm cụ thể từ Điều 78 đến Điều
201.Trong Điều 140 BLHS năm 1999, các tác giả đi sâu vào làm rõ 5 khoản trong
điều luật.
Giáo trình sau đại học; Phần các tội phạm; Võ Khánh Vinh (Ch.b); Nxb:
Khoa học xã hội; H: 2014. Giáo trình trình bày khái niệm, đối tượng và hệ thống
các tội phạm của luật hình sự Việt Nam. Các tội xâm phạm an ninh quốc gia; xâm
phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của con người; xâm phạm quyền
tự do dân chủ của công dân,... Các tội phạm về môi trường, ma tuý, chức vụ, hoạt
động tư pháp...
Lý luận chung về định tội danh, Giáo trình sau đại học; Võ Khánh Vinh;
Nxb: Công an nhân dân; H: 2014. Giáo trình nêu các khái niệm, ý nghĩa, cơ sở
phương pháp luận và cơ sở pháp lý của định tội danh.Các giai đoạn của quá trình
định tội danh. Định tội danh theo các yếu tố cấu thành tội phạm, hành vi tội phạm
chưa phong phú.
Tập bài giảng: Chương trình đào tạo nghiệp vụ xét xử, phần kỹ năng giải
quyết vụ án hình sự của Học viện Toà án, do tập thể tác giả: Trần Văn Độ, Nguyễn
Trí Tuệ, Mai Văn Bộ… biên soạn. Tập bài giảng gồm hai phân là Phần kỹ năng
13
chung giải quyết các vụ án hình sự và phần chuyên sâu, gồm 18 bài giảng gồm các
kỹ năng từ thụ lý vụ án, định tội danh và quyết định hình phạt... Công trình chủ yếu
để trang bị cho thẩm phán nên phần chuyên sâu khá phong phú về nội dung từ việc
thụ lý vụ án, định tội danh và quyết định hình phạt được chỉ dẫn trong các nội dung
cụ thể về các loại tội phạm.
Sách chuyên khảo: Các tội xâm phạm sở hữu của tác giả Nguyễn Ngọc Hoà,
Hà Nội (1991) đã nêu ra và giải quyết một số vấn đề về lý luận và thực tiễn đối với
các tội xâm phạm sở hữu như đã làm rõ khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của hành
vi chiếm đoạt tài sản và phân biệt nó với hành vi đặc trưng của các tội xâm phạm
sở hữu khác theo căn cứ của BLHS năm 1985. Đời sống xã hội luôn có sự phát
triển, trong đó có pháp luật cũng sẽ thay đổi theo sự phát triển đó. Tuy nhiên, đây
cũng là tài liệu quan trọng để tác giả nghiên cứu và thấy được sự thay đổi về lý luận
và thực tiễn của các tội xâm phạm sở hữu.
Sách chuyên khảo: Các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS năm 1999 (bổ
sung, sửa đổi năm 2009) của Mai Văn Bộ, Nxb: CTQG, Hà Nội (2010), đã tiếp cận
và làm rõ những vấn đề về quyền sở hữu tài sản và các tội xâm phạm sở hữu. Trong
đó, tác giả đã làm rõ khái niệm về tài sản, khái niệm các tội xâm phạm sở hữu, các
yếu tố cấu thành tội phạm. Cụ thể, Chương II, Chương III tác giả đã các tội phạm
xâm phạm sở hữu và một số vấn đề thực tiễn áp dụng quy định của BLHS về các
tội xâm phạm sở hữu. Trong đó, ở nội dung về tội phạm LDTNCĐTS, tác giả mới
nêu khái quát một số vấn đề lý luận và hình phạt trong Điều 140 BLHS.
Sách chuyên khảo: Nghiên cứu, so sánh pháp luật hình sự của một số nước
Thanh; Nxb: Tp Hồ Chí Minh; Tp Hồ Chí Minh: 2002. Cuốn sách viết dưới dạng
hỏi đáp điều tra truy tố, xét xử vụ án hình sự, xét xử sơ thẩm, xét lại bản án; Sự thi
hành bản án và quyết định của toà án; Các vấn đề về biên bản, thời hạn, án phí, việc
tạm giữ, tạm giam, khám xét, làm chứng, những người tham gia tố tụng; Nguyên
đơn, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Bộ luật Hình sự Việt Nam hiện hành: Câu hỏi, tình huống thực tiễn và gợi ý
trả lời; Đỗ Đức Hồng Hà (Ch.b); Nxb: Hồng Đức; Thanh Hoá: 2012. Gồm những
câu hỏi, tình huống thực tiễn và gợi ý trả lời các kiến thức cơ bản của luật hình sự
về thời điểm phát sinh tội phạm, về xác định tội danh, khung hình phạt, giai đoạn
phạm tội, đồng phạm.
15
Một số quy định hướng dẫn thi hành Bộ luật Hình sự; Đức Hiển (BS); Nxb:
Tư pháp; H: 2011. Gồm các Thông tư, Nghị quyết của Quốc hội, Hội đồng thẩm
phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Bộ luật
Hình sự, quy định về truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi sản xuất,
mua bán, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng trái phép pháo nổ và thuốc pháo, hành vi
xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, quản lý lâm sản, xuất khẩu lao động, hành vi xâm
phạm chế độ hôn nhân gia đình...
Vũ Nguyên: Chỉ dẫn áp dụng Bộ luật Hình sự: Được sửa đổi, bổ xung năm
2009, Nxb: Tư pháp; H:2011; Nghị quyết số 33/2009/NĐ- QH12 ngày 19 tháng 6
năm 2009; Bình luận khoa học Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm
2009: Phần chung/ Nguyễn Đức Mai (ch.b.), Đỗ Thị Ngọc Tuyết. - Nxb: Chính trị
Quốc gia, 2012; Hệ thống pháp luật hình sự Việt Nam/ Trần Minh Hưởng (ch.b.),
Nguyễn Đức Phúc, Lê Trung Kiên.... - Nxb: Hồng Đức; Bình luận khoa học Bộ luật
Hình sự: Đã được sửa đổi, bổ sung 2011; Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi,
bổ sung năm 2009. - Nxb: Chính trị Quốc gia, 2015; Giáo trình luật hình sự: Dùng
cho đào tạo cao học, chuyên ngành tội phạm học và điều tra tội phạm, Trịnh Văn
đề này.
Nhóm các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
Luận án tiến sĩ Các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa trong Luật hình
sự Việt Nam của Trịnh Hồng Dương, Hà Nội (1980). Tác giả đã đề cập đến một số
vấn đề lý luận và thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự về các tội xâm phạm sở hữu
trên cơ sở bình luận Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản xã hội chủ nghĩa
năm 1970 và thực tiễn các quy định đó. Từ các vấn đề trên, tác giả có những kiến
nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật và hướng dẫn áp dụng Pháp lệnh trong
thực tiễn. Tuy mới chỉ là bình luận Pháp lệnh, các vấn đề đã cũ nhưng luận án có ý
nghĩa và cách thức áp dụng pháp luật và từ đó cho thấy được sự phát triển của Luật
hình sự Việt Nam.
Luận án tiến sĩ Trách nhiệm hình sự đối với các tội xâm phạm sở hữu của tác
giả Nguyễn Ngọc Chí, Viện Nghiên cứu Nhà nước và Pháp luật, Hà Nội (2000).
Tác giả đã nghiên cứu khía cạnh tội phạm học của các tội xâm phạm sở hữu gồm
đặc điểm tình hình, thiệt hại, hậu quả của loại tội phạm này. Tác giả cơ bản đã làm
17
sáng tỏ chính sách hình sự, phân tích quy định thông qua minh chứng bằng các vụ
án trong thực tế. Trong đó, tác giả chưa đề cập sâu đến tội LDTNCĐTS. Tuy đã rút
ra những điểm hạn chế nhưng tác giả chưa đưa ra được những kiến nghị, giải pháp
cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật hình sự.
Luận văn Quy định về định lượng giá trị tài sản đối với các tội xâm phạm sở
hữu trong BLHS 1999 của Phạm Thế Anh, Đại học Luật Hà Nội (2011) đã trình
bày một số vấn đề pháp lý về định lượng, làm rõ ý nghĩa quy định về định lượng
giá trị tài sản đối với các tội xâm phạm sở hữu trong BLHS 1999 nhằm làm phân
biệt với các hành vi vi phạm pháp luật. Tác giả đánh giá thực tiễn và nêu lên một số
kiến nghị, tuy nhiên, chưa làm rõ các căn cứ quy định định lượng tài sản, chưa có
các tiêu chí đánh gía cụ thể và cách xác định giá trị tài sản mà thông thường, theo
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam
hiện hành.
- Ở những mức độ khác nhau, các công trình nghiên cứu đã đưa ra một số bất
cập, vướng mắc trong thực tiễn xét xử của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản để thấy sự bất hợp lý trong một số quy định của pháp luật.
- Một số công trình nghiên cứu đã phân tích và đưa ra một số kiến nghị
góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản.
1.4. Những vấn đề đặt ra cần đƣợc nghiên cứu
Khảo sát tổng quan các vấn đề nghiên cứu có liên quan đến đề tài trong và
ngoài nước cho thấy, vẫn còn một số hạn chế mà các công trình nghiên cứu chưa
giải quyết hoặc giải quyết chưa triệt để, như:
- Chưa phân tích hết tất cả các loại tội chiếm đoạt sở hữu mà chỉ dừng lại ở
một tội điển hình là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là chủ yếu.
- Một số các kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật mới mang tính nhỏ lẻ,
thiếu hệ thống và chưa xây dựng được mô hình pháp lý cho loại tội phạm có sự đề
xuất sửa đổi.
- Các công trình nghiên cứu chưa làm nổi bật được sự kế thừa và tiếp thu
một số quy định của một số nước trên thế giới về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản để góp phần hoàn thiện pháp luật.
19
- Chưa phân tích rõ nguyên nhân của những vướng mắc, bất cập trong thực
tiễn xét xử xuất phát từ đâu và chưa đánh giá rõ mức độ phạm tội và việc áp dụng
pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành với thực tiễn áp dụng luật.
- Ở Việt Nam, chưa có công trình nghiên cứu nào ở cấp độ một luận án tiến sỹ
nghiên cứu tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sảntheo pháp luật hình sự Việt Nam.
- Các công trình nghiên cứu khoa học nêu trên đã đề cập, nghiên cứu dưới
căn thạc sĩ luật học nghiên cứu... để từ đó cho thấy được tội này cần được nghiên
cứu nhiều hơn. Việc không chia theo nhóm vấn đề sẽ gây một số khó khăn trong
cách tiếp cận, tuy vậy viêc chia theo công trình sẽ dễ thấy được những vấn đê còn
đặt ra đối với các công trình khi được phân chia theo cấp độ.
Các tài liệu tiếp cận ở các giác độ khác nhau, chủ yếu là về các tội xâm phạm
sở hữu. Tuy nhiên việc tiếp cận vấn đề dưới dạng một nghiên cứu chuyên sâu về
một điều luật cụ thể thì chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống,
chi tiết và đưa ra các kiến nghị toàn diện để hoàn hiện các quy định của pháp luật
hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đặc biệt là việc tổng kết lý
luận từ việc nghiên cứu thực tiễn 500 bản án đã xét xử có liên quan đến tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để đưa ra lý
luận nhằm hoàn thiện hơn nữa quy định của pháp luật Hình sự về vấn đề này. Từ
thực trạng như vậy, việc nghiên cứu đề tài “Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hồ Chí Minh” có ý
nghĩa lý luận và thực tiễn góp phần cung cấp cứ liệu, luận chứng khoa học cho việc
hoàn thiện các quy định về các tội xâm phạm sở hữu trong Bộ luật Hình sự.
21