Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội - Pdf 47

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ THU HƯỜNG

TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
THEO PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM TỪ THỰC
TIỄN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

Chuyên ngành

: Luậ

Mã s

: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS CAO THỊ OANH

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các kết
quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và
trung thực. Tôi đã hoàn thành tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các
nghĩa vụ tài chính theo quy định của Viện khoa học xã hội, Viện hàn lâm khoa

chiếm đoạt tài sản những năm gần đây ............................................................................. 61
3.3. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực tiễn đối với tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản .............................................................................................................. 65
KẾT LUẬN ...................................................................................................................... 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ....................................................................... 80


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLDS:

Bộ luật Dân sự

BLHS:

Bộ luật Hình sự

BLTTHS:

Bộ luật Tố tụng Hình sự

CTTP:

Cấu thành tội phạm

TNHS:

Trách nhiệm Hình sự

TAND:


Thống kê việc quyết định hình phạt về tội lạm dụng tín nhiệm
Bảng 3.3.

chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội từ 20122016

55


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đứng trước công cuộc đổi mới và hội nhập thế giới hiện nay, đất nước ta không
ngừng phát triển cả về trí và lực. Điều kiện kinh tế, xã hội của con người ngày càng
cao, trình độ của người dân cũng ngày một phát triển. Bên cạnh những thành tựu trên
các lĩnh vực về kinh tế, văn hoá, chính trị, xã hội nước ta đã đạt được, mặt trái của sự
phát triển không thể không nói đến tình hình tội phạm ngày càng phức tạp hơn, các loại
tội phạm hoạt động ngày càng tinh vi với tính chất và mức độ nguy hiểm ngày càng
nghiêm trọng. Dưới sự phát triển của nền kinh tế thị trường, đời sống của người dân
ngày một nâng cao lại làm các tội phạm xâm phạm sở hữu càng nảy sinh thêm lòng
tham, ý muốn chiếm đoạt tài sản có giá trị của người khác để phục vụ cho bản thân.
Một trong các loại tội xâm phạm sở hữu cần nói đến là tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản.
Bằng các thủ đoạn ngày càng tinh vi và phức tạp, tội phạm lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản có thể gây ra rất nhiều thiệt hại cho người dân, những người vì sự tin
tưởng mà trao tài sản cho người phạm tội. Cũng chính vì sự tin tưởng này mà nhiều
người dân bị hại có thể mất đi những tài sản rất lớn, nhiều khi dẫn tới kiệt quệ về kinh
tế, lâm vào cảnh nợ nần chồng chất. Điều này không những xâm phạm quyền sở hữu
của người dân mà còn gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống của những người bị
hại, gây ra tác hại xấu cho cộng đồng, xã hội, làm mất lòng tin của nhân dân.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng là loại tội phạm có nhiều dấu
hiệu liên quan đến các tranh chấp dân sự, do đó, việc phát hiện tội phạm nhiều khi bị bỏ

nhiệm chiếm đoạt tài sản dưới góc độ luật hình sự và tội phạm học. Tuy nhiên, các đề
tài nghiên cứu đều chỉ nghiên cứu một phần hoặc một góc độ liên quan đến tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản mà chưa nghiên cứu một cách toàn diện về tội phạm
này. Hơn nữa, các đề tài cũng chưa nghiên cứu sâu về thực tiễn đối với tội phạm trên
địa bàn thành phố Hà Nội- là một điểm nóng về tội phạm nói chung, tội phạm lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng.
- Bài viết "Tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” – Một số vướng mắc
trong thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện" của ThS. Trần Duy Bình, Toà án nhân dân tỉnh
An Giang cũng đã đề cập đến tội phạm này dưới góc độ luật hình sự. Nhưng bài viết chỉ
đưa ra những vấn đề vướng mắc trong thực tiễn và một số kiến nghị hoàn thiện mà chưa
đi vào phân tích chuyên sâu các vấn đề về tội phạm, các dấu hiệu hay trách nhiệm hình
sự của tội phạm.
Từ những công trình, bài viết, tài liệu được trình bày ở trên, tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản trên cơ sở thực tiễn địa bàn thành phố Hà Nội còn là vấn đề bỏ ngỏ. Đến
thời điểm này, đề tài "Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo pháp luật hình sự
Việt Nam từ thực tiễn thành phố Hà Nội” là đề tài có tính mới.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. M c đíc nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là trên cơ sở lý luận và thực tiễn xét xử tại
TAND hai cấp trên địa bàn thành phố Hà Nội của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận chuyên sâu đối với quy định của pháp
luật hình sự Việt Nam về tội phạm. Qua bài viết, hình thành các vấn đề về thực tiễn xét
xử trong các vụ án về tội phạm này làm cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng các quy
định của Bộ luật hình sự về xử lý tội phạm. Từ các cơ sở phân tích đó, luận văn kiến
nghị những giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy
định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

3



pháp luận

Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận từ phương pháp luận khoa học của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm của chủ nghĩa MácLênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ngoài ra, tác giả còn dựa trên các quan điểm, chính sách
của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực trong đó có đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói
chung, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nói riêng.

4


5.2. P ươ

pháp nghiên cứu

Qu tr nh nghie n cứu đề t i, tác giả sử dụng c c phu o ng ph p nghie n cứu
của khoa học luạ t h nh sự nhu : pha n tích, tổng hợp, thống ke ; phu o ng ph p
so s nh, đối chiếu; pha n tích quy phạm ph p luạ t, khảo s t thực tiễn; điều tra n
điển h nh... để pha n tích v luạ n chứng c c vấn đề khoa học cần nghie n cứu.
Ngo i ra, trong qu tr nh thực hi

n đề t i, t c giả đã tiếp thu có chọn lọc kết

quả của c c co ng tr nh nghie n cứu đã co ng ố, c c đ nh gi , tổng kết của c c co
quan chuye n mo n v c c chuye n gia về những vấn đề có lie n quan đến c c vấn
đề nghie n cứu trong luạ n va n.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu toàn diện, có hệ thống về tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ý nghĩa của luận văn có thể kể đến:
Về mặt lý luận, kết quả nghie n cứu của luạ n va n góp phần ho n thi


v sắp tới.
Với ý nghĩa như trên, luận văn có những đóng góp mới gồm:
- Phân tích, làm sáng tỏ các vấn đề lý luận, phân tích sự phát triển các quy định
về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong lịch sử lập pháp Việt Nam, so sánh,
đối chiếu các quy định của Bộ luật hình sự 1999 và Bộ luật hình sự 2015 và so sánh các
quy định của tội phạm này với một số nước trên thế giới.
- Phân tích, đ nh giá những quy định của pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành
về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, các hình thức trách nhiệm hình sự, so
sánh tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm gần gũi.
- Phân tích thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa
bàn thành phố Hà Nội, nêu được những hạn chế, khó khăn trong thực tiễn áp dụng quy
định của pháp luật hình sự Việt Nam về tội phạm. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu

5


quả áp dụng những quy định của pháp luật hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản trên địa bàn thành phố Hà Nội nói riêng cũng như cả nước nói chung.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn được kết cấu gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1. Lý luận về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định
của luật hình sự Việt Nam
Chương 2. Quy định của pháp luật hiện hành về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản
Chương 3. Thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trên địa
bàn thành phố Hà Nội và kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng

6


các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản
đó; b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác
bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn
đến không có khả năng trả lại tài sản”.

7


Như vậy, có thể hiểu hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm
hành vi vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác
ằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc ỏ trốn để chiếm đoạt tài
sản đó hoặc đã sử dụng tài sản đó vào mục đích ất hợp pháp dẫn đến không có khả
năng trả lại tài sản. Tội phạm này cần được xác định với hai đặc điểm chính:
Thứ nhất, người phạm tội thông qua một giao dịch hợp pháp, ngay thẳng, như
vay, mượn, thuê tài sản hoặc các hình thức giao dịch bằng hợp đồng khác nhận được tài
sản từ chủ sở hữu hoặc người quản lý, sử dụng tài sản hợp pháp .
Thứ hai, sau khi nhận được tài sản qua các giao dịch nêu trên, người phạm tội
mới nảy sinh ý thức phạm tội, thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng cách dùng thủ
đoạn gian dối hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện trả, có khả năng trả
nhưng cố tình không trả để chiếm đoạt tài sản đó; hoặc tuy không có ý thức chiếm đoạt
nhưng đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả
lại cho chủ sở hữu.
Khái niệm tài sản được Từ điển Luật học định nghĩa là: các vật có giá trị bằng
tiền và là đối tượng của quyền tài sản và các lợi ích vật chất khác. Tài sản bao gồm: vật
có thực, vật đang tồn tại và sẽ có như hoa, lợi, lợi tức, vật sẽ được chế tạo theo mẫu đã
được thoả thuận giữa các bên, tiền và các giấy tờ trị giá được bằng tiền và quyền tài sản
[44, tr.685].
Điều 163 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có
giá và các quyền tài sản".
Đối với vật l đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt t i sản phải l

hiện hành vi phạm tội. Vì vậy, quyền tài sản cũng là đối tượng của tội phạm này.
Từ các khái niệm chung, quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
được ghi nhận trong BLHS 1999, tác giả xin đưa ra khái niệm về tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội của
người phạm tội lợi dụng lòng tin của người khác, sử dụng hành vi vay, mượn, thuê tài
sản hoặc nhận tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đồng trở lên bằng hình
thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn với mục đích chiếm đoạt tài sản
hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài
sản, do người có năng lực trách nhiệm hình sự và đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự thực
hiện một cách cố ý, trái pháp luật hình sự, xâm phạm quyền sở hữu được pháp luật
hình sự bảo vệ.
1.1.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Căn cứ quy định cụ thể về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, những yếu
tố đặc trưng của cấu thành tội phạm (CTTP) tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
được thể hiện như sau:
1.1.2.1. Khách thể của tội phạm
Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội
phạm xâm hại bằng cách gây thiệt hại hoặc đe doạ gây thiệt hại cho các quan hệ xã hội
đó [39, tr. 86].
Hiến pháp nước Cộng hoà XHCN Việt Nam 2013- đạo luật cơ bản của nước ta ghi
nhận và bảo hộ quyền sở hữu của công dân: "1. Mọi người có quyền sở hữu về thu nhập
hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc
trong các tổ chức kinh tế khác. 2. Quyền sở hữu tư nhân và quyền thừa kế được pháp luật
bảo hộ".
Khách thể chung là "tổng hợp các quan hệ xã hội được các quy phạm pháp luật

9



thể của tội phạm khi không có hành vi khách quan của tội phạm [39, tr. 101]. Đối với
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hành vi khách quan của tội phạm được thể
hiện là hành vi chiếm đoạt toàn bộ hay một phần tài sản được giao trên cơ sở: “Vay,
mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các
hình thức hợp đồng”. Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản mang ba đặc điểm cơ bản của hành vi khách quan là: hành vi gây thiệt hại về vật
chất cho chủ sở hữu; nguy hiểm cho xã hội; và hành vi đã được tính toán cân nhắc là
hoạt động có ý thức và ý chí của chủ thể, được thực hiện dưới hình thức hành động
phạm tội đã vi phạm quy định tại Điều 140 BLHS 1999.
Hành vi chiếm đoạt của tội phạm này là những hành vi không thực hiện đúng
nghĩa vụ cam kết, đó là: không trả lại tài sản bằng thủ đoạn gian dối; hoặc bằng thủ
đoạn bỏ trốn; hoặc do không có khả năng trả lại tài sản vì đã sử dụng tài sản vào mục

11


đích bất hợp pháp. Đối tượng của hành vi chiếm đoạt của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản là những tài sản đã được giao ngay thẳng cho người phạm tội trên cơ sở hợp
đồng [40, tr.42]. Căn cứ pháp lý của việc nhận tài sản một cách ngay thẳng là hợp đồng
dân sự, kinh tế được các bên chủ thể tự nguyện xác lập như: hợp đồng vay, mượn, thuê
tài sản, hoặc các hình thức hợp đồng khác theo quy định của BLDS.
Hành vi khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản để hình thành
tội phạm bao gồm một chuỗi các hành vi. Sau khi nhận được tài sản một cách hợp pháp,
người phạm tội mới tiếp tục có hành vi chiếm đoạt tài sản được giao. Đây là hành vi
mang tính quan trọng nhất dẫn đến cấu thành tội phạm. Không có hành vi chiếm đoạt
này thì không có tội phạm xảy ra. Hành vi chiếm đoạt tài sản trong tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản được biểu hiện qua các thủ đoạn như: gian dối, bỏ trốn, hoặc
sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản
cho chủ sở hữu.
Hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các hình thức đã được phân tích ở trên là hành

thanh toán, không trả lại tài sản cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp. Khi đ nh
giá hành vi bỏ trốn của người phạm tội phải xem xét một cách khách quan, toàn diện,
nếu người phạm tội bỏ trốn hoặc lánh mặt chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản vì
nguyên nhân khác thì không coi là bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản. Khi người phạm tội sử
dụng thủ đoạn bỏ trốn để thực hiện hành vi khách quan chiếm đoạt tài sản, điều này cho
thấy rõ tính có lỗi và tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, gây khó khăn cho
công tác điều tra, truy tố, xử lý tội phạm. Ví dụ: Bùi Việt H đã lợi dụng sự tín nhiệm
của Công ty cổ phần vận tải và thương mại Âu Lạc giao xe ô tô cho H bằng hợp đồng
đặt cọc. Sau đó, H đã không kinh doanh dịch vụ taxi theo thỏa thuận đã ký kết mà
chiếm đoạt bằng hình thức mang đi cầm đồ rồi bỏ trốn khỏi địa phương. Giá trị tài sản
mà H chiếm đoạt là 230.000.000 đồng. Hành vi của H đã bị truy tố và xét xử với tội
danh lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Khoản 3 Điều 140 BLHS tại Bản án
số 135/2016/HSST ngày 31/5/2016 của TAND quận N, thành phố HN [52].
Thủ đoạn thứ ba là người phạm tội sau khi có được tài sản đã sử dụng tài sản vào
mục đích bất hợp pháp dẫn đến việc không trả lại tài sản được. Việc sử dụng tài sản vào
mục đích bất hợp pháp là những trường hợp dùng tài sản vào việc thực hiện tội phạm,
vi phạm pháp luật có tính chất hình sự có ý nghĩa là dấu hiệu cấu thành tội phạm như:
dùng tài sản, mượn vay để đ nh số đề, đ nh bạc, buôn lậu, buôn ma tuý, mua bán, trao
đổi hàng hóa bất hợp ph p,…dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản cho chủ sở hữu
hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó. Cần phân biệt thủ đoạn này với trường hợp sử
dụng tài sản không đúng mục đích đã thoả thuận khi giao kết hợp đồng để xem xét,
đ nh giá đó là tội phạm hay là tranh chấp dân sự, tránh việc hình sự hóa các quan hệ
dân sự và ngược lại. Ví dụ: Ngày 24/11/2015, do có quan hệ quen biết với chị H nên
Nguyễn Mạnh Đ đã mượn của chị H 01 máy tính xách tay Lenovo trị giá 10.000.000đ.
Chị H tin tưởng đã cho Đ mượn. Do cần tiền nên ngày 25/11/2015, Đ mang máy tính
trên cầm cố cho anh T với giá 4.000.000đ. Ngày 23/12/2015, Đ lại tiếp tục mượn của
chị H 01 xe máy Honda Vision trị giá 17.000.000đ. Đến ngày 15/01/2015, do cần tiền
nên Đạt đã bán chui (bất hợp pháp) xe máy trên cho anh D với giá 18.000.000đ. Hành

13

pháp luật hình sự ghi nhận mới đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Các yếu tố về địa điểm, thời gian, v.v.. không phải là dấu hiệu bắt buộc trong
mặt khách quan của cấu thành tội phạm này.
1.1.2.4. Mặt chủ quan của tội phạm
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm bao gồm: lỗi, động cơ,
mục đích [39, tr.134]. Trong mọi cấu thành tội phạm, dấu hiệu lỗi luôn được phản ánh

14


thể hiện mặt chủ quan của tội phạm; dấu hiệu động cơ, mục đích phạm tội tuỳ từng cấu
thành tội phạm cụ thể được thể hiện với ý nghĩa pháp lý hình sự nhất định.
"Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của
mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc
vô ý" [39, tr.136]. Đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, hình thức lỗi
thuộc mặt chủ quan của người phạm tội là lỗi cố ý và cụ thể hơn nữa là lỗi cố ý trực tiếp
“Lỗi cố ý trực tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận
thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó
và mong muốn hậu quả xảy ra” (Điều 9 BLHS 1999). Ở tội phạm này, người phạm tội
nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt tài sản của mình là hành vi nguy hiểm cho xã hội, thấy
được hậu quả của hành vi mình thực hiện xâm phạm đến quan hệ sở hữu được pháp luật
hình sự bảo vệ. Trong ý thức chủ quan của người phạm tội, họ mong muốn hậu quả xảy
ra nhằm mục đích chiếm đoạt được tài sản của người khác. Khi xác định lỗi đối với tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cần lưu ý: ban đầu, khi giao kết hợp đồng hợp
pháp và nhận được tài sản, người phạm tội vẫn có ý chí, ý định thực hiện hợp đồng đó.
Chỉ đến giai đoạn sau khi đã giao kết hợp đồng và nhận được tài sản đó, người phạm tội
mới nảy sinh ý định phạm tội và thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản bằng các thủ đoạn
đã được cấu thành tội phạm ghi nhận. Do đó, dấu hiệu lỗi của tội phạm này được xem
xét tại thời điểm thực hiện hành vi chiếm đoạt chứ không phải tại thời điểm nhận tài
sản. Vấn đề cần lưu ý thứ hai là: Thời điểm nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản là căn cứ

nằm trong mặt khách quan của tội phạm đã bao hàm mục đích của tội phạm nhưng nó
cũng có ý nghĩa trong việc xem xét vấn đề TNHS, đảm bảo việc cá thể hoá và phân hoá
TNHS một cách chính xác.
Trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, mặt chủ quan của tội
phạm thể hiện rõ nhất ở quy định về lỗi cố ý trực tiếp được thể hiện trong cấu thành tội
phạm. Các dấu hiệu về động cơ, mục đích phạm tội không phải dấu hiệu bắt buộc của
tội phạm. Tuy nhiên, tất cả các dấu hiệu vẫn có mối liên hệ, tương tác lẫn nhau phản
ảnh tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Nghiên cứu các dấu hiệu này giúp cho
việc xác định tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được chính xác hơn,
tránh việc quy tội khách quan đối với tội phạm và đảm bảo tính phân hoá TNHS được
cụ thể hơn.
1.2. Lịch sử phát triển, các quy định của luật hình sự của Việt Nam đối với tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
Chính sách hình sự nói chung của pháp luật hình sự Việt Nam từ các thời kỳ
trước đã có những quy định ban đầu về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Một
cách chung nhất, pháp luật hình sự Việt Nam coi hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản, xâm phạm đến quyền sở hữu được pháp luật bảo vệ là hành vi nguy hiểm
cho xã hội từ rất sớm. Các quy định về tội phạm này từ các ước sơ khai đến nay ngày
càng được hoàn thiện. Các quy định về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản qua
các giai đoạn lịch sử của pháp luật hình sự có thể được khái quát như sau:

16


1.2.1. Tội lạm d ng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo quy định của pháp luật hình
s Việt Nam giai đoạn từ 1945 đến rước khi Bộ luật hình s 1985 có hiệu l c
Trong giai đoạn Cách mạng tháng Tám mới thành công, chính quyền non trẻ của
nước ta đang phải đối mặt với nhiều thách thức để gây dựng và củng cố một nhà nước
vững mạnh, Hiến pháp 1946 ghi nhận “quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam
được bảo đảm” (Điều thứ 12). Nhà nước ban hành nhiều văn bản pháp luật bảo vệ



hoặc có nhiều tình tiết nghiêm trọng, hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị
phạt tù từ 10 năm đến 20 năm”.
Pháp lệnh trừng trị các tội xâm phạm tài sản riêng của công dân tại Điều 11 quy
định:“1. Kẻ nào nhận tài sản riêng của công dân để giữ, vận chuyển, gia công, sửa
chữa hoặc để làm một việc gì khác mà lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt, bớt xén hoặc
đánh tráo tài sản đó thì bị phạt tù từ 3 tháng đến 2 năm. 2. Phạm tội trong những
trường hợp sau đây: a) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, xí nghiệp Nhà nước, đơn vị bộ
đội, đoàn thể nhân dân, hợp tác xã hoặc dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm khác; b)
Gây hậu quả nghiêm trọng đến đời sống của người bị thiệt hại hoặc gây hậu quả
nghiêm trọng khác; Thì bị phạt tù từ 1 năm đến 7 năm”.
Trong cả hai Pháp lệnh, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã được các
nhà làm luật quy định rõ tại điều luật cụ thể. Hành vi khách quan của tội phạm tuy được
quy định tại hai điều luật ở hai Pháp lệnh nhưng có chung mặt khách quan của tội
phạm. Hành vi khách quan của tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt là hành vi “lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt”, “bớt xén” hoặc “đánh tráo” chiếm đoạt một phần hoặc
toàn bộ tài sản được giao ngay thẳng trên cơ sở hợp đồng gửi giữ, gia công, vận
chuyển…, đối tượng của hành vi chiếm đoạt là tài sản XHCN hoặc tài sản công dân.
Khung hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản có sự khác nhau căn
cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội đối với từng loại
tài sản bị chiếm đoạt. Phạm tội đối với tài sản XHCN được nhà làm luật quy định chính
sách xử lý tội phạm nghiêm khắc hơn so với chiếm đoạt tài sản của công dân.
Hai Pháp lệnh ra đời năm 1970 tuy vẫn còn nhiều nét trình bày, kết cấu đơn giản
nhưng ước đầu đã thể hiện trình độ lập pháp tiến bộ của các nhà lập pháp nước ta giai
đoạn này. Tội phạm lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã được quy định với điều
luật cụ thể, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng và xử lý tội phạm được công khai, minh
bạch, bảo vệ tài sản XHCN, tài sản của công dân.
Giai đoạn 1975, miền Nam nước ta được giải phóng, đất nước hoàn toàn thống
nhất, chính phủ lâm thời miền Nam Việt Nam mới thành lập cũng đã ban hành các văn

không giam giữ đến hai năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm. 2- Phạm tội
thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ ba năm đến mười hai năm: a)
Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn; c) Tái phạm
nguy hiểm. 3- Phạm tội trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ mười
năm đến hai mươi năm”.
“Điều 158. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân: 1- Người
nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không
giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm. 2- Phạm tội thuộc một
trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến mười hai năm: a) Chiếm
đoạt tài sản có giá trị lớn; b) Tái phạm nguy hiểm”.
Như vậy, BLHS 1985 đã giành hai chương quy định với các tội xâm phạm sở
hữu gồm Chương IV về Các tội xâm phạm sở hữu XHCN và Chương VI về Các tội
xâm phạm sở hữu của công dân. Về cơ bản, so với hai Pháp lệnh ban hành năm 1970,

19


tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được ghi nhận tại hai Điều luật cụ thể,
độc lập quy định rõ về đối tượng tài sản là tài sản XHCN và tài sản của công dân.
BLHS 1985 cũng ghi nhận tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản XHCN cao hơn so với chiếm đoạt tài sản của công dân. Điều này
được cụ thể tại quy định của các khung hình phạt ở mỗi điều luật, Điều 135 với ba
khung hình phạt gồm một khung cơ bản và hai khung tăng nặng; Điều 158 có hai khung
hình phạt gồm một khung cơ bản và một khung tăng nặng; phân loại tội phạm tại điều
luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN cụ thể hơn, cao hơn so với
chiếm đoạt tài sản của công dân. BLHS 1985 đã pháp điển hóa quy định tại hai Pháp
lệnh thành một BLHS thống nhất, có giá trị pháp lý trên cả nước. Điều này giúp hoạt
động áp dụng pháp luật được thực hiện một cách hữu hiệu.
Tuy nhiên, hai điều luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản tại BLHS
1985 lại không mô tả rõ dấu hiệu về hành vi phạm tội. Điều này đ i hỏi khi áp dụng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status