Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ HỒNG MINH

TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
TRONG PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật Hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60380104

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS Lê Đăng Doanh

HÀ NỘI - NĂM 2016


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các
kết luận trong luận văn chưa được công bố trong một công trình khoa
học nào khác. Các ví dụ, trích dẫn, đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực./.

TÁC GIẢ

NGUYỄN THỊ HỒNG MINH

1.2. Lịch sử lập pháp hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ... 9
1.2.1.Lịch sử lập pháp hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1985 ................................................. 9
1.2. 2. Lịch sử lập pháp hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản giai đoạn từ năm 1986 đến năm 2015 ............................................... 18
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1 ................................................................................ 29
CHƢƠNG 2: NỘI DUNG PHÁP LÝ CỦA TỘI LẠM DỤNG TÍN NHIỆM
CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN
2.1. Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ......... 31
2.1.1. Khách thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ............ 31
2.1.2. Mặt khách quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ... 33
2.1.3. Chủ thể của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ................ 40
2.1.4. Mặt chủ quan của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản ...... 42
2.2. Hình phạt đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản .................. 43
2.2.1. Khung cơ bản đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản . 43
2.2.2. Khung tăng nặng thứ nhất đối với tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản........................................................................ ......47
2.2.3. Khung tăng nặng thứ hai đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản ........................................................................................................ 49
2.2.4. Khung tăng nặng thứ ba đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản ........................................................................................................ 50


2.2.5. Hình phạt bổ sung đối với tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản ............................................................................................................ 51
2.3. Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội phạm
và hành vi vi phạm pháp luật dân sự, kinh tế ................................................. 51
2.3.1 Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với một số tội
phạm ......................................................................................................... 52
2.3.2. Phân biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với hành vi vi

2009) đã quy định về tội phạm này tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý
người có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên,
trên thực tế tội phạm xảy ra vô cùng đa dạng và phức tạp dẫn đến việc
xét xử loại tội này trong thực tiễn vẫn còn nhiều vướng mắc trong việc
xác định tội danh, quyết định hình phạt và vấn đề hình sự hóa các quan
hệ dân sự, quan hệ kinh tế. Mặt khác, về phương diện lập pháp, tội lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam
cũng đã qua nhiều lần sửa đổi, do đó việc nghiên cứu làm sáng rõ nội
dung pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là điều rất
quan trọng. Qua đó, nhằm góp phần áp dụng pháp luật một cách đúng
đắn và thống nhất khi xử lý người phạm tội, từng bước ngăn ngừa và
loại bỏ tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong đời sống xã hội
hiện nay. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Tội lạm dụng tín


2
nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự Việt Nam” làm đề tài
Luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay, tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản đã được
nhiều tác giả nghiên cứu dưới các góc độ, phương diện khác nhau trong
nhiều công trình nghiên cứu như:
Luận văn thạc sĩ luật học: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản và đấu tranh phòng chống tội phạm này ở Việt Nam hiện nay của
tác giả Hoàng Văn Lập, Tiến sĩ Trương Quang Vinh hướng dẫn năm
2004.
Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản cũng được đề cập
trong: Giáo trình luật hình sự Việt Nam (phần các tội phạm), Lê Cảm
(chủ biên) NXB. Đại học quốc gia Hà Nội, 2001; Giáo trình Luật hình
sự Việt Nam phần các tội phạm cụ thể, Trường Đại học Luật Hà Nội.

khảo và bình luận Bộ luật hình sự. Ngoài ra, tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản được nghiên cứu trao đổi dưới dạng bài viết tạp chí,
các bài viết đã đi vào phân tích một vài khía cạnh cụ thể của tội phạm
này. Tuy nhiên, các công trình trên mới chỉ nghiên cứu tội phạm này ở
những khía cạnh khác nhau, chưa có công trình nào nghiên cứu tổng
quát về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản một cách đầy đủ có
hệ thống trong thời kỳ hiện nay. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề


4
tài“Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong pháp luật hình sự
Việt Nam” là rất cần thiết, có ý nghĩa về mặt lý luận và thực tiễn trong
thời kì hiện nay.
3. Mục tiêu nghiên cứu luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là làm rõ nội dung khoa học của
tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự năm
1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), có so sánh với quy định của tội
phạm này trong Bộ luật hình sự năm 2015. Từ đó, tìm ra những bất cập
trong quy định của luật hình sự và thực tiễn xét xử tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản. Trên cơ sở đó có những kiến nghị áp dụng
Điều 175 Bộ luật hình sự năm 2015, góp phần nâng cao hiệu quả áp
dụng pháp luật về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và nâng
cao hiệu quả xử lý tội phạm này trong thực tiễn xét xử.
4. Câu hỏi nghiên cứu luận văn
- Các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài
sản?
- Chế tài áp dụng đối với người phạm tội như thế nào?
- Những vướng mắc trong quá trình áp dụng như thế nào và hướng
khắc phục những vướng mắc đó?
- Khác biệt tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong Bộ

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học: Luận văn nghiên cứu một cách có hệ thống lịch
sử lập pháp hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản từ
năm 1945 đến nay và làm sáng rõ quá trình phát triển trong kỹ thuật lập
pháp về tội phạm này. Luận văn đã phân tích đầy đủ, toàn diện sâu sắc
các dấu hiệu pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo
quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) có
đối chiếu so sánh với quy định của Bộ luật hình sự năm 2015. Đồng
thời, Luận văn đã đưa ra kiến nghị trong thời gian tới trong việc áp
dụng Điều 175 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Về mặt thực tiễn: Góp phần thuận lợi cho các cơ quan tiến hành tố
tụng áp dụng một cách chính xác khi xử lý người phạm tội lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản. Đề tài có thể được dùng làm tư liệu tham
khảo trong nghiên cứu, giảng dạy và học tập.
8. Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo,
luận văn được kết cấu gồm 3 chương:
Chương 1: Khái niệm và lịch sử lập pháp hình sự về tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Chương 2: Nội dung pháp lý của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản.
Chương 3: Một số vướng mắc trong thực tiễn xét xử tội lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và kiến nghị áp dụng Điều 175 Bộ luật
hình sự năm 2015.


7
CHƢƠNG 1
KHÁI NIỆM VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP HÌNH SỰ VỀ TỘI LẠM
DỤNG TÍN NHIỆM CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN


8
Theo Điều 105 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2015, tài sản được
hiểu bao gồm: “Vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản”, trong đó
quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, bao gồm quyền tài sản đối
với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ, quyền sử dụng đất và các quyền tài
sản khác (Điều 115 BLDS).
Tuy nhiên, từ góc độ Luật hình sự, đối với tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản là một trong những tội phạm có tính chất chiếm đoạt
tài sản thì tài sản theo quan niệm của BLDS không phải tài sản nào cũng
được coi là đối tượng của tội phạm này. Bởi lẽ, không phải tài sản nào
người phạm tội cũng có thể lạm dụng tín nhiệm lấy được từ chủ tài sản.
Ví dụ như các quyền tài sản như: Quyền của chủ nợ, quyền sở hữu đối
với các giấy tờ có giá ghi danh… Đây là một dạng tài sản vô hình,
không nhìn thấy được, nó gắn liền với quyền nhân thân và cố định với
một chủ thể cụ thể được pháp luật công nhận. Mọi trình tự, thủ tục thực
hiện các quyền này đều tuân theo quy định của pháp luật. Do vậy, tội
phạm không thể chiếm đoạt được loại tài sản nêu trên nên nó không thể
là đối tượng tác động của tội lạm dụng tín chiếm đoạt tài sản.
Chiếm đoạt theo nghĩa Hán - Việt, “chiếm” là “lấy làm của mình” 5
hay chiếm đoạt là “dùng sức mạnh, thế lực mà lấy làm của mình” 6
chiếm đoạt còn được hiểu là“chiếm của người khác bằng cách dựa vào
quyền hành, sức mạnh vũ lực” 7.

5

Nguyễn Văn Đạm (1999), Từ điển tưởng giải và liên tưởng Tiếng Việt, NXB. Văn hóa
thông tin Hà Nội, Tr. 142;
6
Nguyễn Quốc Hùng (1975), Hán- Việt Tân Từ điển, NXB Nhà sách khai trí, Sài Gòn Tr.

8

Lê Cảm (chủ biên) (2003), Giáo trình Luật hình sự Việt Nam – Phần các tội phạm, NXB.
Đại học quốc gia Hà Nội, Tr.230.


10
non trẻ, đồng thời đối phó với thù trong giặc ngoài. Sau khi Hiến pháp
1946 được thông qua, ghi nhận “quyền tư hữu tài sản của công dân
Việt Nam được đảm bảo”. Vì vậy, cùng với việc giải quyết các nhiệm
vụ cách mạng, Nhà nước ta đã quan tâm tới việc bảo vệ các quan hệ sở
hữu, bằng việc ban hành các văn bản pháp luật hình sự quy định tội
phạm và hình phạt trừng trị đối với người có hành vi xâm phạm sở hữu.
Trong giai đoạn đầu của cách mạng Việt Nam tuy có nhiều văn bản liên
quan đến bảo vệ quyền sở hữu nhưng những văn bản này chưa quy định
về hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Ví dụ như:
- Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/02/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm
thời nước Việt Nam dân chủ cộng hòa về các tội phá hủy công sản.
Theo Sắc lệnh sẽ bị phạt từ 2 năm đến 10 năm tù và có thể xử tử những
người phạm một trong những tội kể sau đây, bất cứ là chánh phạm hay
tùng phạm:
1. Cố ý phá hoại một phần hay toàn thể các cầu cống, kênh hay
sông đào, vận hà, nông giang thuộc công ích, đường xe lửa và những
kiến trúc thuộc về xe lửa, cùng các đường giao thông công ha y tư,
đường bộ hay đường thuỷ, đê đập, các công sở, kho tàng hoặc các nhà
máy điện, máy nước;
2. Cố ý huỷ hoại hoặc ăn trộm các dây điện thoại hay điện tín,
cùng các cột dây điện và dây thép;
3. Đặt ở các nơi nói trên, những cơ giới, khí cụ có thể dùng đ ể giết
người, đốt phá hay tác liệt.

+ Từ 10 ngày đến 2 năm, nếu việc phạm pháp gây thiệt hại cho
nhân dân trong một xã;
+ Từ 3 tháng đến 5 năm, nếu thiệt hại cho nhân dân một huyện;
+ Từ 1 năm đến chung thân, nếu thiệt hại cho nhân dân trong một
tỉnh;
+ Từ 3 năm đến tử hình, nếu thiệt hại cho nhân dân nhiều tỉnh;
- Hoặc một trong hai hình phạt trên.
Ngoài ra, can phạm còn phải bồi thường để sửa chữa những sự hư
hỏng đã làm ra. Số tiền bồi thường sẽ do sở Công chính ấn định.
Qua nghiên cứu các quy định trên cho thấy, đây là những văn bản
đầu tiên đặt nền móng cho việc quy định về tội xâm phạm sở hữu sau
này. Tuy nhiên, những Sắc lệnh này vẫn còn nhiều những hạn chế.
Trước hết nó mới là những quy định sơ lược, chưa khái quát hết được
những hành vi xâm phạm đến quan hệ sở hữu đặc biệt là hành vi lạm
dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, các nhà lập pháp chưa đề cập đến
với tư cách là một tội phạm độc lập, mà mới chỉ tập trung vào một số
hành vi: Trộm cắp, phá hoại hoặc gắn với các đối tượng của các hành vi
xâm phạm là tài sản xã hội chủ nghĩa (XHCN).
Sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ năm 1954, bên cạnh những
thuận lợi đạt được, Nhà nước ta lại đứng trước hàng loạt các vấn đề cần
phải giải quyết để khôi phục lại nền hòa bình. Để bảo vệ tài sản quốc
gia, tính mệnh và tài sản của nhân dân, Nhà nước ta đã ban hành một số
văn bản như:


13
- Thông tư 442/TTg ngày 19/11/1955 của Thủ tướng chính phủ về
trừng trị một số tội phạm đã nhận định: "...Vì về mặt bảo vệ tài sản
quốc gia, tính mệnh và tài sản của nhân dân luật cũ có nhiều khoản
không thích hợp nên Chính phủ lại ban bố một số Sắc lệnh trừng tr ị tội

hoặc gây hậu quả nghiêm trọng khác thì bị phạt tù từ một năm đến bảy
năm”.
Theo như quy định trên cho thấy, đối tượng của hai tội phạm là
khác nhau. Đối tượng của tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản
XHCN là tài sản của nhà nước XHCN còn đối tượng của tội lạm dụng
tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản riêng của công dân là tài sản của công
dân. Nhưng hành vi khách quan là giống nhau; hành vi lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt là đều hành vi “bớt xén” hoặc “đánh tráo” chiếm
đoạt một phần hoặc toàn bộ tài sản được giao ngay thẳng trên cơ sở hợp
đồng gửi giữ, vận chuyển… Hình phạt được áp dụng đối với người


17
phạm tội tương đối nghiêm khắc: Hình phạt tù tối thiểu là 3 tháng, tối
đa là 20 năm.
Qua quy định của hai Pháp lệnh cho thấy, về mặt kỹ thuật lập
pháp đã có sự tiến bộ, tạo cơ sở pháp lý để trừng trị hành vi lạm dụng
tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, nội dung của hai Pháp lệnh đã
phản ánh khá đầy đủ nội dung chính sách hình sự của nhà nước ta đối
với các tội xâm phạm sở hữu trong đó có tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản. Do tính chất của tài sản khác nhau mà chính sách xử lý của
nhà nước cũng khác nhau. Tài sản XHCN được đặc biệt coi trọng nên
Nhà nước đã quy định chính sách xử lý tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản XHCN nghiêm khắc hơn so với tội lạm dụng tín nhiệm
chiếm đoạt tài sản riêng của công dân.
Có thể nói, quy định trong hai Pháp lệnh năm 1970 lần đầu tiên
nội dung tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được xác định cụ
thể, những dấu hiệu pháp lý cơ bản của tội phạm này đã được quy định
trong luật hình sự.
Ngày 15/03/1976 Chính phủ cách mạng lâm thời cộng hòa miền

cho đến khi BLHS năm 1985 có hiệu lực pháp luật.


19
BLHS năm 1985 được Quốc hội thông qua ngày 27/06/1985 tại kỳ
họp thứ 9, Quốc hội khóa VII và có hiệu lực từ ngày 01/01/1986. Đây
là Bộ luật được ban hành trên cơ sở pháp điển hóa các văn bản pháp
luật hình sự của Nhà nước ta được ban hành từ những năm đầu của
chính quyền cách mạng đến giữa những năm 80 của thế kỷ XX, cũng
như thể chế hóa chính sách hình sự của nhà nước ta trong thời kỳ cả
nước thống nhất đi lên chủ nghĩa xã hội. BLHS năm 1985 ra đời là
bước ngoặt rất quan trọng trong lịch sử pháp luật hình sự nước ta.
Kể từ khi có BLHS năm 1985 tài sản của Nhà nước, tập thể và
công dân được bảo vệ một cách hữu hiệu bằng các quy phạm pháp luật
hình sự. BLHS năm 1985 đã chia quy định về tội xâm phạm sở hữu
thành hai chương: Chương IX “các tội xâm phạm sở hữu XHCN”;
chương VI “ các tội xâm phạm sở hữu của công dân”. Trong đó, tội
lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản được quy định tại hai Điều: Điều
135 - Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản XHCN và Điều 158 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của công dân.
Điều 135 quy định: “1. Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản xã hội chủ nghĩa thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm
hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm”.
Điều 158 quy định: “1. Người nào lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt
tài sản của người khác thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến một năm
hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm".
Với điều luật trên cho thấy quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm
đoạt tài sản không mô tả cụ thể hành vi phạm tội mà chỉ quy định tên


20


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status