Hỗ trợ trẻ em tự kỷ trong giao tiếp từ thực tiễn Trung tâm tư vấn giáo dục và Trị liệu trẻ em, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ) - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ Y

HỖ TRỢ TRẺ EM TỰ KỶ TRONG GIAO TIẾP TỪ
THỰC TIỄN TRUNG TÂM TƯ VẤN GIÁO DỤC VÀ
TRỊ LIỆU TRẺ EM, HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

HÀ NỘI, 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN THỊ Y

HỖ TRỢ TRẺ EM TỰ KỶ TRONG GIAO TIẾP TỪ
THỰC TIỄN TRUNG TÂM TƯ VẤN GIÁO DỤC VÀ
TRỊ LIỆU TRẺ EM, HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

Tôi cũng trân trọng cảm ơn đến Ban giám đốc Học viện Khoa học xã hội
và quản lý, các nhân viên, phụ huynh trẻ tự kỷ tại trung tâm Tư vấn giáo dục
và trị liệu trẻ em, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận này.
TP.Hồ Chí Minh, tháng 2 năm 2017
Học viên

Nguyễn Thị Y


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .......................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI ...... 11
ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ.................................................................................. 11
1.1. Một số vấn đề lý luận về trẻ tự kỷ ...................................................... 11
1.2. Phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ ........................................... 21
1.3. Lý luận về công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ....................................... 23
1.4. Các lý thuyết tiếp cận trong công tác xã hội với trẻ tự kỷ ................. 29
1.5. Cơ chế chính sách của Đảng và Nhà nước đối với trẻ tự kỷ .............. 32
Chương 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XÃ HỘI VỀ HỖ TRỢ KĨ
NĂNG GIAO TIẾP CHO TRẺ TỰ KỶ Ở TRUNG TÂM TƯ VẤN GIÁO
DỤC VÀ TRỊ LIỆU TRẺ EM ...................................................................... 36
2.1. Khái quát chung về Trung tâm tư vấn giáo dục và trị liệu trẻ............ 36
2.2. Thực trạng hỗ trợ phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ .............. 38
2.3. Nội dung phương pháp hỗ trợ kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ ........... 52
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỖ
TRỢ GIAO TIẾP CHO TRẺ TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
TƯ VẤN GIÁO DỤC VÀ TRỊ LIỆU TRẺ EM ......................................... 56
3.1. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ ..... 56
3.2. Vận dụng công tác xã hội nhóm trong việc hỗ trợ kĩ năng giao tiếp

BẢNG
Bảng 1.1: Các tiêu chí dùng trong DSM-V-TR .............................................. 17
Bảng 2.1: Đánh giá mức độ hiệu quả các hoạt động giáo dục ........................ 43
Bảng 2.2: Mức độ hiệu quả các hoạt động tham vấn cho trẻ tự kỷ ................ 45
Bảng 2.3: Nội dung chỉnh âm và trị liệu ngôn ngữ cho trẻ tự kỷ tại trung tâm
tư vấn giáo dục và trị liệu trẻ em..................................................................... 47
Bảng 2.4: Đánh giá mức độ hiệu quả các hoạt động trị liệu tại cơ sở ............ 48
Bảng 3.1: Đặc điểm nhóm viên:...................................................................... 62
Bảng 3.2: Chương trình hoạt động:................................................................. 62
Bảng 3.3: Đặc điểm của từng thành viên trong nhóm .................................... 67
BIỀU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng ........................................ 40
Biểu đồ 2.2: Đánh giá hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng ................................ 41
Biểu đồ 2.3: Nội dung giáo dục cho trẻ tự kỷ ................................................. 42
Biểu đồ 2.4: Nội dung tham vấn cho trẻ tự kỷ ................................................ 44
Biểu đồ 2.5: Nội dung các hoạt động trị liệu cho trẻ tự kỷ ............................ 46
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 2.1: Mô hình trị liệu tại trung tâm ATC ............................................... 38
Sơ đồ 2.2: Vòng tay bạn bè được thể hiện như sau: ....................................... 51
Sơ đồ 3.1: Tương tác giữa các thành viên trong nhóm (1) ............................. 66
Sơ đồ 3.2: Tương tác giữa các thành viên trong nhóm (2) ............................. 74


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trẻ em là hạnh phúc của gia đình là tương lai của đất nước. Trong những năm
qua, thấm nhuần lời dạy của Bác Hồ kính yêu, Đảng và Nhà nước ta luôn coi nhiệm
vụ bảo vệ và chăm sóc trẻ em là nội dung cơ bản của chiến lượt con người, góp
phần tạo ra nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Việt Nam là quốc gia có số lượng trẻ khuyết tật khá cao (khoảng 1,2 triệu trẻ từ độ

trong sự hình thành và phát triển nhân cách trẻ.
Những trẻ mắc hội chứng tự kỷ khó khăn cả về giao tiếp ngôn ngữ và phi
ngôn ngữ, KNGT của trẻ cũng bị hạn chế. Đặc biệt các em khó khăn trong việc giao
tiếp bằng mắt, cử chỉ, điệu bộ hay kém khả năng biểu cảm ngôn ngữ cơ thể làm cho
những trẻ này không cảm nhận được người khác đang nghĩ gì về mình, hài lòng hay
không hài lòng và người khác cũng cảm thấy khó hiểu với chúng. Những khó khăn đó
đã gây trở ngại rất lớn trong việc hòa nhập cộng đồng như: kết bạn, tham gia vào các
hoạt động vui chơi, các quan hệ xã hội. Ngoài ra, những người xung quanh không hiểu
những khó khăn đó, không cảm thông với trẻ, kì thị, xa lánh, khiến cho trẻ ngày càng
mặc cảm, tự ti, thiếu niềm tin vào người khác,… Từ đó, trẻ dần cô lập, tránh giao tiếp
với thế giới xung quanh. Điều này khiến cho quá trình giao tiếp của trẻ vốn khó khăn
lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu những khó khăn đó và tạo ra
được một môi trường giao tiếp thân thiện, tích cực để hỗ trợ trẻ khắc phục những khó
khăn trên thì trẻ sẽ dễ dàng hòa nhập cộng đồng hơn.
Ở Việt Nam hiện nay, các công trình nghiên cứu nhằm hỗ trợ giao tiếp cho TTK
còn ít. Vì những lý do trên tôi cho rằng việc thực hiện đề tài: “Hỗ trợ trẻ em tự kỷ
trong giao tiếp từ thực tiễn Trung tâm tư vấn giáo dục và Trị liệu trẻ em, huyện
Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh” vào thời điểm nay là cần thiết. Từ kết quả
nghiên cứu nhằm giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể hơn về giao tiếp của những trẻ
không may mắc phải hội chứng tự kỷ. Đồng thời đưa ra các giải pháp kiến nghị
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ giao tiếp cho TTK tại trung tâm tư vấn
giáo dục và trị liệu trẻ em, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, góp phần
tạo điều kiện cho TTK hòa nhập cộng đồng và đảm bảo an sinh xã hội.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu trên thế giới về tự kỷ ở trẻ em

2


Hội chứng tự kỷ được mô tả là những khiếm khuyết của một đứa trẻ trong quá


bị bỏ sót trẻ nhẹ hoặc không điển hình. Vì vậy, năm 2001 Robin, Fein, Barton &
Green bổ sung vào công cụ sàn lọc này them 14 câu hỏi thuộc lĩnh vực rối loạn vận
động, quan hệ xã hội, bắt chước và định hướng. Bộ câu hỏi bổ sung có tên là M CHAT 2001, được dùng để sàn lọc TTK trong độ tuổi 18 - 24 tháng.
2.1.2. Nghiên cứu về hỗ trợ kĩ năng giao tiếp
Tác giả Kak - Hai - Nodich người Đức đã nêu rõ về ngôn ngữ phong phú và đa
dạng, dẫn dắt trẻ từ những âm thanh “gừ, gừ” ở tuổi sơ sinh đến sử dụng, nắm vững
ngôn ngữ thành thạo, điều đó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển về trí tuệ.
TTK chưa có ngôn ngữ, chưa biết cách giao tiếp, các bật phụ huynh cần phải bắt
đầu công việc can thiệp như: luyện âm, luyện giọng, luyện hơi sau đó đến luyện nói.
Bằng những ví dụ, cách làm cụ thể, thiết thực tác giả đã giúp các bậc phụ huynh
TTK biết cách lựa chọn môi trường can thiệp và giáo dục cho TTK phù hợp để phát
triển giao tiếp.
Tác giả Steven Gutstin cho rằng để giúp trẻ phát triển khả năng giao tiếp cần
phải hình thành và phát triển mối quan hệ giữa trẻ hiểu được bản thân trẻ (tên gọi,
các bộ phận cơ thể), hiểu được mối quan hệ giữa trẻ và các đồ vật trong gia đình
(tên gọi, đặc điểm, cách sử dụng), mối quan hệ giữa trẻ và các sự vật, hiện tượng
trong thế giới xung quanh. Trong mỗi hoàn cảnh, tình huống có vấn đề TTK biết
cách giao tiếp phù hợp. Tác giả đã giúp cho giáo viên, phụ huynh biết được một
phương pháp mới trong việc hỗ trợ phát triển kỹ năng giao tiếp cho TTK [27].
2.1.3. Hướng nghiên cứu về nguyên nhân dẫn đến tự kỷ
Hiện nay, chưa có nghiên cứu khoa học nào khẳng định về nguyên nhân dẫn
đến tự kỷ. Tuy nhiên, ngày càng có nhiều bằng chứng về cơ sở sinh học của rối loạn
tự kỷ bao gồm: các nhân tố sinh học; các nhân tố sinh hóa; các nhân tố di truyền;
các nhân tố miễn dịch; các nhân tố gia đình và tâm lý động học.
2.1.4. Hướng nghiên cứu về tỷ lệ mắc tự kỷ
Số liệu nghiên cứu các công trình về tỷ lệ trẻ mắc chứng tự kỷ nhìn chung
TTK có xu hướng tăng trên thế giới và cả Việt Nam.

4


5


Công trình thứ nhất của tác giả Ngô Xuân Điệp: “Nghiên cứu nhận thức của
trẻ tự kỷ tại Thành phố Hồ Chí Minh”.
Công trình thứ hai của tác giả Nguyễn Minh Đức: “Những khoảnh khắc lóe
sáng trong tương tác mẹ con của trẻ có nét tự kỷ ở Việt Nam” đã góp phần rất lớn
về mặt lý luận cũng như đề xuất các phương pháp trị liệu đối với các TTK tại nước
ta. Luận án đã được ứng dụng vào các trường chuyên biệt dành cho TTK trên địa
bàn thành phố Hồ Chí Minh.
Trong các công trình nghiên cứu được công bố, các nhà tâm lý đã đề cập các
hướng điều trị mới như: trị liệu bằng phân tâm học, hay áp dụng các phương pháp
ABA, phương pháp PECS, Floor time, các trò chơi trị liệu,… đều đã mang lại hiệu
quả nhất định trong việc can thiệp cho TTK. Tuy nhiên phương pháp điều trị bằng
“hành vi nhận thức” mà một vài công trình nghiên cứu gần đây trên thế giới đã chỉ
rõ là phương pháp mang lại hiệu quả lớn nhất cho các TTK. Chính phương pháp
can thiệp trị liệu bằng hành vi nhận thức luôn coi trọng đặc biệt tới hai rối loạn
mang tính nền tảng của bệnh tự kỷ đó chính là “hành vi” và “nhận thức” của trẻ.
“Dự án phát hiện sớm TTK và các nguồn hỗ trợ trong cộng đồng” do bà
Nguyễn Thị Nha Trang (Th.s về giáo dục) làm chủ dự án. Trần Văn Công, Vũ Thị
Minh Hương “xung quanh vấn đề chuẩn đoán TTK hiện nay”, tạp chí khoa học,
ĐHQG Hà Nội, 2011.
Tác giả Vũ Thị Bích Hạnh: cuốn sách “TTK phát hiện sớm và can thiệp sớm”
đã nêu ra những vấn đề cơ bản, chung nhất về cách phát hiện sớm mà chưa nêu ra
cách làm cụ thể ở một nội dung nào trong can thiệp sớm cho TTK.
Tác giả Võ Nguyễn Tinh Vân người Úc gốc Việt đã xuất bản cuốn sách “Nuôi
con bị tự kỷ”;“Tự kỷ và trị liệu” [21]. Tác giả Đỗ Thị Thảo với đề tài “xây dựng kế
hoạch hỗ trợ giáo viên và cha mẹ có con Tự kỷ trong chương trình Can thiệp sớm
tại Hà Nội”. Và gần đây nhất, Tiến sĩ Phạm Toàn và bác sĩ Lâm Hiếu Minh đồng

Từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 2 năm 2017.
4.4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp hỗ trợ phát triển
KNGT cho TTK đang điều trị tại trung tâm tư vấn giáo dục và trị liệu TTK (Autism
Treatment Center gọi tắt là ATC).

7


5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận chủ yếu sau:
Dựa trên quan điểm của triết học duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để
nhìn nhận, đánh giá hoạt động hỗ trợ giao tiếp cho TTK phải xuất phát từ thực tiễn
và đặt hoạt động hỗ trợ giao tiếp cho TTK trong mối quan hệ chặt chẽ với các yếu
tố khách quan và chủ quan.
Lý thuyết tiếp cận dựa trên quyền: TTK có quyền được chăm sóc về thể chất
và về tinh thần. TTK có quyền được phát triển, được hưởng hóa đầy đủ và toàn diện
các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về người khuyết tật, tạo môi trường
pháp lý, điều kiện, cơ hội bình đẳng, không rào cản đối với TTK trên cơ sở tiếp cận
và bảo đảm quyền của người khuyết tật.
Lý thuyết hệ thông sinh thái: sự tương tác giữa TTK và bạn bè, gia đình, giáo
viên, trung tâm, bệnh viện…là tiền đề phát triển KNGT cho TTK.
Thuyết nhu cầu: tiếp cận theo nhu cầu của TTK là cách tiếp cận dựa trên việc
đáp ứng tốt nhất các dịch vụ hỗ trợ CTXH đối với TTK. Đây là điều kiện đảm bảo
cho sự phát triển của trẻ khuyết tật nói chung và TTK nói riêng. Vận dụng thuyết
nhu cầu của A.Maslow trong nghiên cứu chúng tôi tìm hiểu các nhu cầu của TTK
tại Trung tâm tư vấn giáo dục và trị liệu trẻ em và xem xét các nhu cầu đó tốt hay
chưa, vì sao?.
5.2. Phương pháp nghiên cứu

Đề tài tiến hành phỏng vấn sâu đối với phụ huynh TTK, giáo viên tại trung
tâm những người trực tiếp chăm sóc và giáo dục TTK .
Cách thức tiến hành: trao đổi trực tiếp, trò chuyện với giáo viên, phụ huynh
sau đó ghi chép những thông tin thu được.
5.2.5. Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Trong đề tài có xây dựng một bảng hỏi là tổ hợp những câu hỏi về hoạt động
chăm sóc nuôi dưỡng, hoạt động giáo dục, hoạt động tham vấn, hoạt động trị liệu
cho TTK tại trung tâm tư vấn giáo dục và trị liệu trẻ em (ATC). Sử dụng phương
pháp điều tra chọn mẫu với 10 giáo viên và 40 phụ huynh có con mắc bệnh tự kỷ
(trẻ có độ tuổi từ 4 đến 7 tuổi) để có những thông tin mang tính xác thực và thực tế

9


nhất. Dữ liệu từ phương pháp này sẽ đem lại kết quả chính cho nghiên cứu.
5.2.6. Phương pháp công tác xã hội
Sử dụng phương pháp công tác xã hội nhóm dùng trong nghiên cứu thực
nghiệm giảng dạy kĩ năng giao tiếp.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
Nhằm hiểu rõ khái niệm, chức năng và vai trò của giao tiếp đối với TTK trong
quá trình phát triển, học tập, vui chơi, giải trí, và đặc biệt là tái hòa nhập cộng đồng.
Làm phong phú cơ sở lý luận, lý thuyết về giáo dục cho TTK.
Xác định các yếu tố gây tác động đến sự phát triển KNGT của TTK.
Xây dựng các biện pháp hỗ trợ nâng cao KNGT cho TTK tại trung tâm, làm
cơ sở tài liệu hướng dẫn cho giáo viên, phụ huynh.
6.2. Về mặt thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin cụ thể về tình hình thực hiện
công tác xã hội đối với TTK tại trung tâm tư vấn giáo dục và trị liệu trẻ em, huyện
Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.

đoạn bắt đầu rối loạn thần kinh ở người lớn. Chú ý đặc biệt đến mất nhận thức thực
tế của người bệnh khi chuyển sang cách ly với đời sống thực tại hàng ngày và nhận
thức của người bệnh có xu hướng không thống nhất với kinh nghiệm thông thường
bởi những rối loạn tâm thần.
Bs.tâm thần nhi khoa Leo Kanner (1943) ở Baltimore, Hoa Kỳ, ông cũng đã
sử dụng thuật ngữ để mô tả một nhóm bệnh nhân cùng có 3 đặc tính quan trọng:
một mình; mong muốn sự giống nhau; có các vấn đề về ngôn ngữ như: chậm phát
triển ngôn ngữ, nhại lời, hiểu theo nghĩa đen [27].
Định nghĩa theo DSM - IV - TR: tự kỷ nằm trong nhóm các rối loạn phát triển lan
toả (PDD: Pervasive Developmental Disorders): Là một nhóm hội chứng được đặc
trưng bởi suy kém nặng nề và lan toả trong những lãnh vực phát triển như: tương tác xã
hội, giao tiếp và sự hiện diện của những hành vi và các ham thích rập khuôn.
Năm 1999, tại Hội nghị toàn quốc về TTK ở Mỹ, các chuyên gia cho rằng nên
xếp tự kỷ vào nhóm các rối loạn lan tỏa và đã thống nhất đưa ra định nghĩa về tự kỷ

11


như sau: Tự kỷ là một dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng
đến nhiều mặt của sự phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến KNGT và quan hệ
xã hội.
Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu trên cơ sở xem xét các quan điểm, các khái
niệm khác nhau về tự kỷ trên thế giới cũng đưa ra các quan điểm của mình.
Hà Thị Thư cho rằng: tự kỷ (tự mình) là một thuật ngữ chỉ trạng thái tâm lý
của một đối tượng quay vào thế giới bên trong của mình và từ chối tiếp xúc với bên
ngoài [19, tr. 268].
Ngô Xuân Điệp, trong luận án tiến sĩ của mình đã đưa ra khái niệm tự kỷ như
sau: “tự kỷ là hội chứng đa khiếm khuyết, biểu hiện sự rối loạn phát triển trong
hành vi, nhận thức, cảm xúc, sở thích, ý nghĩ, lời nói, giác quan và quan hệ xã hội,
ít nhiều có kèm theo chập phát triển trí tuệ. Khi can thiệp bằng trị liệu tâm lý và

xã hội, thiếu đáp ứng xã hội với trẻ em khác, không phân biệt người này với người
khác, bố mẹ cũng như người dưng.
Không tự nhiên trao đổi cảm xúc, chia sẻ niềm vui, các thích thú hay thành
tích với người khác như không chỉ cho xem, không lôi kéo sự chú ý, không chỉ cho
biết các vật thích thú, không tìm sự vỗ về của bố mẹ khi bị đau, không hôn mẹ lúc
đi ngủ. Lớn lên TTK dần dần có thể có tình cảm với bố mẹ, nhưng rất ít cải thiện
tình cảm với trẻ cùng lứa tuổi.
Thiếu trao đổi về xã hội và cảm xúc như: không tích cực tham gia các trò chơi
đơn giản với nhiều người, chỉ thích các hoạt động một mình, nhận thức về người
khác bị rối loạn rõ rệt.
1.1.3.2. Các rối loạn về chất trong giao tiếp
Biểu hiện rõ và bền vững, phạm đến các kỹ năng lời nói và không lời (phi
ngôn ngữ), trẻ không phát triển kỹ năng bắt chước, một kỹ năng học tập cơ bản,
không làm theo, không nói theo, không giơ tay chào tạm biệt.
Chậm tiếp thu ngôn ngữ hay hoàn toàn không phát triển ngôn ngữ nói, không
có ý muốn bù lại qua các phương thức giao tiếp khác như giao tiếp bằng cử chỉ hay
nét mặt, không biết gật đầu. Ở những người có ngôn ngữ nói, có thể có rối loạn về
khả năng mở đầu hay phát triển lâu dài việc trò chuyện với người khác. Dùng ngôn
ngữ thông thường hay ngôn ngữ của riêng mình như nói sai văn phạm hay ngữ

13


nghĩa khó hiểu, có tính chất định hình và lặp lại, xưng hô đại từ ngôi thứ nhất và
ngôi thứ hai lẫn lộn, nghe hiểu kém, nghe hỏi một ý nhưng trẻ lại nói điều gì chệch
đề, gây cảm nghĩ như nó đang nói về ai hay nói với ai đó không có mặt ở đó.
Khi có ngôn ngữ phát triển, có thể có bất thường về giọng nói, ngữ điệu, tốc độ,
nhịp hay trọng âm như giọng nói đều đều đơn điệu hay lên giọng ở cuối câu giống
như câu hỏi. Cấu trúc ngữ pháp thường không thuần thục, lời nói định hình và lặp lại
như: lặp lại các từ hay các câu bất kể ý nghĩa gì hay các câu quảng cáo trên ti vi, hay

trẻ đã học 5 - 10 từ sau đó ngôn ngữ mất dần.
1.1.3.4. Các rối loạn tâm thần kết hợp
Ám ảnh sợ, không sợ các tình huống nguy hiểm thật sự, thường sợ quá mức
các vật vô hại. Các rối loạn về giấc ngủ như thức giấc nhiều lần trong đêm, có khi
đu đưa thân mình và về ăn uống chỉ ăn hạn chế một vài thứ, ăn dở.
Tăng động giảm chú ý và xung động, xâm hại bản thân như: vỗ đầu, cắn ngón
tay, bàn tay, cổ tay hay xâm hại người khác. Đáp ứng rất lạ với các giác quan như:
ngưỡng cảm giác đau cao, tăng cảm giác với tiếng ồn và xúc giác, phản ứng quá
mức với một số mùi, thích thú đặc biệt một số kích thích. Các bất thường cảm xúc
như: cười khúc khích hay khóc vô cớ, không có phản ứng cảm xúc, các cơn giận dữ,
hung bạo. Thiếu tự tin, sáng kiến và sáng tạo trong việc tổ chức thời gian rãnh rỗi,
khó ý niệm và các quyết định cần có cho một công việc.
1.1.3.5. Khám xét cận lâm sàn và khám toàn thân
Ghi hình ảnh não ở một số trường hợp có một vài bất thường nhưng không đặc
hiệu. Nhiều triệu chứng và dấu hiệu thần kinh được phát hiện ở TTK như các phản
xạ nguyên thủy, chậm phát triển bàn tay trội bên (thuận bên).
Đôi khi thấy kết hợp với một bệnh thần kinh hay một bệnh đa khoa như viêm
não, phenylceton - niệu, xơ cứng não củ, hội chứng X mảnh, giảm oxi - mô khi
sinh. Cơn động kinh gặp ở 25% số ca tự kỷ, nhất là ở thanh thiếu niên.
1.1.3.6. Chẩn đoán phân biệt
Điểm quan trọng là phải phát hiện có thời kỳ phát triển bình thường sau khi
sinh hay không để có thể phân biệt rối loạn tự kỷ sớm của trẻ nhỏ với các rối loạn
tâm thần khác.

15


Chậm phát triển tâm thần phân liệt khởi phát rất sớm, thường có thời kỳ phát
triển nhận thức và cảm xúc bình thường nhiều năm trước và trong giai đoạn cấp
diễn có thể có hoang tưởng, ảo giác kéo dài ít nhất một tháng.

chứng

Tiêu

chí
đoán

chuẩn

bệnh tự kỷ
Nhóm 1: hạn Khi giao tiếp với người khác, trẻ ít dùng cử chỉ, dáng Có ít nhất hai
chế khả năng điệu, biểu hiện khuôn mặt hay giao tiếp bằng mắt.

hành vi thuộc

tương tác xã Không có bạn cùng trang lứa.

nhóm này.

Không chủ động chia sẻ sở thích và niềm vui với

hội

người khác.
Không đáp lại cảm xúc và hành vi của người khác
khi tương tác xã hội.
Nhóm 2: hạn

Chậm biết nói.


nhắc và thường thấy ở TTK như: vỗ tay, xoay vòng này
tròn, v v…
Chú ý đến một bộ phận nhất điịnh của đồ vật.

Nghiên cứu chứng minh các tiêu chí của DSM- IV-TR có độ tin cậy cao,
không có tiêu chí nào bị thừa. Vì vậy, DSM-IV-TR rất hiệu quả trong chẩn đoán tự
kỷ ngay cả khi một bác sĩ chưa có kinh nghiệm chịu trách nhiệm chẩn đoán.
1.1.4. Các nguyên nhân gây ra tự kỷ
Ngày càng có nhiều bằng chứng về cơ sở sinh học của rối loạn tự kỷ.

17


1.1.4.1. Các nhân tố sinh học
Các triệu chứng tự kỷ có thể liên quan với một số bệnh có tổn thương thần
kinh (bệnh rubella bẩm sinh, bệnh phenylceton - niệu, bệnh sơ cứng não cũ). Các
biến chứng chu sinh có nguy cơ làm tăng rối loạn tự kỷ trẻ em, biến chứng trong 3
tháng đầu thời kỳ mang thai như: bất thường thể chất bẩm sinh nhẹ) đôi khi gặp ở
trẻ em tự kỷ [20, tr. 24].
Ở người tự kỷ, có thể thấy các cơn động kinh (4% - 32%), giãn não thất (20%
- 25%), điện não đồ bất thường không đặc hiệu (10% - 83%).
Kỹ thuật ghi hình ảnh cộng hưởng từ MRI đã phát hiện giảm sản các giun tiểu
não VI và VII, nhiều hồi não nhỏ (polymicrogyria). Bất thường này có thể phản ánh
sự di cư tế bào bất thường trong 6 tháng đầu phát triển thai nhi [20, tr. 25].
Mổ tử thi phát hiện giảm tế bào Purkinje và chụp cắt lớp phóng positron (PET)
phát hiện tăng chuyển hóa vỏ não lan tỏa.
1.1.4.2. Các nhân tố sinh hóa
Sự tăng hàm lượng acid homovanillic (HVA, chất chuyển hóa chính của
dopamine) trong dịch não tủy thường kết hợp với các triệu chứng thu mình, định hình.
Có bằng chứng chỉ báo rằng các triệu chứng tự kỷ giảm khi tăng tỉ số 5hydroxyindolacetic acid (5-HIAA) là chất chuyển hóa của serotonin trong dịch não


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status