VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ Y
HỖ TRỢ TRẺ EM TỰ KỶ TRONG GIAO TIẾP TỪ
THỰC TIỄN TRUNG TÂM TƯ VẤN GIÁO DỤC VÀ
TRỊ LIỆU TRẺ EM, HUYỆN BÌNH CHÁNH,
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI, 2017
Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội
Người hướng dẫn khoa học:
TS. HUỲNH VĂN CHẨN
Phản biện 1: PGS.TS. NGUYỄN HỒI LOAN
Phản biện 2: ĐỖ THỊ VÂN ANH
Luận văn được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận văn thạc sĩ
họp tại: Học Viện Khoa học Xã hội vào lúc: ...... giờ, ngày 18. Tháng
04 năm 2017
trường, giáo viên, những người chăm sóc trẻ. Trẻ em giao tiếp để tìm
hiểu về thế giới xung quanh, thể hiện yêu cầu, đòi hỏi quan tâm, tham
gia vào các hoạt động học tập, vui chơi, giải trí,… Những trẻ mắc hội
chứng tự kỷ khó khăn cả về giao tiếp ngôn ngữ và phi ngôn ngữ,
1
KNGT của trẻ cũng bị hạn chế. Đặc biệt các em khó khăn trong việc
giao tiếp bằng mắt, cử chỉ, điệu bộ hay kém khả năng biểu cảm ngôn
ngữ cơ thể làm cho những trẻ này không cảm nhận được người khác
đang nghĩ gì về mình, hài lòng hay không hài lòng và người khác cũng
cảm thấy khó hiểu với chúng. Những khó khăn đó đã gây trở ngại rất lớn
trong việc hòa nhập cộng đồng. Ngoài ra, những người xung quanh
không hiểu những khó khăn đó, không cảm thông với trẻ, kì thị, xa lánh,
khiến cho trẻ ngày càng mặc cảm, tự ti, thiếu niềm tin vào người khác,…
Từ đó, trẻ dần cô lập, tránh giao tiếp với thế giới xung quanh. Điều này
khiến cho quá trình giao tiếp của trẻ vốn khó khăn lại càng khó khăn
hơn. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu những khó khăn đó và tạo ra được
một môi trường giao tiếp thân thiện, tích cực để hỗ trợ trẻ khắc phục
những khó khăn trên thì trẻ sẽ dễ dàng hòa nhập cộng đồng hơn.
Ở Việt Nam hiện nay, các công trình nghiên cứu nhằm hỗ trợ
giao tiếp cho TTK còn ít. Vì những lý do trên tôi cho rằng việc thực
hiện đề tài: “Hỗ trợ trẻ em tự kỷ trong giao tiếp từ thực tiễn Trung
tâm tư vấn giáo dục và Trị liệu trẻ em, huyện Bình Chánh, thành phố
Hồ Chí Minh” vào thời điểm nay là cần thiết. Từ kết quả nghiên cứu
nhằm giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể hơn về giao tiếp của những trẻ
không may mắc phải hội chứng tự kỷ. Đồng thời đưa ra các giải pháp
kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động hỗ trợ giao tiếp cho
TTK tại Trung tâm tư vấn giáo dục và Trị liệu trẻ em, huyện Bình
Chánh, thành phố Hồ Chí Minh, góp phần tạo điều kiện cho TTK hòa
Nghiên cứu cơ sở lý luận về KNGT của TTK.
Nghiên cứu, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến
KNGT của TTK.
Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển và hỗ trợ KNGT cho
TTK.
4. Đối tượng, khách thể nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Hỗ trợ trẻ em tự kỷ trong giao tiếp từ thực tiễn trung tâm tư
vấn giáo dục và trị liệu trẻ em, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí
Minh.
3
4.2. Khách thể nghiên cứu
Đề tài sẽ tiến hành nghiên cứu trên các khách thể sau: trẻ mắc
hội chứng tự kỷ, gia đình có trẻ mắc hội chứng tự kỷ, giáo viên của
TTK tại trung tâm tư vấn giáo dục và trị liệu trẻ em, huyện Bình
Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
4.3. Thời gian nghiên cứu
Từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 2 năm 2017.
4.4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp hỗ trợ
phát triển KNGT cho TTK đang điều trị tại trung tâm tư vấn giáo dục
và trị liệu TTK.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu và hoàn thành trên cơ sở phương pháp luận
chủ yếu sau: dựa trên quan điểm của triết học duy vật biện chứng và duy
vật lịch sử; lý thuyết tiếp cận dự trên quyền; lý thuyết hệ thống sinh thái;
thuyết nhu cầu.
thuyết về giáo dục cho TTK.
Xác định các yếu tố gây tác động đến sự phát triển KNGT của
TTK.
Xây dựng các biện pháp hỗ trợ nâng cao KNGT cho TTK tại
trung tâm, làm cơ sở tài liệu hướng dẫn cho giáo viên, phụ huynh.
6.2. Về mặt thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu cung cấp những thông tin cụ thể về tình
hình thực hiện công tác xã hội đối với TTK tại trung tâm tư vấn giáo
dục và trị liệu trẻ em, huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh.
Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả của công tác giáo
dục KNGT đồng thời đưa ra cách vận dụng công tác xã hội nhóm
trong hỗ trợ KNGT cho TTK.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu, danh mục viết tắt, danh mục các
bảng sơ đồ và hộp, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo nội dung
luận văn còn được chia thành 3 chương sau:
5
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội đối với trẻ
tự kỷ
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội về hỗ trợ kĩ năng giao
tiếp cho trẻ tự kỷ tại trung tâm tư vấn giáo dục và trị liệu trẻ em
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hỗ trợ
giao tiếp cho trẻ tự kỷ từ thực tiễn trung tâm tư vấn giáo dục và trị
liệu trẻ em
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ
1.1. Một số vấn đề lý luận về trẻ tự kỷ
Các nhân tố gia đình và tâm lý động học
1.1.5. Các biện pháp can thiệp
Ngày nay, khi trẻ được phát hiện sớm và được thực hiện
chương trình can thiệp đặc biệt, sẽ giúp trẻ cải thiện nhiều về nhận
thức, hành vi và quan hệ xã hội, tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ học
tập và hòa nhập cộng động là:
Liệu pháp giáo dục và liệu pháp hành vi
Liệu pháp hóa dược
1.2. Phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ
1.2.1. Kĩ năng
Kỹ năng là năng lực (khả năng) của chủ thể thực hiện thuần
thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết kiến thức
hoặc kinh nghiệm nhằm tạo ra kết quả mong đợi.
1.2.2. Kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ
1.2.2.1. Giao tiếp
Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người
nhằm mục đích trao đổi thông tin, nhận thức, xúc cảm ảnh hưởng và
tác động qua lại với nhau.
1.2.2.2. Kĩ năng giao tiếp
KNGT là nghệ thuật là kĩ năng là sự trao đổi tiếp súc qua lại
giữa các cá thể và cũng có thể hiểu là các hình thức biểu lộ tình cảm,
trò chuyện, diễn thuyết trao đổi thư tín, thông tin.
7
1.2.2.3. Kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ
Điểm chung về KNGT của TTK là: đa số TTK mặc dù có khả
năng nói và đối đáp, nhưng trong quan hệ và tiếp xúc trẻ vẫn thường
gặp khó khăn để hiểu và trả lời kịp thời, cũng như vẫn thường không
hiểu được một lời nói bóng gió, một ám hiệu, hoặc một cử chỉ của
vào các hoạt động nhóm nhằm đạt được tới mục tiêu chung của nhóm và
hướng đến giải quyết mục đích của cá nhân thành viên giải tỏa những
vấn đề khó khăn. Trong hoạt động công tác xã hội nhóm, một nhóm thân
chủ được thành lập, sinh hoạt thường kỳ dưới sự điều phối của trưởng
nhóm (có thể là nhân viên xã hội và có thể là thành viên của nhóm) và
đặc biệt là sự trợ giúp, điều phối của nhân viên xã hội (trong trường hợp
trưởng nhóm là thành viên của nhóm) [11, tr. 39].
1.3.3.2. Công tác xã hội nhóm đối với trẻ tự kỷ
Công tác xã hội nhóm đối với TTK là một phương pháp can
thiệp của công tác xã hội. Đây là một tiến trình trợ giúp mà trong đó
TTK được tạo cơ hội và môi trường có các hoạt động tương tác lẫn
nhau, tham gia các hoạt động nhóm nhằm đạt được những mục tiêu
chung của nhóm, giúp trẻ hòa nhập với trẻ cùng trang lứa với mục đích
kích thích tương tác qua lại với các thành viên khác, hướng đến giải
quyết các vấn đề mà trẻ đang gặp phải. Trong hoạt động công tác xã
hội nhóm với TTK sinh hoạt nhóm dưới sự trợ giúp và điều phối của
NVCTXH.
1.3.3.3. Tiến trình công tác xã hội nhóm
Được chia làm 4 giai đoạn:
Giai đoạn chuẩn bị và thành lập nhóm
Giai đoạn khởi đầu và bắt đầu hoạt động
Giai đoạn tập trung hoạt động
Giai đoạn lượng giá và kết thúc hoạt động
1.3.4. Nội dung công tác xã hội đối với trẻ tự kỷ
- Trị liệu cho TTK
- Hoạt động chăm sóc - nuôi dưỡng
- Hoạt động tham vấn
- Hoạt động giáo dục
9
10
Luật Người khuyết tật có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm
2011; Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/04/2012 của Chính phủ
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người
khuyết tật. Tại Điều 44 chương VIII của Luật Người khuyết tật đã
quy định cụ thể về vấn đề trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc
hàng tháng.
Ngoài ra, còn có Quyết định số 32/2010/NĐ-TTg ngày
25/03/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt đề án phát triển nghề
công tác xã hội giai đoạn 2010-2020.
Năm 2006, Bộ giáo dục và đào tạo đã ban hành Quy định giáo
dục hòa nhập dành cho người khuyết tật (23/2006/QĐ-BG&ĐT);
Năm 2013, Bộ giáo dục Đào tạo và Bộ Lao động Thương binh Xã
hội đã ban hành Quy định về Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục
hòa nhập
Như vậy, ngay cả trong Luật Người khuyết tật được coi là văn
bản pháp luật tiến bộ nhất hiện nay, thì TTK cũng chưa được đề cập
một cách cụ thể mà chủ yếu lồng ghép với các đối tượng khuyết tật
khác. Vì vậy, việc xác định rối loạn phổ tự kỷ là loại khuyết tật nào
trong Luật Người khuyết tật rất quan trọng. Vì nó liên quan đến chính
sách của Nhà nước dành cho TTK sau này trên các lĩnh vực nghiên
cứu khoa học, y tế, giáo dục... Ngoài ra, đây còn là cơ sở pháp lý để
TTK và các gia đình có TTK được thụ hưởng đầy đủ các chính sách
ưu việt của Nhà nước về y tế, giáo dục, bảo trợ xã hội.
Kết luận chương 1
Luận văn đã khái quát được một số nội dung như sau: một số
vấn đề lý luận về TTK, phát triển KNGT cho TTK, lý luận về công
Cơ cấu tổ chức của trung tâm bao gồm: Ban giám đốc và các
phòng chuyên môn
2.1.3. Đội ngũ nhân viên trung tâm
Tổng số cán bộ, nhân viên tại trung tâm là: 21 có trình độ chuyên
môn cao.
2.1.4. Các hoạt động của trung tâm
12
- Can thiệp cá nhân
- Tâm vận động
- Hoạt động kĩ năng
- Hoạt động ngoài trời
- Hoạt động năng khiếu
- Trị liệu âm nhạc
- Lớp tiền học đường
2.2. Thực trạng hỗ trợ phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ
2.2.1. Thực trạng về trẻ tự kỷ tại trung tâm tư vấn giáo dục và trị liệu
trẻ em.
- Về số lượng và độ tuổi: khi tiến hành khảo sát tại trung tâm
tư vấn giáo dục và trị liệu trẻ em thì có 100 trẻ, độ tuổi từ 24 tháng
tuổi đến 14 tuổi, chủ yếu là các em từ 4 đến 7 tuổi.
- Điều kiện sống: đa số trẻ học tại trung tâm được chăm sóc
nuôi dưỡng tốt về mặt thể chất, và tinh thần. Tuy nhiên, có một số ít
trẻ sống cùng ông bà thiếu sự quan tâm, chăm sóc của bố mẹ và gia
đình, không có sự hợp tác giữa cha mẹ và cô giáo.
- Đặc điểm tâm lý:
Nhận thức: ít các hành vi điển hình, hành vi của trẻ biểu hiện
điển hình là rập khuôn, lặp đi lặp lại.
Đặc điểm về giao tiếp: phần lớn ngôn ngữ ngữ nói của trẻ
2.3. Nội dung phương pháp hỗ trợ kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ
2.3.1. Mục đích hỗ trợ kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ
Mục đích của hỗ trợ phát triển KNGT cho TTK là nhằm phát
triển toàn diện nhân cách cho TTK nói chung và phát triển năng lực
hành động nói riêng trong mối quan hệ của trẻ ở gia đình, nhà trường
và xã hội.
2.3.2. Các phương pháp giáo dục kĩ năng giao tiếp đang được sử dụng
2.3.2.1. Phương pháp khoa học
Sử dụng Phương pháp TEACCH và Phương pháp PECS
2.3.2.2. Phương pháp truyền thống
- Phương pháp thuyết trình.
- Phương pháp làm việc nhóm
14
Kết luận chương 2
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và tổng hợp lý luận các vấn đề
có liên quan đến đề tài, tôi tiến hành lựa chọn các phương pháp và
công cụ tiến hành can thiệp. Phương pháp sử dụng chủ yếu là phiếu
điều tra, phỏng vấn sâu, phúc trình vấn đàm với giáo viên, phụ huynh
người có liên quan đến đến quá trình giáo dục KNGT cho TTK nhằm
thu thập thông tin và đánh giá trẻ. Bên cạnh đó, tìm hiểu được những
yếu tố tác động đến phát triển KNGT cho TTK. Cuối cùng, tôi sử
dụng các phương pháp giáo dục KNGT cho TTK nhằm ứng dụng
trong quá trình can thiệp nhóm nâng cao hiệu quả KNGT cho TTK
với nhóm trẻ mà tôi đã lựa chọn ở chương tiếp theo (vận dụng
phương pháp công tác xã nhóm trong phát triển KNGT cho TTK tại
trung tâm tư vấn giáo dục và trị liệu trẻ em).
Chương 3
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ HỖ
nghiệm về cách nuôi dạy trẻ nói chung và phát triển KNGT nói riêng.
3.1.2.2. Phối hợp nâng cao vai trò trung tâm
Vai trò của trung tâm: môi trường trung tâm cũng rất cần thiết
trong việc giúp TTK phát triển KNGT. Đây là nơi mà TTK có thể có
thêm nhiều cơ hội học hỏi phát triển ngôn ngữ, cải thiện hành vi cử
chỉ và phát triển nhiều mối quan hệ, tương tác với người ngoài gia
đình, phong phú môi trường giao tiếp.
Thiết kế và tổ chức bài học có tích hợp nội dung giáo dục
KNGT cho TTK thông qua dạy học các môn KNGT.
NVCTXH phối hợp chặt chẽ với giáo viên trong việc giáo dục,
lượng giá trong quá trình trị liệuTruyền thông đến các nhà lãnh đạo
ngành giáo dục hiểu rõ tính cấp thiết, tầm quan trọng phát triển
KNGT cho TTK. Do vậy, cần mở rộng các lớp tập huấn hội thảo về
công tác xã hội nhân cao nhận thức giáo viên và hỗ trợ trong tiến
trình hỗ trợ TTK. Đào tạo ngày càng nhiều và có chất lượng đội ngũ
giáo viên giáo dục đặc biệt, đáp ứng nhu cầu của xã hội.
16
Thường xuyên tổ chức đào tạo, tập huấn cho giáo viên về kĩ
năng, phương pháp, mục tiêu, nội dung dạy học cho TTK. Khuyến
khích các giáo viên có các công trình nghiên cứu vầ các vấn đề liên
quan đến giáo dục nâng cao KNGT cho TTK. Phân chia nhóm các tổ
chuyên môn đảm nhận các vấn đề liên quan đến trẻ đã nêu trên.
3.1.2.3. Nâng cao nhận thức cộng đồng, người dân về việc hỗ trợ
giao tiếp cho trẻ tự kỷ
NVCTXH phối hợp với các tổ chức ban ngành, chính quyền địa
phương nơi có TTK cư trú, mở các trung tâm học tập cộng đồng cung
cấp thông tin, kiến thức nhằm giúp cộng đồng.
các thành viên chính là những nhân tố kích thích trẻ nhận thức và bắt
chước, các thông điệp lời nói và không lời được truyền trong nhóm
tác động đến từng thành viên, lôi kéo các thành viên tham gia hoạt
động. Tình trạng tự kỷ được cải thiện khi trẻ tự kỷ dần dần chơi
tương tác với các hình thành viên khác trong nhóm. Vì vậy, vận dụng
phương pháp công tác xã hội nhóm trong thực tế hỗ trợ giao tiếp cho
nhóm TTK tại trung tâm tư vấn giáo dục và trị liệu trẻ em, huyện
Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết.
3.2.2. Vận dụng phương pháp công tác xã hội nhóm trong phát triển
kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ tại trung tâm tư vấn giáo dục và trị
liệu trẻ em
Tôi lựa chọn làm việc với nhóm tiền học đường do cô Phan
Thị Thanh Nhàn là giáo viên chủ nhiệm. Thông qua quá trình quan
sát tiếp xúc và làm quen cùng với việc thu thập thông tin từ giáo viên
chủ nhiệm lớp tôi thấy lớp tiền học đường gồm những em từ 6 đến 10
tuổi, đều có vấn đề đặc biệt. Do thời gian có hạn nên tôi lựa chọn 5
em đều là trẻ tự kỷ nhẹ trong lớp tiền học đường để ứng dụng can
thiệp nhóm trong luận văn của mình.
Tôi sử dụng phương pháp TEACCH để đánh giá TTK.
3.2.2.1. Giai đoạn thành lập nhóm
- Địa điểm thành lập nhóm
- Thành phần tham gia
- Lý do thành lập nhóm.
18
- Phương pháp sử dụng
- Mục đích của nhóm:
- Chọn nhóm viên
- Xây dựng kế hoạch can thiệp nhóm:
sinh hoạt. Có kiến thức kĩ năng trong lĩnh vực công tác xã hội nhóm
và trong vấn đề giáo dục KNGT, có tinh thần học hỏi cao, sau mỗi
buổi sinh hoạt nhóm NVCTXH ngồi lại trao đổi với giáo viên để nhìn
nhận và đánh giá tình hình nhận thức của trẻ, để điều chỉnh các hoạt
động cho các buổi sau đạt hiệu quả cao hơn. Thường xuyên trao đổi
với phụ huynh để nắm bắt tình hình ở nhà của trẻ. Gần gũi với với
các thành viên trong nhóm
Hạn chế: kinh nghiệm làm việc với TTK còn hạn chế, đôi
khi chưa kiềm chế được cảm xúc cá nhân. Sắp xếp thời gian chưa
khoa học nên đôi khi công việc chồng chéo, giảm hiệu quả.
3.2.2.4. Lượng giá và kết thúc
- Về hoạt động lượng giá: lượng giá trong giai đoạn kết thúc
của tiến trình công tác xã hội nhóm là đánh giá lại tiến trình các hoạt
động và kết quả cũng như mức độ hoàn thành các mục tiêu so với kế
hoạch.
- Những mặt đã đạt được:
Đảm bảo được lịch sinh hoạt 2 buổi/tuần. Các thành viên
trong nhóm tương tác khá tốt với các bạn và người khác.
Mối quan hệ giữa các thành viên trong nhóm được cải thiện,
gắn bó với nhau, đoàn kết chia sẻ lẫn nhau trong công việc chung của
nhóm cũng như hoàn cảnh riêng của mỗi cá nhân. Tin tưởng vào sức
mạnh của nhóm và người lãnh đạo.
Tạo được sân chơi lành mạnh trong học tập, vui chơi nhằm
giáo dục những KNGT cơ bản cho TTK,
- Những mặt hạn chế: thời gian đầu các thành viên cũng mất
khá nhiều thời gian để làm quen với hoạt động của nhóm. Trong
nhóm đôi khi xảy ra những bất đồng nhỏ của các thành viên, trẻ ít tập
trung chú ý gây khó khăn trong đảm bảo thời gian hoạt động điều này
dẫn đến ảnh hưởng kết quả của nhóm.
20
mang lại hiệu quả cho công tác giáo dục KNGT cho trẻ TTK tại cơ
sở.
21
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
TTK là những trẻ chậm trễ trong ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ
nói khác thường, giao tiếp và tương tác kém.
Hiện nay TTK đã được học hòa nhập ở các trung tâm nuôi dạy
TTK, các trường mần non, khó khăn lớn nhất của TTK khi học hòa nhập
là giao tiếp.
Hơn nữa, hiện nay các trường chuyên biệt, các trung tâm ở các
thành phố lớn có nhiều TTK theo học nhưng còn một số hạn chế như:
số lượng trẻ quá đông, nhận thức của giáo viên, kiến thức, kĩ năng,
phương pháp dạy cho TTK.
Kết quả thực trạng cho thấy có rất nhiều những hoạt động trong
hỗ trợ, chăm sóc và giáo dục trẻ, giúp TTK phát triển về thể chất và tinh
thần, tuy nhiên còn có những hạn chế khi áp dụng trong thực tế. Một số
giáo viên và phụ huynh nhận thấy những khó khăn của TTK nên họ
dành nhiều tình yêu thương cho TTK, chiều chuộng trẻ hơn, thậm chí
không bao giờ phạt trẻ, tuy nhiên đây không phải là phương pháp giáo
dục tốt đối với TTK. Hoặc đa phần là bù đắp những thiệt thòi cho trẻ,
chưa hiểu được tầm quan trọng của giáo dục giao tiếp đối với TTK.
Nguyên nhân của thực trạng trên là do thiếu những kiến thức về giáo dục
TTK và chưa nghiên cứu một cách có hệ thống các biện pháp phát triển
KNGT cho TTK cũng như thiếu sự phối hợp chặc chẽ trong chỉ đạo
hướng dẫn các nhà nghiên cứu. Việc nghiên cứu và xây dựng các biện
pháp phát triển KNGT cho TTK được tiến hành dựa trên đặc điểm của
TTK, tổ chức các hoạt động hàng ngày ở trung tâm, phối hợp hài hòa sự
Các cơ quan đào tạo quản lý, nghiên cứu giáo dục mầm non cần
nghiên cứu xây dựng tài liệu hướng dẫn, tài liệu tham khảo để tăng
cường nguồn thông tin chuyên môn cho các cơ sở giáo dục, đặc biệt
là các hoạt động giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu và khả năng đa
dạng của trẻ em trong thực hiện chương trình giáo dục, nâng cao hiệu
quả giáo dục KNGT cho TTK. Tạo điều kiện thuận lợi cho TTK
được hòa nhập tại các trường mầm non bình thường. Bộ giáo dục và
đào tạo cần nghiên cứu cơ chế phối hợp giữa ngành y tế, các cơ sở
23