Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN TRÍ

CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN ĐỐI VỚI TRẺ EM
TỰ KỶ TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM PHỤC HỒI CHỨC NĂNG
VÀ TRỢ GIÚP TRẺ TÀN TẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS.TS. NGUYỄN THỊ MAI LAN

Hà Nội, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ
Công tác xã hội về “Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung
tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh” là hoàn
toàn trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn

Nguyễn Văn Trí



3.3. Các biện pháp về phát triển nguồn nhân lực, huy động nguồn lực từ người dân,
cộng đồng xã hội cho hoạt động công tác xã hội cá nhân trong lĩnh vực trợ giúp trẻ tự
kỷ tại các Trung bảo trợ xã hội, tại cộng đồng nói chung và tại Trung tâm phục hồi
chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh nói riêng. ............................. 71
3.4. Một số khuyến nghị .................................................................................................. 72
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 75
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 77


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Số lượng trẻ tự kỷ đang gia tăng một cách đáng báo động ở mọi quốc gia trên
thế giới, không phân biệt màu da, chủng tộc và các nền văn hóa - kinh tế khác
nhau. Ở Mỹ, theo Trung tâm Kiểm soát và Phòng bệnh (CDC) - Mỹ công bố năm
2014, cứ 68 trẻ thì có 1 trẻ bị rối loạn tự kỷ tăng 30% so với năm 2012; Theo thống
kê của Autism Treatment Network tại Mỹ ( Pediatrics, 2016) trong 6.800 trẻ được
khảo sát (từ 2 – 17, 6 tuổi) chẩn đoán bị tự kỷ có 42,5% trẻ bị rối loạn giấc ngủ;
38,7% trẻ bị rối loạn tiêu hóa; 60.4% bị rối loạn ăn uống; 59.1% rối loạn lo âu;
76.6% rối loạn cảm giác; 81.7% mất tương tác xã hội; 48.3% muốn gây xung đột,
tấn công; 32.4% trẻ tự gây tổn thương; suy nghĩ và hành vi lặp lại, định hình:
67.1%; Tăng động: 68.8%; thiếu tập trung chú ý: 82.1%. Tại Anh, số trẻ mắc tự kỷ
vào khoảng 1/150 trẻ [31]. Với sự tăng nhanh về số người mắc hội chứng tự kỷ trên
toàn cầu đáng báo động, ngày 18/12/2007 Đại hội đồng Liên Hợp Quốc dựa trên
tinh thần của Hội nghị thượng đỉnh năm 2005, tuyên bố Thiên niên kỷ của Liên Hợp
Quốc, cũng như kết quả các cuộc Hội thảo lớn của Liên Hợp Quốc liên quan đến
các lĩnh vực kinh tế - xã hội và Công ước về Quyền của trẻ em, Công ước về Quyền
của Người khuyết tật đã thông qua Nghị quyết số A/RES/62/139 là “Quyết định lấy
ngày 2 tháng 4 hàng năm là Ngày thế giới nhận thức về tự kỷ, bắt đầu từ năm 2008
nhằm kêu gọi tất cả các nước thành viên, các tổ chức trong hệ thống cơ quan của
Liên Hợp Quốc và các tổ chức quốc tế cũng như các tổ chức xã hội khác, bao gồm

đang phải gánh chịu.
Tự kỷ thuộc nhóm rối loạn phát triển lan toả có những biểu hiện bất thường đa
dạng về tương tác xã hội, ngôn ngữ và hành vi, các dấu hiệu của rối loạn phổ tự kỷ
bắt đầu trong thời thơ ấu và thường kéo dài trong suốt cuộc đời của một người nếu
không phát hiện sớm, can thiệp sớm. Vì vậy, việc sử dụng phương pháp công tác xã
hội để tiếp cận, trị liệu, chăm sóc cho trẻ tự kỷ là phù hợp nhất, đặc biệt là phương
pháp công tác xã hội cá nhân. Để thực hiện được điều này, nhân viên công tác xã
hội sử dụng những kiến thức, kỹ năng để hỗ trợ tâm lý cho gia đình trẻ tự kỷ vượt
qua khủng hoảng tinh thần để có đủ niềm tin, tỉnh táo đối diện giải quyết vấn đề mà

2


gia đình đang gặp phải; Hỗ trợ xây dựng, thực hiện tiến trình công tác xã hội cá
nhân trong hoạt động trị liệu/chăm sóc trẻ tự kỷ; Hỗ trợ cho trẻ tự kỷ tiếp cận với
dịch vụ xã hội phù hợp; Biện hộ để cho trẻ tự kỷ được hưởng những chính sách an
sinh xã hội của nhà nước; Kết nối các nguồn lực để trợ giúp và điều trị về y tế, giáo
dục, tâm lý cho trẻ tự kỷ đạt hiệu quả. Ngoài việc tham gia trợ giúp cho trẻ tự kỷ,
nhân viên công tác xã hội còn thực hiện các hoạt động như giáo dục phòng ngừa,
tập huấn, cung cấp kiến thức về hội chứng tự kỷ, kỹ năng và phương pháp can thiệp
cho gia đình, người thân biết cách chăm sóc, can thiệp cho trẻ tại nhà, truyền thông
nâng cao nhận thức cho cộng đồng hiểu đúng về hội chứng này để tránh kỳ thị, xa
lánh và hãy động viên cho gia đình trẻ tự kỷ, trẻ tự kỷ vượt qua khó khăn vươn lên
trong cuộc sống.
Với những lý do nêu trên, tôi đã chọn đề tài “Công tác xã hội cá nhân đối với
trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật thành
phố Hồ Chí Minh” làm luận văn thạc sỹ của mình. Qua đề tài nghiên cứu tôi mong
muốn được đóng góp và bổ sung hoàn thiện các hoạt động công tác xã hội cá nhân
đối với trẻ tự kỷ tại Trung tâm thông qua các biện pháp, khuyến nghị thiết thực
nhằm góp phần nâng cao hoạt động trợ giúp cho nhóm đối tượng là trẻ em tự kỷ

điểm lâm sàng của trẻ tự kỷ còn hạn chế ở Việt Nam hiện nay và chưa có
những nghiên cứu mô tả lâm sàng một cách toàn diện ở lứa tuổi nhỏ trước 3
tuổi. Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ tự kỷ ở mức độ nặng còn cao, trẻ tự kỷ thường
có khiếm khuyết về chất lượng quan hệ xã hội như: không giao tiếp bằng mắt
(86.9%), không biết gật đầu hay lắc đầu khi đồng ý hoặc phản đối (97.6%),
thích chơi một mình (94.8%), không biết khoe khi được đồ vật (97.6%),
không đáp ứng khi được gọi tên (96.8%), khiếm khuyết về chất lượng giao
tiếp như: phát ra một chuỗi âm thanh khác thường (82.1%), không biết chơi
giả vờ (98.4%)….[5].
Tác giả Võ Nguyễn Tinh Vân, người Úc gốc Việt đã xuất bản cuốn sách “Nuôi
con bị Tự kỷ” [18]; “Để hiểu Tự kỷ” [19] giúp hiểu rõ về tự kỷ ở trẻ em và giúp cho
các phụ huynh biết cách chăm sóc, nuôi con tự kỷ cũng như cách trị liệu cho trẻ tự
kỷ.
Tác giả Nguyễn Thị Hoàng Yến “Giáo dục đặc biệt và những thuật ngữ cơ
bản”, tác giả nêu ra những thuật ngữ tự kỷ như: Thuật ngữ này dùng để chỉ những

4


cá nhân có vấn đề về tương tác xã hội, về giao tiếp và có những hoạt động lặp lại,
rập khuôn thời kỳ 36 tháng tuổi [21].
Gần đây nhất, tác giả Vũ Thị Bích Hạnh chủ biên “Giáo trình trung cấp nghề
công tác xã hội trợ giúp trẻ tự kỷ”, để tập huấn cho cán bộ của ngành Lao động –
Thương và xã hội về hướng dẫn các địa phương triển khai thực hiện chuẩn đoán xác
định tự kỷ, nguyên tắc can thiệp, kỹ thuật can thiệp, hoạt động dành cho cha mẹ,
hoạt động dành cho giáo viên [10].
Tóm lại, qua quá trình tổng quan một số công trình nghiên cứu nói trên có liên
quan đến đề tài, có thể thấy rằng: Trẻ tự kỷ luôn là mối quan tâm không chỉ ở trong
nước mà cả cộng đồng quốc tế. Các đề tài nghiên cứu này chưa đề cập đến khía cạnh
kết hợp sự tham gia của gia đình, cộng đồng và xã hội để trợ giúp trẻ tự kỷ, chưa

can thiệp trẻ tự kỷ.
Phạm vi về khách thể: đề tài nghiên cứu với 10 phụ huynh và gia đình trẻ tự
kỷ; 50 nhân viên công tác xã hội, viên chức trực tiếp chăm sóc, điều trị, phục hồi
chức năng, giáo dục trẻ tự kỷ và lãnh đạo Trung tâm.
Phạm vi về không gian: tại Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn
tật, 38 Tú Xương, phường 7, quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Phạm vi về thời gian: từ tháng 10/2016 đến tháng 03/2017.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Nghiên cứu trên cơ sở duy vật biện chứng: Dựa trên những báo cáo đánh giá
kết quả của công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ tại Trung tâm phục hồi
chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, từ đó rút ra những lý luận và đưa ra được những đề
xuất về biện pháp để nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ tại
Trung tâm.
Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan đến công
tác xã hội, chính sách hỗ trợ đối với trẻ tự kỷ trong và ngoài nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản: Tra cứu những tài liệu Công ước
quốc tế về quyền trẻ em; Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, Luật người
khuyết tật; Các báo cáo, thống kê, văn bản có liên quan, sử dụng các thông tin, số

6


liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công bố hoặc rút ra từ các nguồn tài liệu
chính của Trung tâm phục vụ cho quá trình nghiên cứu.
Phương pháp điều tra bảng hỏi: Được sử dụng để đánh giá thực trạng công
tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ và các yếu tố ảnh hưởng tới công tác xã hội cá
nhân đối với trẻ tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn

tự kỷ đã đem lại hiệu quả tốt.
Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là nguồn tài liệu tham khảo cho các
nghiên cứu sau này về lĩnh vực công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ tại Trung
tâm và các cơ sở bảo trợ xã hội khác.
7. Cơ cấu đề tài
Chương 1: Những vấn đề lý luận về công tác xã hội cá nhân đối với trẻ tự kỷ.
Chương 2: Thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em tự kỷ tại Trung
tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Áp dụng phương pháp công tác xã hội cá nhân trong điển cứu một
trường hợp cụ thể tại Trung tâm và Biện pháp nâng cao hiệu quả công tác xã hội cá
nhân đối với trẻ em tự kỷ từ thực tiễn Trung tâm phục hồi chức năng và trợ giúp trẻ
tàn tật, thành phố Hồ Chí Minh.

8


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN
ĐỐI VỚI TRẺ TỰ KỶ
1.1. Công tác xã hội cá nhân
1.1.1. Công tác xã hội
- Khái niệm công tác xã hội
Theo Liên đoàn chuyên nghiệp xã hội Quốc tế (IFSW) tại Hội nghị Quốc tế
Montreal, Canada tháng 7/2000: Công tác xã hội chuyên nghiệp là thúc đẩy sự thay
đổi xã hội, giải quyết các vấn đề trong mối quan hệ con người, hướng tới sự tăng
quyền lực và giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng
thoải mái và dễ chịu; Công tác xã hội vận dụng các lý thuyết về hành vi con người
và các hệ thống xã hội; Công tác xã hội can thiệp ở những điểm tương tác giữa con
người và môi trường của họ [16].
Tại Việt Nam, công tác xã hội đã được các tác giả xem xét từ những khía cạnh

một – một giữa nhân viên xã hội và cá nhân nhằm giúp cá nhân đang gặp khó khăn
không có khả năng tìm ra lối thoát tự giải quyết vấn đề bằng chính sức mạnh của
bản thân họ [13,tr.3].
Công tác xã hội với nhóm : Công tác xã hội sử dụng các nhóm nhỏ như là một
phương pháp qua đó các thành viên thay đổi thái độ, mối quan hệ và nâng cao khả
năng tự ứng phó với môi trường. Nhân viên xã hội nhìn thấy : Tiềm năng trong các
nhóm nhỏ và biến những tiềm năng này trở thành yếu tố thúc đẩy sự thay đổi của
thân chủ vì lợi ích của họ. Mặc dù các nhóm có thể mạnh để khích lệ các thành viên
hoàn thành các mục tiêu cá nhân và tập thể, song không phải lúc nào các kết quả
cũng đạt như mong muốn, nhóm có thể có ảnh hưởng rất ít đối với các thành viên
trong nhóm, hoặc có thể ảnh hưởng tiêu cực đối với các thành viên của nhóm hoặc
xã hội nói chung. Trong tiến trình phát triển nhóm, các thành viên nhóm cần xem
xét cẩn thận để tránh những hiện tượng tiêu cực đó, nhân viên xã hội cần có kiến
thức về nhóm nhỏ để vận dụng vào thực hiện. Mục đích của công tác xã hội nhóm
là cải thiện mối quan hệ giữa con người và môi trường xã hội, do vậy nhân viên xã
hội cần có kiến thức nền tảng lý thuyết về sự tương tác giữa các cá nhân và giữa các
nhóm. Công tác xã hội nhóm nhằm xem xét những mặt mạnh của thân chủ, nhìn

10


nhận thân chủ vốn có khả năng giúp đỡ lẫn nhau trong nhóm. Công tác nhóm là
công cụ quan trọng trong trợ giúp những người yếu thế, bị áp bức và dễ tổn thương
nhằm tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau trong nhóm để thông cảm và sẽ chia về hoàn
cảnh của nhau [13,tr.4].
Công tác xã hội với cộng đồng : Phát triển cộng đồng là một tiến trình làm
chuyển biến cộng đồng nghèo thiếu tự tin thành cộng đồng tự lực thông qua việc
giáo dục nhận thức về tình hình, vấn đề hiện tại của họ, phát huy các khả năng và tài
nguyên sẵn có, tổ chức các hoạt động chung tự giúp, bồi dưỡng và cũng cố tổ chức
để tiến tới tự lực và phát triển [13,tr.4].

Theo Grace Mathew : Công tác xã hội cá nhân là phương pháp giúp đỡ cá
nhân con người thông qua mối quan hệ một – một. Nó được các nhân viên công tác
xã hội ở các cơ sở xã hội sử dụng để giúp những người có vấn đề về chức năng xã
hội và thực hiện chức năng xã hội [17,tr.6].
Theo Charle Zastrow, 2003 và Fardey O.W.et la, 2000 cũng coi công tác xã
hội là phương pháp trợ giúp mà ở đó nhân viên xã hội sử dụng hệ thống giá trị, kiến
thức hành vi con người và các kỹ năng chuyên môn về công tác xã hội để giúp đỡ
thân chủ và gia đình giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội, xử lý các mối quan hệ giữa
con người với môi trường xung quanh thông qua mối quan hệ tương tác 1-1.
Công tác xã hội cá nhân là một phương pháp can thiệp của công tác xã hội
quan tâm đến những vấn đề về nhân cách mà một thân chủ cảm nghiệm. Mục đích
của công tác xã hội cá nhân là phục hồi, cũng cố và phát triển sự thực hành bình
thường các chức năng xã hội của cá nhân và gia đình [7].
- Tiến trình công tác xã hội cá nhân
Tiến trình là những bước công việc cần làm trong một khoảng thời gian nhất
định, khi giúp đỡ một cá nhân, nhân viên xã hội cũng thực hiện những bước đi trong
một tiến trình gọi là tiến trình giải quyết vấn đề (problem-solving process) hay tiến
trình giúp đỡ (helping process). Tiến trình công tác xã hội cá nhân gồm 6 bước sau:
+ Tiếp cận và nhận diện vấn đề của thân chủ : Nhân viên công tác xã hội gặp
gỡ thân chủ, xác định đúng đối tượng giúp đỡ; Nhận diện vấn đề khi mới bắt đầu
làm việc với thân chủ; Các hoạt động nhận định và đánh giá vấn đề diễn ra trong
suốt tiến trình giúp đỡ. Sau đây là một số hoạt động nhận diện vấn đề ở giai đoạn
đầu của tiến trình giúp đỡ; Tiếp xúc ban đầu: quan sát tính cách, hành động, cử chỉ,

12


lời nói, cách ăn mặc, cách thân chủ xử sự với nhân viên; Vấn đàm với thân chủ và
những người có liên quan đến thân chủ, vãng gia; Thụ lý, lưu giữ các tài liệu, hồ sơ
cá nhân, kết luận - chẩn đoán.[8, tr.33].

chủ. Bản đồ sinh thái mô phỏng cuộc sống gia đình của thân chủ và mối quan hệ gia
đình thân chủ với những người trong và ngoài gia đình, sử dụng sơ đồ sinh thái để
mô phỏng hóa những mối quan hệ giữa thân chủ và nguồn lực dịch vụ trong cộng
đồng. Khi phát hiện ra chưa có mối quan hệ giữa tổ chức dịch vụ cần có, nhân viên
xã hội cần tác động như giới thiệu cho thân chủ và biện hộ cho đối tác, điều phối
nguồn lực để thân chủ có thể tiếp cận dịch vụ đó [8, tr.40].
+ Lập kế hoạch can thiệp: Xác định mục tiêu; Các hoạt động; Nguồn lực; Thời
gian; Lường trước những khó khăn có thể gặp phải; Kết quả dự kiến [8,tr.42].
+ Thực hiện kế hoạch và giám sát: Nhân viên công tác xã hội cùng triển khai
các hoạt động đã được đưa ra trong kế hoạch. Vai trò của nhân viên công tác xã hội
lúc này là thúc đẩy, điều phối các dịch vụ, trợ giúp tâm lý cho thân chủ, hỗ trợ khi
thân chủ gặp khó khăn trong quá trình triển khai thực hiện, cũng trong giai đoạn này
nhân viên xã hội giám sát các hoạt động, dịch vụ có diễn ra như kế hoạch không? để
từ đó tác động và thúc đẩy. Giám sát là việc đánh giá liên tục sự tham gia của thân
chủ và dịch vụ mà họ được cung cấp, mục tiêu của giám sát là để đảm bảo dịch vụ
được triển khai và đáp ứng có hiệu quả cho thân chủ, giám sát còn giúp cho thân
chủ phòng ngừa, ứng phó nhanh với những sự cố có thể xảy ra trong quá trình trợ
giúp. Các hoạt động giám sát được thực hiện như: trao đổi với thân chủ thường
xuyên để xem xét sự tiến bộ của thân chủ, cũng như xác định chất lượng dịch vụ
cung cấp, tìm hiểu xem thân chủ có hài lòng với dịch vụ hay không?. Nếu thân chủ
đề xuất điều chỉnh kế hoạch thì nhân viên công tác xã hội cần xem xét và lưu ý để
có những hành động kịp thời, những người tham gia có trách nhiệm trong trợ giúp
cũng cần gặp và trao đổi để họ đưa ra nhận xét về sự tiến bộ của thân chủ và liệu
dịch vụ này có nên tiếp tục nữa hay không? Và dịch vụ có nên điều chỉnh gì để cho
phù hợp với thân chủ; Giám sát chất lượng dịch vụ, thời gian và tính phù hợp với
nhu cầu của thân chủ; Giám sát có thể lồng ghép những hoạt động diễn ra trong quá
trình trợ giúp; Kết quả giám sát cung cấp những cơ sở cho việc cân nhắc để ra quyết
định cho hoạt động đó [8,tr.45-46].

14

đồng thông qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có thể hiểu biết, tự tin và tự

15


mình nhìn nhận vấn đề, đánh giá vấn đề, phân tích và tìm nguồn lực cho vấn đề cần
giải quyết [6,tr.58].
Vai trò người tạo sự thay đổi: nhân viên công tác xã hội được xem như người
tạo ra sự thay đổi cho cá nhân, giúp họ thay đổi suy nghĩ, thay đổi hành vi tiêu cực
hướng tới những suy nghĩ và hành vi tốt đẹp hơn [6,tr.57].
Vai trò là người tư vấn: nhân viên công tác xã hội tham gia như người cung
cấp thông tin tư vấn cho thân chủ những thông tin như chăm sóc sức khoẻ sinh sản,
thông tin về bảo vệ môi trường, dinh dưỡng cho trẻ nhỏ hay người già [6,tr.57].
Vai trò là người tham vấn: nhân viên công tác xã hội trợ giúp gia đình và cá
nhân tự mình xem xét vấn đề và tự thay đổi [6,tr.59].
Vai trò là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ
sở nhu cầu của cộng đồng đã được cộng đồng xác định, nhân viên công tác xã hội
giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh,
tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng [6,tr.59].
Vai trò là người cung cấp các dịch vụ trợ giúp cho những cá nhân, gia đình
không có khả năng tự đáp ứng được đầy đủ nhu cầu của mình và giải quyết vấn đề
[6,tr.59].
Vai trò là người xử lý dữ liệu: với vai trò này, nhân viên công tác xã hội phải
nghiên cứu, thu thập thông tin và phân tích thông tin trên cơ sở đó tư vấn cho thân
chủ để họ đưa ra những quyết định đúng đắn [6,tr.59].
Vai trò là người quản lý hành chính: nhân viên công tác xã hội lúc này thực
hiện những công việc cần thiết cho việc quản lý các hoạt động, các chương trình,
lên kế hoạch và triển khai kế hoạch, các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình
và cộng đồng [6,tr.59].
1.2. Trẻ tự kỷ

rối loạn phát triển lan tỏa không đặc hiệu và có nhiều dạng nhẹ hơn như Hội chứng
Asperger và hai rối loạn hiếm gặp khác là Hội chứng Rett và Rối loạn tan rã thời
thơ ấu [28].
Tại Việt Nam, các nhà nghiên cứu trên cơ sở xem xét các quan điểm, các khái
niệm về tự kỷ trên thế giới cũng đưa ra những quan điểm của mình về trẻ tự kỷ như
sau :

17


Tự kỷ là một bệnh lý thần kinh bao gồm những khiếm khuyết nặng nề về khả
năng tương tác và giao tiếp xã hội đi kèm với những quan tâm và hoạt động bó hẹp,
định hình. Tự kỷ là một chứng rối loạn quá trình phát triển ở trẻ em [9,tr.7].
Tự kỷ là rối loạn đa khiếm khuyết, biểu hiện sự rối loạn phát triển trong hành
vi, nhận thức, xúc cảm, sở thích, ý nghĩa lời nói, giác quan và quan hệ xã hội, ít
nhiều có kèm theo chậm phát triển trí tuệ. Khi được can thiệp bằng trị liệu tâm lý và
giáo dục hầu hết trẻ tự kỷ tiến bộ tùy theo mức độ bệnh và cách can thiệp của các
nhà chuyên môn [4,tr.14-15].
Tự kỷ là một dạng rối loạn phát triển về nhiều mặt song chủ yếu là rối loạn về
kỹ năng quan hệ xã hội, giao tiếp bằng lời nói và hành vi bất thường [20, tr.3].
Tự kỷ là một dạng rối loạn trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, người bị tự
kỷ có những rối loạn về nhiều mặt, nhưng biểu hiện rõ nhất là rối loạn về giao tiếp,
quan hệ xã hội và hành vi [11,tr.107].
1.2.2. Khái niệm trẻ tự kỷ
Từ các khái niệm về tự kỷ nêu trên, chúng tôi cho rằng : Trẻ tự kỷ là trẻ bị một
dạng bệnh trong nhóm rối loạn phát triển lan tỏa, ảnh hưởng đến nhiều mặt của sự
phát triển nhưng ảnh hưởng nhiều nhất đến kỹ năng giao tiếp, quan hệ xã hội và
hành vi.
1.2.3. Phân loại trẻ tự kỷ
Theo quan điểm mô tả lâm sàng của bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10

ICD-10

DSM-IV

1.Tự kỷ ở trẻ em

1.Rối loạn tự kỷ

2.Tự kỷ không điển hình

2.Rối loạn phát triển lan tỏa không đặc

3.Hội chứng Rett

hiệu (PDD-NOS)

4.Rối loạn tan rã thời thơ ấu khác

3.Rối loạn Rett

5.Rối loạn tăng hoạt động với chậm phát 4. Rối loạn tan rã thời thơ ấu
triển tâm thần và các động tác định hình

5.Không có phân loại tương ứng với

6.Hội chứng Asperger

động tác định hình

7. Rối loạn phát triển lan tỏa khác

là những trẻ có thể giao tiếp luân phiên hoặc thích giao tiếp. Trẻ tự kỷ có chỉ số
thông minh thấp và nói được: Trẻ có hành vi kém nhất trong các dạng tự kỷ
“thường xuyên la hét to, có thể trở nên hung hãn khi tuổi lớn hơn”; Có hành vi tự
kích thích; Trí nhớ kém; Nói lặp lại "lời nói không có nghĩa đầy đủ"; Khả năng tập
trung kém. Trẻ tự kỷ có chỉ số thông minh thấp và không nói được: Trẻ thường
xuyên im lặng; Biết dùng một ít từ hoặc ít cử chỉ; Có sự quan tâm đặc biệt đến máy
móc; Nhạy cảm với các âm thanh/tiếng động; Kỹ năng xã hội không thích hợp;
Không có mối quan hệ với người khác.

20


Theo mức độ: Tự kỷ mức độ nhẹ: Trẻ có thể giao tiếp bằng mắt tương đối bình
thường, giao tiếp với người ngoài nhưng hạn chế, học được các hoạt động đơn giản,
kỹ năng chơi và nói được tương đối bình thường; Tự kỷ mức trung bình: Trẻ có thể
giao tiếp bằng mắt, giao tiếp với người ngoài hạn chế và nói được nhưng hạn chế.
Tự kỷ mức độ nặng: Trẻ không giao tiếp bằng mắt, không giao tiếp với người ngoài
và không nói được.
Vấn đề tự chăm sóc của trẻ tự kỷ: Trẻ có khó khăn khi học kỹ năng sinh hoạt
hàng ngày như mặc quần áo, tự chăm sóc và đi vệ sinh; Một số trẻ có thể bị phụ
thuộc nhiều vào người khác trong cuộc sống hàng ngày; Trẻ có khó khăn trong việc
đi lại và sử dụng phương tiện giao thông công cộng.
Vấn đề học hành: Kỹ năng chơi không phát triển; Trẻ có khó khăn về đọc và
học tập.
Nhận thức của trẻ tự kỷ: Kém hoặc không chú ý, thiếu tập trung; Trí nhớ ngắn
qua nhìn, nghe kém; Thiếu kỹ năng xử lý các vấn đề; Khó khăn khi định hướng
[20,Tr.3-5].
1.2.4. Đặc điểm tâm lý của trẻ tự kỷ
Khó khăn về quan hệ xã hội
Trẻ không biết khởi xướng, bắt đầu làm quen, hoặc khó tiếp nhận một người


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status