Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh (LV thạc sĩ) - Pdf 46

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN NHẬT

XÁC ĐỊNH DẤU HIỆU GIÁ TRỊ TÀI SẢN TRONG CÁC TỘI
XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TỪ THỰC TIỄN
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NGUYỄN VĂN NHẬT

XÁC ĐỊNH DẤU HIỆU GIÁ TRỊ TÀI SẢN TRONG CÁC TỘI
XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT TỪ THỰC TIỄN
QUẬN BÌNH TÂN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: Luật hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

tụng dựa trên các quy định pháp luật để giải quyết tốt vấn đề định giá tài sản
trong pháp luật hình sự .........................................................................................71
3.5 Tăng cường cơ sở vật chất ..............................................................................73
3.6 Kiến nghị, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Hội đồng định
giá tài sản trong tố tụng pháp luật hình sự ............................................................74
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 80
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BLDS

: Bộ luật dân sự

BLHS

: Bộ luật hình sự

BLTTDS

: Bộ luật tố tụng dân sự

BLTTHS

: Bộ luật tố tụng hình sự

CQĐT

: Cơ quan điều tra


: Tố tụng dân sự

TTHS

: Tố tụng hình sự

UBND

: Ủy ban nhân dân

VKS

: Viện kiểm sát

VKSND

: Viện kiểm sát nhân dân


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, thực hiện các Nghị quyết của Đảng, đặc biệt là Nghị
quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về “Một số nhiệm vụ trọng tâm
công tác cải cách tư pháp trong thời gian tới”, Nghị quyết 48/NQ-TW ngày
24/05/2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020” và Nghị quyết số 49/NQTW ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm
2020”, công cuộc cải cách tư pháp đã được các cấp ủy, đảng lãnh đạo thực hiện với
quyết tâm cao và đạt được nhiều kết quả. Nhận thức và sự quan tâm của toàn xã hội
đối với công tác cải cách tư pháp có nhiều thay đổi theo hướng tích cực, công tác

định của pháp luật hình sự Việt Nam về quyết định hình phạt cũng như góp phần
giải quyết những vướng mắc trong việc quyết định hình phạt, bồi thường thiệt cho
người bị thiệt hại đối với các tội xâm phạm sở hữu từ thực tiễn quận Bình Tân,
Thành phố Hồ Chí Minh, tác giả chọn vấn đề “Xác định dấu hiệu giá trị tài sản
trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt từ thực tiễn quận Bình Tân,
Thành phố Hồ Chí Minh” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học là đáp ứng yêu cầu
khách quan hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu là tội phạm
có tính chất nhạy cảm cao, phức tạp và đã được một nhà luật học đề cập đến trong
một số sách chuyên khảo, giáo trình, tạp chí.
Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy có một số công trình nghiên cứu tiêu biểu
có liên quan đến đề tài luận văn, đó là:
Nhóm các sách, bài viết của các tác giả đăng trên các tạp chí chuyên ngành có
TS. Đỗ Văn Đương, TS. Lê Hữu Thể, ThS. Nguyễn Thị Thủy (2013). Những vấn đề
lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục tố tụng hình sự đáp ứng yêu
cầu cải cách tư pháp, Nxb chính trị quốc gia; Ths. Vũ Mạnh Thông, Luật sư Nguyễn
Ngọc Điệp (2009). Bình luận Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Lao động; TS. Võ Thị Kim
Oanh (2016). Bình luận Bộ luật tố tụng hình sự, Nxb Hồng Đức.
Bên cạnh đó, các vấn đề lý luận và thực tiễn xét xử còn được nghiên cứu
trong một số công trình nghiên cứu khoa học như: Ths. Đinh Văn Quế (2012). Bình
luận khoa học Bộ Luật Hình Sự 1999, phần các tội phạm, tập II Các tội phạm xâm
phạm sở hữu, Nxb Lao động; TS. Cao Thị Oanh (2010) Giáo trình luật hình sự Việt
Nam, phần các tội phạm, Chương IV, Các tội xâm phạm quyền sở hữu, Nxb Giáo
2


dục; GS.TS Võ Khánh Vinh (2014) Luật hình sự Việt Nam phần các tội phạm, Nxb
Khoa học xã hội.
Chu Xuân Quyền (2016), Quyết định hình phạt đối với các tội xâm phạm sở


quan đến việc định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt,
với các nhiệm vụ sau đây:
- Nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề về lý luận, quy
định của pháp luật về hoạt động định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt.
- Phân tích, đánh giá thực trạng tình hình hoạt động định giá tài sản trong các
tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trong các vụ án hình sự xảy ra trên địa bàn
quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất những giải pháp khả thi, phù hợp để hoàn thiện pháp luật và nâng cao
hiệu quả hoạt động định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm
đoạt.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xác định
dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.
Phạm vi nghiên cứu
Xác định dấu hiệu giá trị tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có tính
chiếm đoạt là một vấn đề rộng, lớn và rất phức tạp. Do đó, luận văn chỉ tập trung
nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật hình sự Việt Nam về định giá tài
sản đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt. Nghiên cứu thực tiễn
thông qua các số liệu về định giá tài sản đối với các tội xâm phạm sở hữu trên địa
bàn quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh thông qua các bản án và các báo cáo
công tác của HĐĐGTS, CQĐT, VKS, TAND quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí
Minh trong năm năm, từ năm 2012 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận
Luận văn dựa trên phương pháp luận là phép biện chứng duy vật của chủ
nghĩa Mác-Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về
chính sách hình sự trong đấu tranh phòng chống tội phạm.
Phương pháp nghiên cứu

chiếm đoạt tại quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Chương 3: Các giải pháp nhằm bảo đảm định giá tài sản đúng trong các tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt.

5


Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN
TRONG CÁC TỘI XÂM PHẠM SỞ HỮU CÓ TÍNH CHIẾM ĐOẠT
1.1 Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của việc định giá tài sản trong các tội
xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt
1.1.1 Khái niệm
Định giá tài sản có lịch sử hình thành và phát triển khá lâu ở nhiều nước trên
thế giới, đặc biệt những nước có nền kinh tế phát triển. Ở nước ta, trong những năm
gần đây, nghề định giá tài sản cũng được phát triển rất nhanh chóng, khi Đại hội lần
thứ VI năm 1986 của Đảng Cộng Sản Việt Nam mở đường cho công cuộc đổi mới ở
Việt Nam thì các hoạt động của kinh tế thị trường mới có điều kiện hình thành và
phát triển. Thực hiện chủ trương chuyển đổi nền kinh tế từ cơ chế quản lý tập trung,
bao cấp sang cơ chế thị trường và cũng là cơ hội tất yếu phải có sự xuất hiện của
nghề thẩm định giá để đáp ứng việc mở cửa nền kinh tế với thế giới. Ban đầu, nghề
thẩm định giá được thừa nhận năm 1998 từ một trung tâm sự nghiệp trực thuộc Bộ
Tài chính để thực hiện thí điểm sau đó được thừa nhận và phát triển mạnh trên toàn
quốc vào khoảng giữa năm 2005 theo quy định của Nghị định 101/2005/NĐ-CP
ngày 03/08/2005 của Chính phủ về dần chuyển sang mô hình doanh nghiệp vào đầu
năm 2006. Theo Bộ Tài chính, hiện nay tại Việt Nam không còn các đơn vị nhà
nước hoạt động theo mô hình sự nghiệp trong lĩnh vực giá mà phải đổi thành mô
hình doanh nghiệp, hoạt động bình đẳng trước pháp luật không có sự can thiệp,
ưu đãi đặc biệt của Nhà nước. Với nhiều loại hình doanh nghiệp tham gia thị trường
và đội ngũ cán bộ định giá chuyên nghiệp, được đào tạo chính quy góp phần hình

nhất định theo những tiêu chuẩn được công nhận như những thông lệ quốc tế hoặc
quốc gia”. [40, tr. 2]
Theo Pháp lệnh giá số 40/2002/PL-UBTVQH10 ngày 26/04/2002 của Việt
Nam, trong thẩm định giá được định nghĩa như sau: “Thẩm định giá là việc đánh
giá hoặc đánh giá lại giá trị của tài sản phù hợp với thị trường tại một địa điểm,
thời điểm nhất định theo tiêu chuẩn của Việt Nam hoặc thông lệ quốc tế”.
Theo Luật giá số 11/2012/QH13 do Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam khóa XIII kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 20/06/2012, Thẩm định giá
được định nghĩa như sau: “Thẩm định giá là việc cơ quan, tổ chức có chức năng
thẩm định giá xác định giá trị bằng tiền của các loại tài sản theo quy định của Bộ
luật dân sự phù hợp với giá thị trường tại một địa điểm, thời điểm nhất định, phục
vụ cho mục đích nhất định theo tiêu chuẩn thẩm định giá”
7


Nghiên cứu chế định về “Định giá tài sản” hay xác “xác định dấu hiệu giá trị
tài sản” theo quy định pháp luật hình sự Việt Nam, thì đây là một vấn đề khá mới
mẻ đối với chúng ta, cũng như các cơ quan tiến hành tố tụng.
Nghị định số 117-HĐBT ngày 21/07/1988 của Hội đồng Bộ trưởng quy định
về giám định tư pháp “Giám định tư pháp là sử dụng những kiến thức, phương
pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận về vấn đề có liên quan
đến các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, các tranh chấp lao động theo
quyết định trưng cầu giám định của cơ quan Công an, Viện kiểm sát nhân dân, Toà
án nhân dân (trong văn bản này gọi chung là cơ quan tiến hành tố tụng) nhằm phục
vụ công tác điều tra, truy tố và xét xử”.
Theo pháp lệnh số 24/2004/PL-UBTVQH11 ngày 29/09/2004 quy định về
giám định tư pháp “Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện,
phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn những vấn
đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự (sau đây gọi chung là
vụ án) do người giám định tư pháp thực hiện theo trưng cầu của cơ quan tiến hành

Thị trường là một môi trường trong đó sự trao đổi hàng hoá hay dịch vụ giữa
người mua và người bán được thực hiện thông qua cơ chế giá cả. Thị trường chỉ ra
rằng hàng hoá và dịch vụ có thể được trao đổi giữa người bán và người mua mà
không có sự hạn chế nào trong hoạt động của mình.
Đặc điểm của thị trường:
+ Thị trường có thể bao gồm số lượng đáng kể người mua và người bán, hay
có thể theo tính chất mà hạn chế số người tham gia.
+ Thị trường trong đó tài sản được trưng bày để bán, quảng bá thương hiệu
hay hình ảnh của tài sản mà không có sự ngăn cấm nào.
+Thị trường có thể là thị trường địa phương, thị trường trong vùng, thị
trường quốc gia hoặc thị trường quốc tế.
- Thứ hai, định giá tài sản được biểu hiện chủ yếu bằng hình thái tiền tệ.
Thị trường là một cơ chế, trong đó người mua và người bán tương tác lẫn
nhau để xác định giá cả hàng hóa dịch vụ. Trong hệ thống thị trường mọi thứ điều
có giá của nó. Đó là giá trị của hàng hóa và dịch vụ được xác định bằng tiền. Giá cả
thể hiện mức mà mọi người và các doanh nghiệp tự nguyện trao đổi mua bán nhiều
loại hàng hóa khác nhau.
Sau khi các bên đã ước tính giá cả hàng hóa dịch vụ được bằng tiền thì các
bên sẽ tiến hành thực hiện các giao dịch về hàng hóa dịch vụ theo nhu cầu của mình
mà không bị ràng buộc bởi một thế lực nào hay chịu sự ép buộc của một cá nhân
9


hay tổ chức nào.
Trong trường hợp đặc biệt thì hàng hóa dịch vụ đặc biệt chịu sự điều chỉnh,
chi phối của nhà nước để bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội hoặc phải
đặt lợi ích toàn dân lên hàng đầu thì giá cả hàng hóa dịch vụ này do nhà nước quyết
định.
- Thứ ba, định giá hay thẩm định giá là việc ước tính giá trị đó phải được đặt
trong một địa điểm, một thị trường nhất định với những điều kiện nhất định và tại

+ Thẩm định giá đưa ra kết quả tư vấn về giá trị, giá cả tài sản giúp các chủ
thể tài sản, các bên có liên quan và công chúng đầu tư đưa ra các quyết định liên
quan đến việc mua, bán, đầu tư, cầm cố, cho vay tài sản, giải quyết các vấn đề khác
có liên quan đến tài sản.
+ Trong kinh tế thị trường, thẩm định giá tài sản được áp dụng cho nhiều
mục đích kinh tế khác nhau như mua bán, thế chấp, cho thuê, bảo hiểm, tính thuế,
thanh lý, đầu tư... Tương ứng với từng mục đích kinh tế, với cùng một tài sản, cùng
một thời điểm thẩm định sẽ cho kết quả giá trị tài sản thẩm định là khác nhau. Do
vậy, kết quả thẩm định giá sẽ được sử dụng để ra quyết định trong nhiều tình huống
khác nhau, ví dụ như:
+ Giải quyết tranh chấp trong dân sự hoặc trong một vụ án hình sự có liên
quan đến tài sản;
+ Báo cáo tài chính theo yêu cầu doanh nghiệp để phục vụ cho việc quản lý
tài sản doanh nghiệp, thanh quyết toán thuế...
+ Mua sắm, chuyển nhượng, thế chấp vay vốn, bảo hiểm, tính thuế, đền bù,
cho thuê tài sản;
Làm căn cứ cho phê duyệt các dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài, dự án đầu
tư công trình sử dụng vốn của Nhà nước, đề án cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước,
dự toán cấp phát kinh phí, mua sắm tài sản từ nguồn ngân sách nhà nước, vay nợ
của Chính phủ, vay nợ nước ngoài có sự bảo lãnh của Chính phủ…
Làm căn cứ để sáp nhập, chia tách, phá sản hay giải thể doanh nghiệp.
- Thứ năm, việc thẩm định giá phải tuân thủ theo những tiêu chuẩn thẩm định
giá và phương pháp thẩm định giá nhất định.
Để kiểm soát và quản lý hoạt động thẩm định giá phát triển đúng hướng, phát
huy được vai trò tích cực trong nền kinh tế, Chính phủ quan tâm xây dựng hành
lang pháp lý, quản lý và điều hành bằng pháp luật.
Khi xem xét báo cáo kết quả thẩm định giá của một thẩm định viên khác,
thẩm định viên phải nhận xét một cách độc lập, khách quan và kết luận thống nhất
11


công bằng, đảm bảo bí mật và không gây ra mâu thuẫn về lợi ích cho khách hàng.
+ Phải có giấy phép hành nghề theo quy định pháp luật.
12


- Thứ bảy, định giá hay thẩm định giá được thực hiện dựa trên cơ sở sử dụng
các dữ liệu, các yếu tố của thị trường.
Khi nhận được yêu cầu định giá thì cơ quan, tổ chức tiến hành yêu cầu cung
cấp thông tin nếu thấy cần thiết thì đưa ra những giả thiết và những điều kiện đối
với những yêu cầu và mục đích thẩm định giá của chủ thể yêu cầu; những yếu tố
ràng buộc ảnh hưởng đến giá trị tài sản; những giới hạn về tính pháp lý, công dụng
của tài sản, nguồn dữ liệu, sử dụng để phục vụ cho việc xác định giá trị tài sản.
Thực tế việc định giá tài sản để phục vụ cho một mục đích nhất định của chủ
thể yêu cầu nhưng việc xác định chính xác giá trị tài sản là điều vô cùng khó khăn,
phức tạp đòi hỏi cơ quan, tổ chức phải thực hiện rất nhiều công việc như lập kế
hoạch khảo sát, thu thập thông tin, phân tích thông tin, thống kê, kể cả thông qua
một tổ chức khác để tiến hành một số công việc cụ thể theo yêu cầu nhất định liên
quan đến chuyên môn, công nghệ cao mới cho ra được kết luận định giá hoàn chỉnh
và chuẩn về nội dung và hình thức.
1.1.3 Ý nghĩa của việc định giá tài sản trong các tội xâm phạm sở hữu có
tính chiếm đoạt
Lịch sử lập pháp hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam cho đến
nay đã xây dựng và ban hành được 03 BLHS, đó là BLHS năm 1985, BLHS năm
1999 và BLHS năm 2015. Quá trình lập pháp đã kế thừa phát huy những mặt tích
cực của Bộ luật hình sự trước, đồng thời loại bỏ những mặt hạn chế không còn phù
hợp với tình hình hiện nay, đồng thời bổ sung các quy định mới, tiến bộ nhằm đáp
ứng yêu cầu tất yếu của đời sống xã hội, góp phần vào việc phát triển kinh tế, văn
hóa, giữ gìn an ninh trật tự.
BLHS năm 1985 đã được Quốc hội sửa đổi, bổ sung chưa đáp ứng được sự
phát triển của xã hội. Cụ thể như: các tội về xâm phạm sở hữu tài sản: Cướp tài sản

hành Thông tư số 55/2006/TT-BTC ngày 22/06/2006 hướng dẫn thực hiện một số
điều của Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 của Chính phủ HĐDGTS
trong tố tụng hình sự.
Hơn 10 năm thực hiện các quy định về HĐĐGTS trong TTHS cho thấy
có nhiều bất cập; nhiều nơi Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự chưa làm
hết trách nhiệm của mình, có nơi HĐĐGTS làm quá phạm vi chức trách của mình
như: tài sản bị chiếm đoạt không thu giữ được thì HĐĐGTS từ chối không định giá
tài sản hoặc chung chung không rỏ ràng hoặc HĐĐGTS khi tiến hành định giá tài
sản chưa tiến hành đầy đủ các bước để làm căn cứ định giá, các thiếu sót này là vi
phạm các quy định về phạm vi, trách nhiệm của HĐĐGTS trong TTHS được quy
14


định tại Nghị định số 26/2005/NĐ-CP ngày 02/03/2005 của Chính phủ, dẫn đến vi
phạm nghiêm trọng trong thủ tục TTHS, hậu quả là việc phải trả hồ sơ điều tra bổ
sung, nghiêm trọng hơn là khả năng xảy ra tình trạng oan sai.
Thực tiễn, quá trình thực thi những quy định của BLTTHS năm 1988 và
BLTTHS năm 2003 về chứng cứ đã chỉ ra những hạn chế, vướng mắc, trong đó
những quy định về chứng cứ còn hạn hẹp, không còn phù hợp với việc chứng minh
tình hình tội phạm hiện nay. Để khắc phục những tồn tại và khó khăn trên,
BLTTHS năm 2015 đã có những thay đổi, bổ sung quan trọng theo hướng quy định
rõ hơn những vấn đề cần phải chứng minh, mở rộng các loại nguồn chứng cứ… Đặc
biệt, “Kết luận định giá tài sản” đã được BLTTHS năm 2015 quy định là một trong
những nguồn chứng cứ quan trọng của quá trình chứng minh. Trong một số trường
hợp nếu không có kết quả của việc định giá tài sản thì cơ quan tiến hành tố tụng
không thể giải quyết được vụ án. Ngoài ra, “Kết luận định giá tài sản” cũng là một
trong những yếu tố để xác định căn cứ để buộc tội hoặc minh oan cho người vô tội.
Xuất phát từ tầm quan trọng của các kết luận giám định khi giải quyết các vụ án
hình sự và một số khó khăn vướng mắc trong thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003
là trong một số vụ án cần phải định giá tài sản, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm

ánh đúng tình hình phát triển của các quan hệ kinh tế xã hội qua từng thời kỳ khác
nhau. Sự thay đổi này đã làm cho khái niệm tài sản được hiểu theo nghĩa rộng hơn
và được đánh giá là một trong những ưu điểm của BLDS năm 2005, phù hợp với
yêu cầu cuộc sống, đáp ứng nhu cầu về giao dịch trong nền kinh tế thị trường.
BLDS năm 2015 đã trình bày theo hướng tiếp cận mới. Cụ thể là, Điều 105
BLDS năm 2015 quy định về tài sản như sau “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và
quyền tài sản. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động
sản có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”. Mặt khác,
BLDS năm 2015 còn bổ sung Điều 108 để giải thích rõ khái niệm tài sản hiện có và
tài sản hình thành trong tương lai. Theo đó:
“1. Tài sản hiện có là tài sản đã hình thành và chủ thể đã xác lập quyền sở
hữu, quyền khác đối với tài sản trước hoặc tại thời điểm xác lập giao dịch.
2. Tài sản hình thành trong tương lai bao gồm:
a) Tài sản chưa hình thành;
b) Tài sản đã hình thành nhưng chủ thể xác lập quyền sở hữu tài sản sau thời
điểm xác lập giao dịch”.
“Tiền mặt” là các loại tiền giấy, tiền kim loại do Ngân hàng Nhà nước phát
hành. Theo quy định tại khoản 1 Điều 3 Nghị định số 40/2012/NĐ-CP ngày
16


02/05/2012 về nghiệp vụ phát hành tiền; bảo quản, vận chuyển tài sản quý và giấy
tờ có giá trong hệ thống ngân hàng nhà nước, tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân
hàng nước ngoài.
Chế định tài sản được quy định tại BLDS năm 2015 là sự kế thừa chế định
tài sản trong các BLDS trước đó, đồng thời cũng sửa đổi, bổ sung nhiều vấn đề
quan trọng thể hiện sự phát triển chế định này trong lịch sử xây dựng luật dân sự.
Đây là một đòi hỏi tất yếu của quá trình hoàn thiện các quy định của BLDS, trong
đó chế định tài sản là một trong những chế định trung tâm của BLDS, cho nên việc
bổ sung, hoàn thiện chế định này là rất quan trọng, làm cơ sở tiền đề để xây dựng

BLDS năm 2015 không định nghĩa cụ thể giấy tờ có giá là gì mà chỉ nêu
giấy tờ có giá là một loại tài sản. Theo Khoản 8 Điều 6 Luật Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam 2010 “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ
chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời hạn
nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác”; Khoản 1 Điều 2 Thông tư
01/2012/TT-NHNN ngày 16/02/2012 quy định: “Giấy tờ có giá là bằng chứng xác
nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với người sở hữu giấy
tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các điều kiện khác".
Khoản 1 Điều 3 Thông tư 04/2016/TT-NHNN ngày 15/04/2016 “Giấy tờ có giá là
bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ chức phát hành giấy tờ có giá với
người sở hữu giấy tờ có giá trong một thời gian nhất định, điều kiện trả lãi và
những điều kiện khác”. Theo khoản 9 Điều 3 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày
29/12/2006 của chính phủ về giao dịch bảo đảm quy định “Giấy tờ có giá bao gồm
cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác
theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”.
Căn cứ vào nội dung giải đáp về giấy tờ có giá tại Công văn 141/TANDTCKHXX của Tòa án nhân dân tối cao ngày 21/09/2011, có thể liệt kê một số loại giấy
tờ có giá như sau:
Hối phiếu đòi nợ, hối phiếu nhận nợ, séc, công cụ chuyển nhượng khác được
quy định tại Điều 1 Luật các công cụ chuyển nhượng 2005;
Trái phiếu Chính phủ, trái phiếu công ty, kỳ phiếu, cổ phiếu được quy định
tại điểm c khoản 1 Điều 4 Pháp lệnh ngoại hối 2005;
Tín phiếu, hối phiếu, trái phiếu, công trái và công cụ khác làm phát sinh
nghĩa vụ trả nợ được quy định tại điểm 16 Điều 3 Luật quản lý nợ công 2009;
Các loại chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ; quyền mua cổ
phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồng tương lai, nhóm
18


chứng khoán hoặc chỉ số chứng khoán; Hợp đồng góp vốn đầu tư; các loại chứng
khoán khác do Bộ Tài chính quy định) được quy định tại khoản 1 Điều 6 Luật



vật là đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và
người phạm tội hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”.
So với BLTTHS năm 2003 ngày 26/11/2003 thì BLTTHS năm 2015 ngày
27/11/2015 thì chỉ bổ sung thêm “hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án”. Việc
bổ sung như trên là hợp lý, vì trong vụ án hình sự có liên quan đến dân sự (bồi
thường thiệt, làm hư tài sản thì người có hành vi xâm phạm tài sản phải có biện
pháp khắc phục). Hiện nay, tình hình sự tội phạm diễn biến rất phức tạp, hành vi
phạm tội rất tinh vi. Đồng thời, các sản phẩm do con người tạo ra ngày càng phong
phú và đa dạng nên nhà làm luật không cụ thể hóa, rõ ràng chi tiết thì sẽ dẫn đến
thiếu sót.
1.2.2 Quy định pháp luật về định giá tài sản
Trong quá trình thực thi những quy định của BLTTHS năm 1988 và
BLTTHS năm 2003 về chứng cứ đã chỉ ra những hạn chế, vướng mắc, trong đó
những quy định về chứng cứ còn hạn hẹp, không còn phù hợp với việc chứng minh
tình hình tội phạm hiện nay. Để khắc phục những tồn tại và khó khăn trên,
BLTTHS năm 2015 đã có những thay đổi, bổ sung quan trọng theo hướng quy định
rõ hơn những vấn đề cần phải chứng minh, mở rộng các loại nguồn chứng cứ… Đặc
biệt, “Kết luận định giá tài sản” được quy định là một trong những nguồn chứng cứ
quan trọng của quá trình chứng minh. Trong một số trường hợp cụ thể, nhất là đối
với các tội xâm phạm sở hữu việc định giá tài sản là hết sức quan trọng, làm cơ sở
cho cơ quan tiến hành tố tụng giải quyết vụ án, khi vụ án không thể xác định chính
xác giá trị tài sản bị xâm phạm là bao nhiêu. Ngoài ra, “Kết luận định giá tài sản”
cũng là một trong những căn cứ để buộc tội hoặc minh oan cho người vô tội. Xuất
phát từ tầm quan trọng của “Kết luận định giá tài sản” khi giải quyết các vụ án hình
sự và một số khó khăn vướng mắc trong thực tiễn thi hành BLTTHS năm 2003,
trong một số vụ án cần phải định giá tài sản, BLTTHS năm 2015 đã bổ sung thêm
nguồn chứng cứ mới đó là “Kết luận định giá tài sản” được quy định tài Điều 101
BLTTHS năm 2015. Cụ thể như sau:

Theo Luật giá số 11/2012/QH13 ngày 20/06/2012 thì không quy định các
vấn đề liên quan đến việc định giá tài sản trong các vụ án hình sự, mà chỉ quy định
liên việc đến các vấn đề thẩm định giá để xác định giá trị một tài sản trong việc kinh
doanh hay thực hiện việc đầu tư sản xuất, bán đấu giá tài sản. Luật giá năm 2012
chỉ phục vụ chủ yếu cho việc xác định giá trị tài sản để thực hiện việc giao kết hoặc
thỏa thuận dân sự, phục vụ công tác quản lý giá của nhà nước, các cá nhân, tổ chức,
doanh nghiệp tiến hành các hoạt động thẩm định giá tài sản.
21



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status