LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC - PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ - Pdf 39

1

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Dân chủ, theo cách nói của Chủ tịch Hồ Chí Minh có nghĩa là dân làm
chủ, dân là chủ. NN ta là NN của dân, do dân và vì dân, nhưng đó là NN quản
lý xã hội bằng pháp luật. Xây dựng NN pháp quyền XHCN của dân, do dân
và vì dân chính là cách thức cơ bản để phát huy QLC của nhân dân.
Một trong những điểm cơ bản để xây dựng NN pháp quyền, phát huy
QLC của nhân dân là phải không ngừng xây dựng và thể chế hóa mục tiêu,
phương châm, những nguyên tắc vận hành của nền dân chủ XHCN ở nước ta.
Với ý nghĩa đó, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương
Đảng ta đã ban hành Chỉ thị số 30/CT - TW về thực hiện QCDC ở cơ sở. Bản
Chỉ thị đã quy định cụ thể trách nhiệm, nhiệm vụ của MTTQ cùng các tổ chức
chính trị - xã hội trong việc xây dựng và thực hiện QC này ở xã.
Chỉ thị 30 của Bộ Chính trị về xây dựng và thực hiện QCDC đã quy
định trách nhiệm của UBMTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội bao gồm 3
việc: Phải làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục rộng rãi trong hội viên,
đoàn viên và nhân dân chỉ thị này và các QCDC ở cơ sở; Làm cho mọi người
hiểu và sử dụng đúng quyền và nghĩa vụ công dân, quyền của các tổ chức
chính trị - xã hội đã được quy định trong QCDC; Phối hợp với CQ trong việc
thực hiện QCDC và giám sát thực hiện các QCDC ở cơ sở.
Trong thời gian qua, việc thực hiện các công tác nêu trên, nhìn về cơ
sở thì công tác MT tham gia thực hiện 5 khâu trong QCDC có nhiều khởi sắc.
Trong 5 khâu: Những việc cần thông báo để nhân dân biết; Những việc nhân
dân bàn và quyết định trực tiếp; Những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến,
CQ quyết định; Những việc nhân dân giám sát và xây dựng cộng đồng dân cư
ở thôn, làng, ấp bản, thì ở khâu thứ 2 và thứ 5, hoạt động của UBMTTQ là rõ
nét và đạt khá nhiều kết quả.


trị, qua đó cũng cho thấy việc tiếp tục nghiên cứu mang tính tổng kết thực tiễn
và chỉ ra khuynh hướng phát triển, các giải pháp trong thời gian tới để MT


3

phát huy tốt hơn vai trò của mình trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở là việc
làm mang tính cấp bách cả về phương diện lý luận lẫn thực tiễn.
Trong thời kỳ phát triển mới của đất nước, Đại hội IX đã tiếp tục
khẳng định và phát triển những chủ trương và quan điểm lớn về đại đoàn kết
dân tộc, phát huy dân chủ trong thời kỳ đổi mới đã được đề ra tại các Đại hội
VI, VII, VIII của Đảng để thực hiện mạnh mẽ hơn nữa sự nghiệp đại đoàn kết
toàn dân và phát huy dân chủ - hai mệnh đề then chốt trong đường lối chiến
lược của Đảng ta để đưa đất nước đi lên.
Có thể nói, cả hiện tại và trong thời gian tới, nhu cầu và điều kiện
khoa học cũng như thực tiễn về hoàn thiện hơn nữa pháp luật về MTTQ trong
thực hiện quy chế dân chủ trong tình hình mới ngày càng chín muồi. Cho đến
bây giờ vẫn chưa có một công trình khoa học pháp lý nào khảo cứu một cách
toàn diện về mặt lý luận và thực tiễn vấn đề phát huy vai trò của MTTQVN
trong thực hiện QCDC ở cơ sở và về những bảo đảm pháp lý cho hoạt động
của MTTQ để tham gia thực hiện tốt hơn nữa QC. Vì vậy, việc nghiên cứu
những vấn đề lý luận, thực tiễn và pháp lý vò MTTQ trong thực hiện QCDC
là vấn đề bức xúc và cần thiết. Với tất cả các ý nghĩa đã, chúng tôi đã chọn đề
tài: "Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trong thực hiện Quy
chế dân chủ ở cơ sở" làm luận văn Thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Thực hiện chủ trương hướng về cơ sở của Đảng đã có một số công trình
nghiên cứu về dân chủ, dân chủ ở cơ sở như: "QC thực hiện dân chủ ở cấp xã Một số vấn đề lý luận và thực tiễn" của Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh do PGS.TS. Dương Xuân Ngọc chủ biên, NXBCTQG năm 2000, "Thực
hiện QCDC và xây dựng CQ cấp xã ở nước ta hiện nay" của Học viện Chính trị

những giải pháp phát huy vai trò của MTTQVN trong việc thực hiện QCDC ở
cơ sở.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
Mục đích


5

1. Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm
vụ của MT trong HTCT về việc thực hiện QCDC ở cơ sở, phát huy QLC của
nhân dân.
2. Làm rõ thực trạng hoạt động của MTTQVN trong việc tham gia
thực hiện QCDC ở cơ sở.
3. Xác định nội dung nhiệm vụ và đề ra những giải pháp khả thi nhằm
phát huy vai trò tích cực của UBMTTQ các cấp, nhất là cấp cơ sở trong việc
thực hiện QCDC ở xã, phường, tăng cường đoàn kết, góp phần thực hiện
thành công nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.
Nhiệm vụ
Đó đạt được mục đích trên nhiệm vụ của luận văn là:
1. Nghiên cứu về vị trí, vai trò, chức năng của MT với vấn đề dân chủ,
đoàn kết trong thời kỳ mới; trong việc tham gia thực hiện QCDC ở xã.
2. Nghiên cứu về việc UBMTTQ tham gia thực hiện QCDC ở xã,
phường - thực trạng, nguyên nhân và những kinh nghiệm thực tiễn.
3. Nghiên cứu về chủ trương, giải pháp nhằm phát huy vai trò của MT
trong việc thực hiện QCDC ở cơ sở trong thời gian tới.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
Ngoài những phương pháp chung như: phương pháp duy vật biện
chứng, phương pháp duy vật lịch sử, phương pháp tổng hợp, phân tích, so
sánh chú trọng phương pháp điều tra xã hội học, phương pháp định tính, định
lượng trong quá trình phân tích ảnh hưởng của MTTQ đối với việc thực hiện


Chương 1
DÂN CHỦ VÀ DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ
VÀ VAI TRÒ CỦA MẶT TRẬN TỔ QUỐC VIỆT NAM
TRONG THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở XÃ

1.1. DÂN CHỦ VÀ QUY CHẾ THỰC HIỆN DÂN CHỦ Ở CƠ SỞ

1.1.1. Khái niệm về dân chủ và dân chủ ở cơ sở
Khái niệm "dân chủ" có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp "demos", nghĩa là
nhân dân và "kratos" - CQ, quyền lực. "Demokratia" có nghĩa là quyền lực
của nhân dân, CQ của nhân dân. Dân chủ là một CQ "của dân, do dân và vì
dân". Như vậy, dân chủ là một thể chế do dân làm chủ và dân chủ trước hết là
chế độ chính trị trong đó quyền lực tối cao thuộc về nhân dân, do nhân dân
thực thi, tự bản thân thực thi hoặc thông qua các đại biểu mà mình bầu ra.
Dân chủ gồm có dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện. Dân chủ trực tiếp là
hình thức dân chủ với những thiết chế, quy chế để người dân thảo luận và
biểu quyết những vấn đề chung của cộng đồng. Dân chủ đại diện là hình thức
dân chủ trong đó nhân dân cử ra (chủ yếu bằng bầu cử) người thay mặt mình
nắm giữ quyền lực NN. Còn có dân chủ bán trực tiếp là hình thức dân chủ
thông qua các tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp...
của các tầng lớp nhân dân. Dân chủ có dân chủ tư sản và dân chủ XHCN. Đặc
trưng của dân chủ XHCN là quyền dân chủ của công dân không ngừng được
mở rộng trong tất cả các lĩnh vực hoạt động của NN, của xã hội mà cơ bản
nhất là dân chủ về kinh tế. Trên lĩnh vực chính trị- xã hội, quyền tham gia
quản lý NN của dân và các đoàn thể nhân dân ngày càng được mở rộng về
phạm vi, về độ sâu và phong phú đa dạng về các hình thức.
Dân chủ có thể hiểu là một cách thức và những điều kiện kèm theo để
mọi người dân tham gia bình đẳng vào các công việc chính trị, kinh tế, xã hội
với vai trò là người chủ xã hội. Khi một người nông dân cầm lá phiếu đi bầu

người dân, của cả cộng đồng. Điều này có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng ở
cấp xã, phường, thị trấn.


9

Trong thực tế chưa có một xã hội nào đạt được tình trạng dân chủ
tuyệt đối do nhiều lý do khách quan và chủ quan, như: trình độ phát triển kinh
tế - xã hội, năng lực nhận thức của dân và của CQ, truyền thống lịch sử, văn
hóa pháp quyền, v.v... Vì thế, dân chủ còn được hiểu như một mục tiêu phấn
đấu của dân tộc Việt Nam như đã ghi rõ trong Hiến pháp là: thực hiện mục
tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Những mục
tiêu đó đều có mối liên hệ gắn bó với nhau. Dân có giàu thì nước với mạnh.
Có dân chủ thì mới có công bằng xã hội. Có dân chủ thực sự thì dân mới giàu
và quốc gia mới mạnh. "Dễ trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân
liệu cũng xong" [2, tr. 554]. Đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng và dân
chủ là những yếu tố không thể thiếu được của một nền văn minh. Với mục
tiêu phấn đấu như vậy, việc phát huy dân chủ, nhất là dân chủ ở cơ sở, được
coi là chủ trương, biện pháp và là hành động tất yếu của nhân dân và CQ
trong quá trình phát triển của đất nước ta.
Dân chủ được đảm bảo và phát huy bằng nhiều biện pháp. Việc thực
thi dân chủ luôn gắn liền với mối quan hệ giữa NN và nhân dân. ở nước ta hiện
nay, HTCT dựa trên thiết chế "Đảng lãnh đạo, NN quản lý, nhân dân làm chủ".
Việc phát huy, thực hiện dân chủ được tiến hành không tách rời thiết chế này.
Dân chủ mang lại những lợi ích to lớn cho xã hội. Phát huy dân chủ là
phát huy sức mạnh vật chất và tinh thần trong dân vì sự phát triển và giảm
nghèo. Khi nhân dân thực hiện quyền quyết định các công việc của làng, xã, ý
thức làm chủ của dân được khẳng định rõ rệt. Với ý thức làm chủ, mọi sáng
kiến, nguồn lực của mỗi người dân, mỗi gia đình trong cộng đồng làng, xã
được phát huy một cách tốt nhất để vượt qua những thách thức và khó khăn

hạn chế và dần bị loại bỏ khỏi đời sống xã hội; CQ trở nên minh bạch, thực sự
trở thành CQ phục vụ dân và vì dân. Sự tin cậy của dân đối với CQ sẽ ngày
càng tăng. Dân sẽ quan hệ chặt chẽ và hợp tác với CQ.
Dân chủ tăng cường kỷ cương và ổn định xã hội. Với những thành quả
như đã nêu trên do phát huy và tăng cương dân chủ, cộng đồng dân cư ở cơ sở
sẽ đoàn kết và ổn định. Kỷ cương xã hội sẽ được tăng cường không chỉ bởi ý


11

thức tôn trọng pháp luật, mà còn do sự tự nguyện, tự giác của nhân dân với tư
cách là những người chủ cộng đồng.
Cơ sở là đơn vị ở cấp dưới cùng, nơi trực tiếp thực hiện các hoạt động
như sản xuất, công tác, v.v. của một hệ thống tổ chức, trong quan hệ với các
bộ phận lãnh đạo cấp trên [77, tr. 209]. Như vậy, cấp cơ sở là cấp xã trong
quan hệ với cấp ĐP (gồm cấp tỉnh và cấp huyện) và với cấp TW. CQ cơ sở là
CQ cấp xã. Bởi vì, căn cứ vào việc phân bổ dân cư và lãnh thổ thành đơn vị
hành chính thì CQ cấp xã và cấp tương đương là cấp CQ cơ sở. Vì đây là cấp
CQ cuối cùng, gần và sát dân nhất. Còn thôn, làng, ấp, bản, tổ dân phố và
tương đương là theo đơn vị dân cư - với tư cách là những cộng đồng người
nhỏ nhất sinh sống cùng nhau. Ở đây, đời sống dân cư diễn ra tự quản là
chính. Dân chủ ở cơ sở là dân chủ ở cấp xã, phường, thị trấn và thôn, làng, ấp,
bản, khóm, tổ dân phố (là các hình thức cộng đồng dân cư như đã nêu). Dân
chủ ở cơ sở chủ yếu là thực hiện hình thức dân chủ trực tiếp (mặc dù có cả
dân chủ đại diện), và các hình thức tự quản của cộng đồng dân cư. Dân chủ cơ
sở có ý nghĩa vô cùng to lớn, vì cơ sở là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của NN, là nơi cần thực hiện quyền
dân chủ của nhân dân một cách trực tiếp và rộng rãi nhất.
1.1.2. Khái niệm và đặc điểm của quy chế thực hiện dân chủ ở cơ sở
Trải qua 60 năm xây dựng NN của dân, do dân, vì dân dưới sự lãnh

dân đối với Đảng và CQ mà còn làm triệt tiêu nguồn động lực của
nhân dân và xâm phạm vào bản chất tốt đẹp của chế độ [4, tr. 4].
Trước tình hình đó, Nghị quyết TW 3 khóa VIII (6/1997) nêu rõ yêu
cầu: Tiếp tục phát huy tốt hơn và nhiều hơn QLC của dân qua các hình thức
dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp; tiếp tục hoàn thiện NNCHXNCNVN
đảm bảo trong sạch, vững mạnh và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với
NN, mở rộng dân chủ XHCN, phát huy QLC của nhân dân trong xây dựng và
quản lý NN [5]. Mở rộng dân chủ XHCN, phát huy QLC của nhân dân phải
được thể hiện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh,
từ việc xây dựng luật pháp, cơ chế, chính sách đến tổ chức bộ máy, phong
cách làm việc, bao quát mọi hoạt động của mọi cấp, mọi ngành, từ TW đến


13

ĐP và cơ sở. Vấn đề dân chủ, bảo đảm QLC của nhân dân để phát huy động
lực, thực hiện mục tiêu CNH, HĐH, làm cho dân giàu, nước mạnh, xã hội
công bằng, dân chủ, văn minh phải được đặt ra cho cả HTCT, phải tác động
hai chiều dưới lên, trên xuống, cả trong Đảng và trong nhân dân.
Thực tiễn cho thấy, muốn phát huy được QLC trực tiếp của dân ở cơ
sở, Đảng phải lãnh đạo, phải có quan điểm chính sách lớn để định hướng,
đồng thời phải xây dựng được thiết chế dân chủ ở cơ sở một cách cụ thể, phù
hợp với từng đối tượng dân cư. Đó là những quy định có giá trị pháp lý do
NN ban hành mang tính bắt buộc mọi người, mọi tổ chức nghiêm chỉnh thực
hiện. Do vậy, ngày 18/2/1998, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 30/CT-TW về xây
dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở nhằm "giữ vững và phát huy QLC của dân,
thu hút nhân dân tham gia quản lý NN, tham gia kiểm kê, kiểm soát NN, khắc
phục tình trạng suy thoái, quan liêu, mất dân chủ và nạn tham nhũng" [6, tr.
3]. Chỉ thị nhấn mạnh: khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy
QLC của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính

bằng các văn bản pháp luật của NN thể hiện sự quan tâm của Đảng, NN ta đối
với việc xây dựng thể chế về dân chủ ở cơ sở. Thực hiện phương châm "dân
biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" thể hiện bản chất NN là NN của dân, do
dân, vì dân.
QC thực hiện dân chủ ở cơ sở gồm các văn bản quy phạm pháp luật
qui định những biện pháp làm chủ trực tiếp của nhân dân ở cơ sở xã,
phường, cơ quan hành chính NN và đơn vị doanh nghiệp NN. Đó là những
điều nhân dân phải được biết, những việc nhân dân được bàn để NN quyết
định hoặc nhân dân được quyết định và những việc nhân dân được giám sát,
kiểm tra, nhằm phát huy QLC, sức sáng tạo của nhân dân.
QC thực hiện dân chủ ở xã là văn bản quy phạm pháp luật quy định
cụ thể những việc HĐND và UBND xã phải thông tin kịp thời và công khai để
dân biết; những việc dân bàn và quyết định trực tiếp; những việc dân tham
gia ý kiến trước khi cơ quan NN quyết định; những việc dân giám sát, kiểm
tra và các hình thức thực hiện QCDC ở xã nhằm phát huy QLC, sức sáng tạo


15

của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật chất và tinh thần to lớn của nhân
dân trong phát triển kinh tế - xã hội, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí, ổn
định chính trị, tăng cường đoàn kết, xây dựng Đảng bộ, CQ và các đoàn thể
ở xã trong sạch, vững mạnh; ngăn chặn và khắc phục tình trạng suy thoái,
quan liêu, tham nhũng của một số cán bộ, đảng viên và các tệ nạn xã hội, góp
phần thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh, theo định hướng XHCN. QC thực hiện dân chủ ở xã, vì vậy, thực
chất là một định chế pháp lý bảo đảm QLC của dân.
QC thực hiện dân chủ ở xã có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, khác với các QC thông thường, QC thực hiện dân chủ là
một văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể hóa và luật hóa phương châm "dân

quyền và lợi ích của nhân dân trong xã, bao gồm: a) Các nghị quyết của HĐND,
quyết định của UBND xã và của cấp trên liên quan đến ĐP; b) Các quy định của
pháp luật về thủ tục hành chính, giải quyết các công việc liên quan đến dân; c)
Những quy định của NN và CQĐP về đối tượng, mức thu các loại thuế, phí, lệ
phí và các nghĩa vụ khác đối với nhân dân theo quy định của pháp luật hiện
hành;
2. Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của xã;
3. Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai;
4. Dự toán và quyết toán ngân sách xã hàng năm;
5. Dự toán, quyết toán thu chi các quỹ, chương trình, dự án, các khoản
huy động nhân dân đóng góp xây dựng cơ sở hạ tầng, các công trình phúc lợi
công cộng của xã, thôn và kết quả thực hiện;
6. Các chương trình, dự án do NN, các tổ chức và cá nhân đầu tư, tài
trợ trực tiếp cho xã;
7. Chủ trương, kế hoạch vay vốn phát triển sản xuất, xóa đói, giảm nghèo;
8. Điều chỉnh địa giới hành chính xã và các đơn vị hành chính liên
quan đến xã;


18

9. Kết quả thanh tra, kiểm tra, giải quyết các vụ việc tiêu cực, tham
nhũng của cán bộ xã, thôn;
10. Công tác văn hóa, xã hội, phòng, chống tệ nạn xã hội, giữ gìn an
ninh, trật tự, an toàn xã hội của xã;
11. Sơ kết, tổng kết hoạt động của HĐND, UBND xã;
12. Phương án dồn điền, đổi thửa phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế,
phát triển nông nghiệp, kinh tế trang trại, hợp tác xã;
13. Bình xét các hộ nghèo được vay vốn phát triển sản xuất và xây
dựng nhà tình thương; thực hiện chính sách đối với gia đình có công với cách

1. Dự thảo nghị quyết của HĐND xã;
2. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và
hàng năm của xã, phương án chuyển đổi cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất và
phương án phát triển ngành nghề;
3. Dự thảo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai ở địa phương và việc
quản lý, sử dụng có hiệu quả quỹ đất công ích của xã;
4. Phương án quy hoạch khu dân cư; đề án định canh, định cư, vùng
kinh tế mới; kế hoạch, dự án huy động và sử dụng các khoản đóng góp của
nhân dân để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng do xã quản lý;
5. Dự thảo đề án phân vạch, điều chỉnh địa giới hành chính xã, đề án
chia tách, thành lập thôn;
6. Dự thảo kế hoạch triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia trên
địa bàn xã;
7. Chủ trương, phương án đền bù giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ
tầng cơ sở, tái định cư;
8. Giải quyết việc làm cho người lao động trên địa bàn xã;
9. Những công việc khác mà CQ xã thấy cần thiết.


20

Về dân giám sát, kiểm tra QC quy định dân giám sát, kiểm tra các loại
công việc từ hoạt động của HĐND, UBND đến các việc giải quyết khiếu nại,
tố cáo của công dân, kết quả quyết toán công trình do dân đóng góp, việc
quản lý sử dụng đất đai, thu chi các quỹ, việc thực hiện chính sách đối với
người có công với nước...Dân giám sát, kiểm tra tức là thực hiện quyền lực
của mình trong quá trình quản lý đất nước. Lênin đã từng nói: nếu nhà nước
không tiến hành kiểm kê, kiểm soát toàn dân đối với việc sản xuất và phân
phối các sản phẩm thì CQ của những người lao động, nền tự do của họ sẽ
không thể duy trì được. Những việc nhân dân ở xã giám sát, kiểm tra được

với UBMTTQ, các thành viên của MTTQ cùng cấp và Trưởng thôn cung cấp
các thông tin để nhân dân biết bằng các hình thức cụ thể tại Điều 6 QC; b)
Đối với những việc dân bàn và quyết định trực tiếp QC quy định các phương
thức cụ thể thực hiện những việc nhân dân quyết định trực tiếp tại Điều 9; c)
Đối với những việc nhân dân bàn, tham gia ý kiến, CQ xã quyết định QC quy
định phương thức thực hiện tại Điều 11; d) Đối với những việc nhân dân giám
sát, kiểm tra QC quy định phương thức thực hiện tại Điều 13 và quy định
trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với việc giám sát và
kiểm tra của nhân dân tại Điều 14.
QC dành hẳn một chương (chương VI) về việc xây dựng cộng đồng
dân cư thôn, làng, ấp, bản, khóm, tổ dân phố (gọi chung là thôn) quy định các
hình thức hoạt động tự quản của cộng động dân cư, việc tổ chức hội nghị
nhân dân thôn (Điều 16), nhiệm vụ và quyền hạn của Trưởng thôn (Điều 17),
việc xây dựng hương ước, quy ước về công việc thuộc nội bộ cộng đồng dân
cư (Điều 18), việc thành lập các tổ chức của thôn như: các tổ hòa giải, an
ninh, bảo vệ sản xuất, kiến thiết (Điều 19).
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Trong bầu trời không gì quí bằng
nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân
dân" [8, tr.125]. Lấy dân làm gốc là một tư tưởng lớn của Chủ tịch Hồ Chí


22

Minh đã được quán triệt trong QC. Việc thực hiện QC sẽ thúc đẩy việc phát
huy QLC của nhân dân, thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của nhân dân; nâng
cao nhận thức về quyền và nghĩa vụ của công dân; khơi dậy tiềm năng, trí
sáng tạo, sức mạnh vật chất và tinh thần của nhân dân để phát triển kinh tế xã hội, cải thiện đời sống cộng đồng; giữ vững kỷ cương phép nước, ngăn
chặn tiêu cực, nâng cao hiệu lực quản lý của bộ máy CQ; xây dựng niềm tin
và mối quan hệ chặt chẽ giữa dân với Đảng và CQ.
1.1.4. Vai trò của Quy chế thực hiện dân chủ cơ sở ở xã

kinh tế - xã hội và pháp luật chưa nghiêm, kỷ cương xã hội bị buông lỏng,
niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng bị giảm sút. QLC của nhân
dân bị vi phạm ở nhiều nơi trên nhiều lĩnh vực. Trong lĩnh vực quản lý kinh
tế, đất đai, thu chi ngân sách, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, huy động vốn
đóng góp của dân...có nhiều biểu hiện tiêu cực. Một bộ phận cán bộ đảng viên
thoái hóa, biến chất, lợi dụng chức quyền, lợi dụng những kẽ hở trong quản lý
của NN để tham ô, tham nhũng. ở nông thôn là tình trạng cán bộ cơ sở bất
chấp pháp luật, cấp bán đất trái thẩm quyền, chi tiêu tài chính sai mục đích và
lãng phí. Mâu thuẫn nội bộ ngày một tăng dẫn đến hiện tượng khiếu kiện tập
thể, gây ra không khí rất căng thẳng phức tạp. Trong khi nhân dân đấu tranh
chống tiêu cực, tham nhũng, đòi quyền tự do dân chủ, đòi đảm bảo công bằng
xã hội thì kết quả khiếu kiện lại chậm được giải quyết và giải quyết không
thỏa đáng làm cho xuất hiện các điểm nóng, như ở Thái Bình năm 1996 1997 có 208/285 xã dân tổ chức khiếu kiện tập thể. ở những điểm nóng đó, tổ
chức Đảng mất vai trò lãnh đạo, bộ máy CQ bị tê liệt, sản xuất bị đình trệ, các
nghĩa vụ đóng góp với NN không hoàn thành. Nội bộ nhân dân bị chia rẽ, mất
đoàn kết, tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội mất ổn định.
Đảng và NN ta đã nhận thấy những yếu kém của dân chủ ở cơ sở và
nhận thức được vai trò quyết định của việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong sự
ổn định chính trị và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Và, khi QCDC
được ban hành dưới hình thức là một văn bản có tính pháp lý thì hiệu lực của
nó sẽ cao hơn. Sự ra đời của QC là một bước đột phá quan trọng trong việc
hiện thực hóa bản chất dân chủ của NN ta. Nó đã cụ thể hóa QLC của nhân


24

dân ở cơ sở - nơi thực thi dân chủ một cách trực tiếp và rộng rãi nhất, nơi trực
tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính sách của Đảng và NN. QCDC ở cơ sở là
nội dung cơ bản nhất của dân chủ trực tiếp có ý nghĩa thiết thực và quan
trọng đối với toàn bộ nền dân chủ XHCN ở nước ta bởi đó là một phần của

người dân được bàn bạc thảo luận và quyết định trực tiếp hoặc tham khảo cho
sự quyết định của cấp CQ cơ sở, người dân đã từng bước học làm chủ, tập
làm chủ và dần dần biết làm chủ.
Vậy là, nhân dân đã không chỉ tồn tại với tư cách là một người công
dân thông thường mà còn với tư cách là người chủ thực sự về tư liệu sản xuất,
người chủ thực sự về chính trị và quyền lực chính trị. QLC của nhân dân biểu
hiện trong việc thực thi chính trị, quản lý NN, quản lý kinh tế - xã hội ở từng
cấp, từng ngành, từng ĐP và của mỗi cá nhân cụ thể. Người dân vừa là khách
thể vừa là chủ thể của quyền lực NN. Lợi ích của mỗi thành viên, của từng tổ
chức xã hội, giai cấp, tầng lớp đều nằm trong lợi ích của toàn xã hội. Chính
thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở tạo ra một cơ chế phát huy QLC cho mọi công
dân nhằm bảo đảm quyền lực chính trị của nhân dân lao động và góp phần làm
phong phú hơn hình thức thực hiện quyền lực chính trị của nhân dân lao động.
Rõ ràng không thể chỉ nâng cao chất lượng của dân chủ đại diện là đủ mà còn
phải thực hiện chế độ dân chủ trực tiếp một cách thiết thực và có hiệu quả
mới bảo đảm tốt cho nhân dân lao động làm chủ đích thực quyền lực của
mình.
Mặc dù cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp đều phản ánh nguyện
vọng, ý chí, quyền lực của nhân dân, là phương thức thể hiện dân chủ XHCN,
nhưng mỗi phương thức lại có những ưu, nhược điểm khác nhau. Dân chủ đại
diện dễ tổ chức thực hiện, dễ tập trung thống nhất, nhưng lại khó bao quát hết
thực tiễn đời sống cũng như ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân.
Dân chủ trực tiếp thì ngược lại, khó tổ chức một cách tập trung, khái quát
nhưng lại bao quát được mọi khía cạnh của thực tiễn cũng như ý chí, nguyện
vọng của các tầng lớp nhân dân. Do đó dân chủ trực tiếp có khả năng thể hiện
một cách khách quan ý chí nguyện vọng của nhân dân không qua một hình
thức trung gian nào, thể hiện một cách ưu việt nhất quyền lực của nhân dân




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status