BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN VĂN HIẾU
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC THỰC HIỆN
QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở HUYỆN KỲ ANH,
TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC CHÍNH TRỊ
2
NGHỆ AN - 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
TRẦN VĂN HIẾU
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG
CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN TRONG VIỆC THỰC HIỆN
QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ Ở HUYỆN KỲ ANH,
TỈNH HÀ TĨNH HIỆN NAY
Chuyên ngành: Chính trị học
Mã số: 60.31.02.01
TRANG PHỤ BÌA.................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN.....................................................................................................2
MỤC LỤC...........................................................................................................3
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN.............................5
A. MỞ ĐẦU........................................................................................................6
1. Tính cấp thiết của đề tài.......................................................................6
2. Mục đích............................................................................................11
3. Nhiệm vụ nghiên cứu.........................................................................11
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.....................................................11
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu........................................12
6. Ý nghĩa của luận văn.........................................................................12
7. Kết cấu của luận văn..........................................................................12
B. NỘI DUNG..................................................................................................13
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN
TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ..........................13
1.1. Tổ chức Công đoàn Việt Nam với việc thực hiện quy chế dân chủ
cơ sở...............................................................................................13
1.2. Tính tất yếu của việc nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức
Công đoàn trong việc thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở..............40
Chương 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN
TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
Ở HUYỆN KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH THỜI GIAN QUA............................45
2.1. Tổ chức công đoàn trên địa bàn huyện Kỳ Anh.............................45
2.2. Hoạt động công đoàn cơ sở trong việc thực hiện quy chế dân chủ
cơ sở ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh.............................................54
Chương 3
QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA
Hợp đồng lao động
3
BHLĐ
Bảo hộ lao động
4
TƯLĐTT
Thỏa ước lao động tập thể
5
Nxb
Nhà xuất bản
6
CT-XH
Chính trị xã hội
7
CNLĐ
Kinh tế- xã hội
13
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
14
CĐCS
Công đoàn cơ sở
15
UBND
Ủy ban Nhân dân
16
NLĐ
Người Lao động
17
NSDLĐ
mạnh; tạo tiền đề đẩy mạnh sự nghiệp phát triển toàn diện đất nước; tăng
cường mối quan hệ gắn bó giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân; thể hiện bản
chất ưu việt của chế độ mới. Nội dung cơ bản phát huy dân chủ XHCN là Đảng
thông qua Nhà nước lãnh đạo toàn xã hội phát triển theo đúng con đường
7
XHCN. Nhà nước là tổ chức quyền lực của Nhân dân, thể chế hóa quan điểm,
đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, tổ chức quản lý, điều hành xã
hội để hiện thực đường lối của Đảng và lợi ích của Nhân dân. Nhân dân có
quyền và trách nhiệm trực tiếp xây dựng, hoạch định và thi hành các chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Đồng thời, mọi chủ trương, chính
sách của Đảng, Nhà nước đều phải trực tiếp phản ánh lợi ích của đa số Nhân
dân lao động.
Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng tiếp tục khẳng
định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền
dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm dân chủ được thực hiện trong thực tế cuộc
sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực…”. Đảng ta coi đây vừa là mục tiêu,
động lực, vừa là con đường, giải pháp cơ bản để từng bước thực hiện mục tiêu
dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Đây là sự tiếp tục con
đường dân chủ theo Tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới.
Công đoàn Việt Nam là một thành viên của Hệ thống chính trị, theo
chức năng, nhiệm vụ của mình có nhiệm vụ thực hiện nội dung dân chủ và quy
chế dân chủ. Do vậy, để triển khai có hiệu quả việc thực hiện quy chế dân chủ
ở cơ sở tại nơi làm việc, CĐCS cần tập trung thực hiện tốt các nội dung trong
Nghị định 71/NĐ-CP/1998 ngày 18/2/1998 trước đây và Nghị định
04/2015/NĐ-CP ngày 09/1/2015 hiện nay về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
tại các cơ quan hành chính sự nghiệp và Nghị định 60/2013 của Chính phủ về
việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở tại nơi làm việc, tuyên truyền việc thực
đầu tư nước ngoài là vấn đề luôn được Đảng, Nhà nước và các cấp công đoàn
nghiên cứu (sách, luận án, luận văn, tạp chí …) bàn về đề tài này ở nhiều góc
độ, khía cạnh khác nhau và được chia thành nhiều nhóm như sau:
- Nhóm thứ nhất, những công trình nghiên cứu đã được in thành sách,
các bài viết trên tạp chí về công đoàn như: “Một số vấn đề về tổ chức và hoạt
động công đoàn khu vực kinh tế ngoài quốc doanh” của Ban Tổ chức Tổng
9
Liên đoàn, xuất bản năm 1997; đề tài “Tổ chức và hoạt động công đoàn trong
Công ty cổ phần” do Trường Đại học Công đoàn nghiên cứu, năm 2001; Nâng
cao hiệu quả hoạt động của công đoàn trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài” Dương Văn Sao, (2003); “Hoạt động công đoàn trong các doanh
nghiệp ngoài quốc doanh”, Trường Đại học Công đoàn Việt Nam tr.169, Nxb
Lao động, Hà Nội (2006); “Báo cáo kết quả khảo sát thực tế về quan hệ lao
động trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài”, Viện Công nhân và
Công đoàn Việt Nam, Hà Nội (2007); “Công đoàn với chức năng bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong cơ chế thị trường ở Việt
Nam”, Viện nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, (2008), Văn kiện
Đại hội Công đoàn Việt Nam khoá XI năm (2011).
Tuy vậy, các công trình, bài viết nói trên chỉ đi sâu nghiên cứu vai trò
của công đoàn trong doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài nói riêng, hoặc trong phạm vi hẹp hơn (giải quyết tranh chấp lao
động…), hoặc chỉ tập trung vào việc tìm kiếm giải pháp nâng cao hiệu quả
hoạt động của công đoàn nói chung, nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn
trong các doanh nghiệp mà chưa đề cập chuyên sâu đến vai trò của tổ chức
công đoàn trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở.
- Nhóm thứ hai, những công trình đã được nghiên cứu về thực hiện quy
chế dân chủ cơ sở như: Trương Quang Được (năm 2002) “Tiếp tục đẩy mạnh
việc xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở”, Tạp chí Cộng sản, số 12;
Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội (2007), Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn của Uỷ Ban Thường vụ Quốc hội số 34/2007/PL-UBTVQH11
ngày 20/4/2007. Pháp lệnh nêu rỏ những quy định chung, những nội dung công
khai để Nhân dân biết, những nội dung Nhân dân bàn về quy định, những nội
dung Nhân dân tham gia ý kiến trước khi cơ quan có thẩm quyền quyết định,
những nội dung Nhân dân giám sát, điều khoản thi hành trong việc thực hiện
quy chế dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
Nghị định số 60/2013/NĐ-CP ngày 19/6/2013 Quy định chi tiết khoản 3
11
điều 63 của Bộ luật Lao động về thực hiện quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm
việc. Chính phủ (11/5/1998), ban hành Nghị định 29/1998/NĐ-CP (nay là Nghị
định 79/2003/NĐ-CP), Nghị định 04/2015/NĐ-CP ngày 09/1/2015.
Các công trình, nhóm nghiên cứu, bài viết nói trên cung cấp những vấn
đề lý luận và thực tiễn về dân chủ, về thực hiện dân chủ ở cơ sở, cũng như tình
hình thực hiện quy chế dân chủ cơ sở ở địa phương. Tuy nhiên, chưa có công
trình, nhóm nghiên cứu, bài viết nào viết sâu, sát đề tài “Nâng cao hiệu quả
hoạt động của tổ chức công đoàn trong việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở
trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh hiện nay” (nghiên cứu thực tế ở
huyện Kỳ Anh) mang ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
2. Mục đích
Làm rõ cơ sở lý luận và thực trạng hoạt động công đoàn trong việc thực
hiện quy chế dân chủ cơ sở ở huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh, từ đó đề xuất các
giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức công đoàn trong việc thực
hiện quy chế dân chủ ở cơ sở trên địa bàn huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh hiện
nay.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Làm rõ cơ sở lý luận về công đoàn; vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ
của tổ chức công đoàn trong hệ thống chính trị và trong việc thực hiện quy chế
- Luận văn có thể dùng làm cơ sở khoa học và thực tiễn cho việc tham
khảo của các cấp ủy Đảng và LĐLĐ huyện Kỳ Anh trong việc chỉ đạo công
đoàn cơ sở tổ chức thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động công đoàn
góp phần thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở.
- Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo, nghiên cứu về công đoàn
thực hiện quy chế dân chủ.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
luận văn gồm 3 chương 6 tiết.
13
B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHỨC CÔNG ĐOÀN
TRONG VIỆC THỰC HIỆN QUY CHẾ DÂN CHỦ CƠ SỞ
1.1. Tổ chức Công đoàn Việt Nam với việc thực hiện quy chế dân
chủ cơ sở
1.1.1. Tổ chức Công đoàn Việt Nam trong hệ thống chính trị
1.1.1.1. Khái niệm công đoàn
Trên thế giới, hầu hết các quốc gia đều có tổ chức công đoàn. Công đoàn
là tổ chức của NLĐ, do NLĐ tự nguyện thành lập nhằm tập hợp sức mạnh, bảo
vệ quyền và lợi ích NLĐ.
Ở Việt Nam chỉ có một tổ chức công đoàn là Công đoàn Việt Nam được
thành lập năm 1929, thời kỳ đất nước ta đang trong quá trình đấu tranh giải
phóng dân tộc khỏi ách áp bức bóc lột, giành độc lập dân tộc cho Nhân dân, sự
ra đời của tổ chức công đoàn góp phần quan trọng trong sự nghiệp cách mạng
Việt Nam. Sự ra đời của tổ chức công đoàn đã làm cho các phong trào đấu
tranh của giai cấp công nhân mạnh hơn, có tổ chức hơn, các phong trào đấu
tranh không mang tính tự phát như trước đây, sau khi ra đời tổ chức Công đoàn
người lao động học tập nâng cao trình độ, kỹ năng nghề nghiệp, chấp hành
pháp luật, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” [27.tr.7-8].
1.1.1.2. Vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức công đoàn
* Vị trí của tổ chức Công đoàn Việt Nam
Vị trí của công đoàn là chỗ đứng của công đoàn trong hệ thống chính trị,
được xác định thông qua mối liên hệ giữa công đoàn với các tổ chức thành
viên trong hệ thống chính trị và trong xã hội.
Trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam và trong bối
cảnh xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá của đất nước theo cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vị trí của Công đoàn Việt Nam được xác
15
định từ Đại hội III và đã được phát triển ở Đại hội VI - Công đoàn Việt Nam,
cho đến nay: Công đoàn Việt Nam là thành viên của hệ thống chính trị làm cầu
nối giữa Đảng với quần chúng; là người cộng tác đắc lực, chỗ dựa của chính
quyền Nhà nước; là đại diện hợp pháp của giai cấp công nhân, NLĐ. Vị trí của
công đoàn được thể hiện thông qua mối quan hệ chặt chẽ giữa công đoàn với
các tổ chức trong hệ thống chính trị, với CNVCLĐ.
- Quan hệ với Đảng: Đảng lãnh đạo công đoàn bằng đường lối, nghị
quyết, phương hướng và thông qua các đảng viên của Đảng; đồng thời, Đảng
tôn trọng tính độc lập tương đối về mặt tổ chức của công đoàn. Công đoàn đặt
dưới sự lãnh đạo của Đảng, là chỗ dựa vững chắc của Đảng và là sợi dây nối
liền giữa Đảng với quần chúng. Hạt nhân nòng cốt của tổ chức công đoàn là
giai cấp công nhân, đây là lực lượng đảm nhiệm sứ mệnh lịch sử của phát triển
thời đại.
- Quan hệ với tổ chức CT-XH khác: Công đoàn là thành viên của Mặt
trận Tổ quốc Việt Nam, cùng với các tổ chức CT-XH, tổ chức xã hội, tổ chức
xã hội nghề nghiệp hợp tác, đoàn kết, bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cùng phối
hợp thực hiện nhiệm vụ chung dưới sự lãnh đạo của Đảng.
ương đến địa phương, ngành, cơ sở, thông qua lực lượng đoàn viên, NLĐ và
đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp đổi
mới của Đảng.
Khi đánh giá vai trò của tổ chức CĐCS trong các doanh nghiệp ngoài
Nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài phải dựa trên cơ sở vai
trò của Công đoàn Việt Nam, được thể hiện trên các lĩnh sau:
- Trong lĩnh vực kinh tế: Công đoàn vận động CNVCLĐ tham gia tích
cực trong việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế; hoàn thiện cơ cấu và các chính
sách kinh tế. Vận động CNVCLĐ nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản
phẩm, hiệu quả sản xuất kinh doanh, giữ vững thương hiệu sản phẩm trên thị
trường; tham gia thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhằm nâng cao hiệu quả
sản xuất kinh doanh và phát triển bền vững của nền kinh tế xã hội. Một mặt
17
công đoàn đẩy mạnh hoạt động tại các doanh nghiệp; mặt khác công đoàn hỗ
trợ các thành phần kinh tế phát triển đúng hướng theo sự quản lý của Nhà
nước.
- Trong lĩnh vực chính trị: Công đoàn là thành viên trong hệ thống chính
trị, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, công đoàn có vai trò xây
dựng và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, củng cố và giữ
vững bộ máy Nhà nước, tăng cường mối liên hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân
dân, phát huy quyền làm chủ của Nhân dân lao động, xây dựng Nhà nước thật
sự là Nhà nước của dân, do dân, vì dân, góp phần bảo đảm sự ổn định chính trị.
- Trong lĩnh vực xã hội: Công đoàn tích cực xây dựng giai cấp công
nhân vững mạnh, không ngừng giúp giai cấp công nhân nâng cao trình độ
chính trị, tính tổ chức kỷ luật, trình độ học vấn, tay nghề, khoa học công nghệ,
trở thành lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước; góp phần củng cố khối liên minh công nhân - nông dân - trí thức, trở
thành nòng cốt khối Đại đoàn kết toàn dân tộc và là cơ sở xã hội vững chắc,
hay cố tình, còn vi phạm lợi ích của NLĐ. Công đoàn với tư cách là người đại
diện cho NLĐ có trách nhiệm tham gia xây dựng quan hệ lao động hài hoà, ổn
định và tiến bộ trong doanh nghiệp, bảo vệ lợi ích hợp pháp, chính đáng của
NLĐ. Khi quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của NLĐ được bảo vệ, NLĐ sẽ
tự nguyện, nhiệt tình hăng hái tham gia hoạt động công đoàn, làm cho vai trò
công đoàn ngày càng có ảnh hưởng tích cực hơn đối với doanh nghiệp nói
riêng và trong đời sống xã hội nói chung.
* Chức năng của Công đoàn Việt Nam
Chức năng của công đoàn luôn gắn chặt với các mặt hoạt động của tổ
chức công đoàn và NLĐ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, tư tưởng,
văn hoá, xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của NLĐ. Do đó chức năng của
công đoàn mang tính khách quan, xuất phát từ đòi hỏi của thực tiễn và có thể
19
thay đổi cho phù hợp với các điều kiện KT-XH.
Dưới chế độ tư bản chủ nghĩa, công đoàn tập hợp CNLĐ đấu tranh
chống lại sự áp bức bóc lột của giai cấp tư sản để bảo vệ quyền và lợi ích của
đoàn viên CNLĐ. Công đoàn không thể không tập hợp, vận động, giáo dục họ
để tiến hành cuộc đấu tranh, vì vậy, giáo dục đã phát triển thành chức năng cơ
bản của tổ chức công đoàn.
Dưới chế độ XHCN, chức năng của công đoàn vừa có sự kế thừa phát
triển, đồng thời có sự thay đổi do sự thay đổi vị trí, vai trò của giai cấp công
nhân và tổ chức công đoàn trong xã hội. Ngày nay, trong điều kiện nền kinh tế
thị trường định hướng XHCN, công đoàn có chức năng đại diện và bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ. Có trách nhiệm tham gia với
Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống văn hoá,
tinh thần của NLĐ. Công đoàn đại diện và tổ chức NLĐ tham gia quản lý cơ
quan, đơn vị; tổ chức quản lý KT-XH, quản lý Nhà nước. Trong phạm vi chức
năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của Nhà nước,
tồn tại, không thể ngay một lúc xoá bỏ các tệ nạn quan liêu, hách dịch, cửa
quyền hết được, để giải quyết các vấn đề trên phải thực hiện có lộ trình, thời
gian để giải quyết các vấn đề. Vì vậy, công đoàn phải là người bảo vệ lợi ích
CNVCLĐ chống lại tệ nạn quan liêu, chống lại các biểu hiện tiêu cực. Đó là sự
bảo vệ đặc biệt khác hẳn với sự bảo vệ trong chủ nghĩa tư bản.
Công đoàn Việt Nam thực hiện chức năng bảo vệ quyền, lợi ích NLĐ
không bằng cách đấu tranh chống lại Nhà nước làm suy yếu Nhà nước, không
mang tính đối kháng giai cấp, không phải là đấu tranh giai cấp. Ngược lại công
đoàn vận động, tổ chức cho CNVCLĐ tham gia xây dựng Nhà nước trong sạch
vững mạnh. Đồng thời công đoàn bảo vệ chính lợi ích của Nhà nước - Nhà
nước của dân, do dân, vì dân. Đấu tranh chống lại các thói hư, tật xấu của một
số người, nhóm người lạc hậu bị tha hoá, đấu tranh chống lại những hành vi vi
phạm pháp luật Nhà nước, bảo vệ chính quyền Nhà nước, bảo vệ quyền lợi của
đoàn viên CNLĐ.
21
Thực tế hiện nay của nước ta, trong điều kiện hàng hoá nhiều thành
phần, các doanh nghiệp tư nhân, liên doanh, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài, CNLĐ làm việc trong sự quản lý của chủ doanh nghiệp (không phải
doanh nghiệp quốc doanh), đã xuất hiện quan hệ chủ thợ, tình trạng vi phạm
đến quyền, lợi ích CNLĐ có xu hướng phát triển. Vì vậy, chức năng đại diện,
chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng cho CNVCLĐ của công
đoàn có ý nghĩa hết sức quan trọng.
Để thực hiện chức năng bảo vệ lợi ích, công đoàn chủ động tham gia
cùng chính quyền tìm việc làm và tạo điều kiện làm việc cho CNLĐ; công
đoàn tham gia trong lĩnh vực tiền lương, tiền thưởng, nhà ở, trong việc ký kết
HĐLĐ của CNLĐ; đại diện CNLĐ thương lượng, ký kết TƯLĐTT; trong vấn
đề thương lượng, giải quyết tranh chấp lao động; tổ chức đình công theo Bộ
Luật Lao động. Quản lý và sử dụng quỹ phúc lợi tập thể và sự nghiệp phúc lợi
Công đoàn tuyên truyền, giáo dục cho CNVCLĐ vững tin vào đường lối
xây dựng chủ nghĩa xã hội, phát triển KT-XH mà Đảng ta đã lựa chọn. Giáo
dục truyền thống cách mạng của dân tộc, của địa phương.
Tuyên truyền chính sách, pháp luật của Nhà nước. Giáo dục nâng cao
đạo đức nghề nghiệp, kỷ luật lao động, tác phong công nghiệp, xây dựng lối
sống văn hoá lành mạnh, sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật góp
phần xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh. Với tinh thần thường xuyên
cảnh giác và đấu tranh chống lại những âm mưu thù địch. Chức năng của công
đoàn là một chính thể, một hệ thống đồng bộ, trong đó chức năng bảo vệ lợi
ích hết sức được coi trọng, mang ý nghĩa trung tâm, là mục tiêu hoạt động của
Công đoàn Việt Nam; chức năng tham gia quản lý mang ý nghĩa phương tiện;
chức năng giáo dục mang ý nghĩa tạo động lực tinh thần để đạt được mục tiêu.
Do vậy, Công đoàn Việt Nam đồng thời quan tâm tới cả 3 chức năng
không coi nhẹ chức năng này, xem nặng chức năng kia.
+ Vai trò của tổ chức công đoàn trong việc tham gia quản lý Nhà nước,
quản lý KT-XH.
23
Theo quy định của Điều 11 Luật Công đoàn (sửa đổi năm 2012) nêu rõ:
Công đoàn “Tham gia với cơ quan nhà nước xây dựng chính sách, pháp luật về
kinh tế - xã hội, lao động việc làm, tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế,
bảo hộ lao động và chính sách, pháp luật khác liên quan đến tổ chức công
đoàn, quyền, nghĩa vụ của người lao động” [27.tr.15].
Tham gia ý kiến bằng văn bản với cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp
liên quan đến quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của NLĐ;
Tham dự các cuộc họp, hội nghị, hội thảo liên quan đến quyền, lợi ích
hợp pháp, chính đáng của NLĐ do cơ quan, tổ chức và doanh nghiệp tổ chức;
Tham gia với tư cách là thành viên các ủy ban, hội đồng do các cơ quan,
tổ chức và doanh nghiệp thành lập để giải quyết những vấn đề liên quan đến